1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0

160 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2.0
Tác giả Ninh Thị Bạch Diệp
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hồng
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn sinh học
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về quá trình dạy học Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quá QTDH như: theo quan điểm cổ truyền QTDH là tập hợp những hành động liên tiếp thâm nhập vào nhau của GV và củ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thái Nguyên - năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Văn Hồng

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo Tỉnh Tuyên Quang, Ban giám hiệu cùng các thầy, cô giáo tổ sinh vật, tập thể học sinh các trường: THPT Sơn Dương

- Sơn Dương - Tuyên Quang; THPT Trung Sơn - Yên Sơn - Tuyên Quang đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Ninh Thị Bạch Diệp

Trang 4

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

: Học sinh : Information and Communication Technology ( Công nghệ thông tin và truyền thông)

: Mục tiêu dạy học : Nghiên cứu khoa học : Nội dung

: Nhiễm sắc thể : Phương pháp : Phương pháp dạy học : Quá trình dạy học : Sách giáo khoa : Trung học phổ thông : Thực nghiệm

: Trước thực nghiệm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận.……… 7

1.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học… ……….……….7

1.1.2 Cấu trúc quá trình dạy học 8

1.1.3 Bản chất quá trình dạy học ………10

1.1.4 Phương pháp dạy học ……… 21

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài …… ………… 33

1.2.1.Điều tra kết quả học tập kiến thức quá trình phần sinh học tế bào (Sinh học 10) của HS năm học 2008 – 2009 … ……… 33

1.2.2 Điều tra hiện trạng ứng dụng CNTT dạy học kiến thức quá trình phần sinh học tế bào (Sinh học 10) ở trường THPT 36

Chương 2 NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC KIẾN THỨC QUÁ TRÌNH CẤP ĐỘ TẾ BÀO (SINH HỌC 10) 2.1 Cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa Sinh học 10 38

2.2 Nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10) 46

2.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức phần Sinh học tế bào (Sinh học 10) 51

2.4.Thiết kế bài giảng kiến thức quá trình Sinh học tế bào (Sinh học 10) 73

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm……… 98

3.2 Nội dung thực nghiệm……… 98

3.2 Phương pháp thực nghiệm ……… 98

3.4 Kết quả thực nghiệm………102

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1 Kết luận……….………… ……… …… 113

2 Đề nghị……… ….113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Đổi mới phương dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết TW4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết TW2 khóa VIII (12-1996), và đựơc thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị 14 (4-1999)

Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: "phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS" [33]

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khóa VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã ghi rõ:"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục

và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào QTDH, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học" [14]

Bên cạnh đó Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2010 của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX Đảng cộng sản Việt Nam (đã bổ sung hoàn chỉnh theo kết luận của Hội nghị Trung ương) cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ hết sức quan trọng cho ngành giáo dục và đào tạo:" Tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, sử dụng CNTT tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó hơn với cuộc sống xã hội, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương" [15]

Trang 8

Và trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X tiếp tục đề cập và nhấn mạnh về định hướng đổi mới phương pháp giáo dục:

"Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung, phương pháp dạy và học thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [16]

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

và Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội, công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục

và đào tạo đã được chuẩn bị và triển khai trong cả nước bắt đầu từ năm học

2001-2002 ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở Đến năm học 2006-2007 chương trình bậc Trung học phổ thông bắt đầu được áp dụng [35]

Định hướng dạy học hiện nay là lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa khả năng tự học của HS dưới sự hướng dẫn của GV Hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương tiện hiện đại

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học bộ môn Sinh học ở trường phổ thông

Định hướng đổi mới PPDH đã diễn ra sôi nổi trong hầu hết các nhà trường hiện nay Tuy nhiên, trong thực tế dạy học các bộ môn nói chung và dạy học Sinh học nói riêng còn bộc lộ rất nhiều hạn chế Với PPDH truyền thống GV là trung tâm của quá trình dạy học, GV dùng phương pháp giảng giải là chủ yếu, hạn chế về sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc lĩnh hội kiến thức Dẫn đến việc tiếp thu kiến thức từ GV đến HS diễn ra một cách thụ động, ở HS chủ yếu là sự nhắc lại một cách máy móc kiến thức, chưa khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo ở HS trong quá trình học

Bên cạnh đó kiến thức quá trình sinh học là kiến thức quan trọng, trừu tượng gây khó khăn trong quá trình dạy và học của GV và HS, nếu như không có phương tiện dạy học hỗ trợ thì việc lĩnh hội kiến thức này của HS rất khó khăn, ảnh hưởng

Trang 9

đến kết quả học tập của học sinh điều đó được thể hiện qua kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của chúng tôi (xem mục 1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Chương 1.) Ứng dụng CNTT trong dạy học đã được Bộ Giáo dục và đào tạo nước ta coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm vì những lợi ích đặc biệt của nó trong đổi mới PPDH

Trong Chỉ thị số 29/2001/CT Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã đưa ra mục tiêu cụ thể :"Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo theo hướng

sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho ĐMPPDH ở tất cả các môn học" [6]

Vấn đề ứng dụng CNTT và triển khai nhiệm vụ tin học hóa trong nhà trường

đã được Bộ giáo dục và đào tạo nước ta xác định rõ là một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm của năm 2008 Trong báo cáo tổng kết năm học 2008 - 2009 về đổi mới phương pháp dạy học của Bộ giáo dục và đào tạo có ghi rõ:

1/ Trong năm học tới (2009 - 2010), các cuộc vận động và phong trào thi đua trong ngành sẽ tiếp tục được thực hiện để duy trì những thành quả đã đạt được trong năm qua về việc thực hiện "hai không" và "xây dựng trường học thân thiện và học sinh tích cực"

2/ Tăng cường các điều kiện và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết là nâng cao “đôi cánh” ứng dụng CNTT và ngoại ngữ

1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học kiến thức quá trình trong dạy học Sinh học

Kiến thức quá trình cũng là một loại kiến thức khái niệm, loại kiến thức này phản ánh một chuỗi các sự kiện hiện tượng liên tiếp xảy ra theo một trình tự chặt chẽ, có tính định hướng rõ rệt Vì vậy trong quá trình dạy học Sinh học việc cung cấp cho HS những hiểu biết về kiến thức quá trình là một nhiệm vụ quan trọng của GV

Việc dạy học để HS hiểu được bản chất cơ chế của quá trình sinh học là yêu cầu quan trọng đối với GV

Với những lí do trên, tôi đã chon đề tài: " Nâng cao hiệu quả dạy học kiến

thức quá trình ở cấp độ tế bào (Sinh học 10) bằng phần mềm LectureMaker 2.0"

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng dạy học kiến thức quá trình sinh học

ở cấp độ tế bào

3 Đối tượng nghiên cứu

Dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào

4 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học sinh học lớp 10 ở trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình

5.2 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 10, xác định kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào trong chương trình Sinh học 10

5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào (Sinh học 10)

5.4 Thiết kế giáo án điện tử đa phương tiện dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào (Sinh học 10)

5.5 Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minh tính khả thi của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu [50]

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu của Đảng, Nhà nước, các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, SGV Sinh học 10 là cơ sở cho việc xây dựng biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp

độ tế bào

6.2 Phương pháp điều tra

Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra về tình hình dạy và học kiến thức quá trình sinh học

Trang 11

6.3 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các chuyên gia trong nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả của giả thuyết khoa học đề tài luận văn

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Các số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng toán học thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel

7 Giả thuyết khoa học

Kết quả học tập kiến thức quá trình sinh học phần Sinh học tế bào của học sinh lớp 10 sẽ được nâng cao nếu như sử dụng hợp lý giáo án điện tử đa phương tiện trong dạy học

8 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ đề cập tới vấn đề dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào thuộc nội dung sách giáo khoa Sinh học 10 (cơ bản)

Địa bàn thực nghiệm sư phạm: một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

9 Những đóng góp mới của đề tài

9.1 Đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào phần Sinh học tế bào với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

9.2 Xây dựng 4 giáo án dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào (Sinh học 10) với sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông

Trang 12

10 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình sinh học ở cấp độ tế bào (Sinh học 10)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và đề nghị

\

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quá QTDH như: theo quan điểm

cổ truyền QTDH là tập hợp những hành động liên tiếp thâm nhập vào nhau của GV

và của HS dưới sự hướng dẫn của GV, nhằm làm cho HS tự giác nắm vững hệ thống những cơ sở khoa học, và trong quá trình đó, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan Như vậy QTDH được hiểu là tập hợp những hành động của thầy và trò dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của thầy nhằm giúp HS phát triển được nhân cách và nhờ đó mà đạt tới mục đích dạy học [23], [25]

Theo quan niệm hiện nay, QTDH là một quá trình tương tác (hợp tác) giữa thầy và trò, trong đó thầy chỉ đạo thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của HS, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học [23], [25], [38]

QTDH là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, quá trình này là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó: Vai trò của người dạy là định hướng, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến người học một cách hợp lý, khoa học Còn người học tiếp thu một cách có ý thức độc lập và sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành nhân cách Như vậy, người học là chủ thể sáng tạo của việc học, của việc hình thành nhân cách bản thân

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống thì vai trò chủ đạo của GV (thể hiện qua việc định hướng, tổ chức, điều khiển các hoạt động và trực tiếp khi hoạt động trên lớp), luôn luôn có ý nghĩa đặc biệt đối với việc bảo đảm chất lượng của HS trong học tập

Trang 14

Vai trò chủ động, tích cực, năng động của HS trong quá trình học tập có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội tri thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân với ý nghĩa là chủ thể sáng tạo không thể thay thế

Như vậy, việc giảng dạy của GV và việc học tập của HS là hai mặt của một quá trình vừa thống nhất vừa bổ sung cho nhau

Hay theo từ điển bách khoa Việt Nam thì QTDH là hoạt động chung, thống nhất của thầy và trò, trong đó dưới tác động chủ đạo của thầy, trò tích cực, độc lập

hoạt động nhằm lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ Mục đích và nhiệm

vụ dạy học, nội dung dạy học, PPDH và phương tiện dạy học, thầy, trò, kết quả dạy học - các nhân tố này tồn tại, phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau cũng như với các môi trường xã hội - chính trị và cách mạng khoa học - công nghệ QTDH diễn ra theo các khâu: a) Kích thích thái độ tích cực của HS; b) Tổ chức, điều khiển HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ; c) Củng cố; d) Rèn luyện; đ) Kiểm tra, đánh giá; e) Phân tích kết quả Các khâu này liên quan mật thiết, xen kẽ và thâm nhập vào nhau [36], [52]

1.1.2 Cấu trúc của quá trình dạy học [46], [17]

Hình 1.1 Cấu trúc, chức năng tác động của các yếu tố lên quá trình dạy học

Khái niệm khoa học

Truyền đạt

Điều khiển

Lĩnh hội

Tự điều khiển

Trang 15

- Hệ thống khái niệm khoa học: Đây là nội dung dạy học, là đối tượng của sự lĩnh hội bởi HS, quy định lôgic của quá trình tổ chức hoạt động nhận thức vì PPDH

là sự vận động của nội dung

- Hoạt động dạy: Gồm hai chức năng là truyền đạt và điều khiển hoạt động học, hai chức năng này luôn tương tác và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát

từ lôgic khoa học của khái niệm và lôgic sư phạm của tâm lý học GV phải điều khiển trên chính con đường của khái niệm đó, tức là phải hoàn cảnh hóa lại, cá nhân hóa và thời gian hóa lại để nó gần giống quá trình tìm ra nó để việc lĩnh hội khái niệm đó ở HS được thuận lợi

- Hoạt động học: Là yếu tố trung tâm quy định cấu trúc lôgic của QTDH vì hoạt động học vừa là đối tượng, vừa là mục đích, vừa là động lực của quá trình đó Hoạt động học đảm nhiệm hoạt động mà thầy đã ủy thác, tức là lĩnh hội theo quy luật riêng từ mặt phẳng nhận thức của chính mình Huy động khả năng trí lực và điều khiển hay là tự thể thức hóa kiến thức

- Hoạt động học và môi trường: Môi trường là hệ thống đối mặt với người học, tiếp cận với nó và tiến lên hòa nhập vào đó Khi HS làm việc trong môi trường thì

có hai trường hợp xảy ra: Thứ nhất là HS áp dụng kiến thức có sẵn để giải quyết nhiệm vụ học tập, cụ thể đó là sự đồng hóa Thứ hai là HS nhận thức tạo nên sự điều chỉnh kiến thức, đó là sự điều tiết Từ hai trường hợp trên, hoạt động học tạo ra

sự thích nghi, như vậy học tập là sự thích nghi, chủ thể học tập bằng cách tự thích nghi với môi trường sinh ra mâu thuẫn, sinh ra sự mất cân bằng HS từ cái đã có với điều kiện mới là mất cân bằng tự điều tiết tạo ra sự cân bằng tương đối – đó là giả thuyết thứ nhất của học Giả thuyết thứ hai là, nếu môi trường không có dụng ý sư phạm thì không đủ điều kiện truyền thụ cho chủ thể lĩnh hội Giả thuyết thứ ba là, những kiến thức mới được hình thành và được đưa vào hệ thống có khi chống lại những kiến thức cũ nguyên thủy, định kiến

Như vậy, QTDH là một hệ toàn vẹn với các thành tố của nó luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên

Trang 16

sự thống nhất biện chứng: giữa dạy với học, giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy và giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

1.1.3 Bản chất của quá trình dạy học

1.1.3.1 Một số quan niệm về bản chất của quá trình dạy học

Cho đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất QTDH như:

* Theo thuyết hệ thống

Chúng ta coi QTDH với tư cách như một hệ thống, gồm có nhiều thành tố, trong đó GV và hoạt động dạy, HS và hoạt động học là những thành tố cơ bản nhất Không có hai thành tố đó, đặc biệt là không có HS và hoạt động học thì không thể

có QTDH Trong mối quan hệ dạy - học trong QTDH, GV đóng vai trò chủ đạo với

tư cách là chủ thể tác động sư phạm, HS không chỉ là đối tượng chịu sự tác động sư phạm đó mà còn là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học tập Chỉ khi nào thực sự là chủ thể nhận thức thì HS mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả

sự tác động sư phạm Vai trò chủ thể nhận thức đòi hỏi HS phải tự giác, tích cực, độc lập trong hoạt động học tập của mình

* Theo thuyết điều khiển học [54]

Chúng ta có thể coi QTDH là một hệ điều chỉnh Trong hệ đó GV là bộ phận điều chỉnh, HS là bộ phận bị điều chỉnh nhưng đồng thời tự điều chỉnh (xem hình 1.2) Sự điều chỉnh và sự tự điều chỉnh dựa trên nguyên lý nền tảng của điều khiển học, đó là liên hệ ngược, là sự thu nhận thông tin về mức độ phù hợp của hành động thực hiện so với hành động quy định Có hai loại liên hệ ngược: liên hệ ngoài từ HS đến GV chủ yếu giúp cho sự điều chỉnh của GV và liên hệ trong ở bản thân HS chủ yếu giúp cho sự điều chỉnh của HS Các mối liên hệ ngược trong được tạo ra không chỉ thông qua việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập do GV tiến hành mà còn thông qua sự tự kiểm tra, tự đánh giá của chính bản thân HS Sự điều chỉnh, sự chỉ đạo của GV phải làm sao cho sự tự kiểm tra, tự đánh giá đó hình thành và ngày càng phát triển ở HS để họ tự điều chỉnh và học tập một cách tự giác, tích cực và độc lập, tức là làm cho học tập trở thành một hệ kín điều chỉnh với tính chất là một hệ thứ cấp trong hệ dạy học, ở đó HS vừa là khách thể vừa là chủ thể của QTDH Vì vậy,

Trang 17

QTDH dưới góc độ này là quá trình phát triển biện chứng, trong đó có sự thống nhất của sự điều chỉnh (dạy), sự được điều chỉnh và sự tự điều chỉnh (học)

Hình 1.2 Điều chỉnh trong dạy học

* Theo thuyết thông tin

QTDH bao gồm hai bộ phận là: bộ phận xử lí và truyền thông tin (GV) và bộ phận thu nhận, xử lí, lưu trữ và vận dụng thông tin (HS) Trong quá trình đó, vấn đề rất cơ bản là làm sao khử được những thông tin, tín hiệu nhiễu khác nhau để đảm bảo cho việc truyền và nhận thông tin được thông suốt, đạt hiệu suất và hiệu quả cao Theo tư tưởng công nghệ, đã và đang được vận dụng ngày càng sâu rộng vào lĩnh vực giáo dục Theo đó, QTDH được coi là một quá trình công nghệ đặc biệt

* Theo quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm [53]

Trong những năm gần đây được khá nhiều tài liệu giáo dục học, lý luận dạy học đề cập đến, được coi là kiểu dạy học đối ngược lại với dạy học lấy GV làm trung tâm - kiểu (lối) dạy học cũ hay kiểu (lối) dạy học truyền thống hoặc cổ truyền

MTDH

Mạch chỉnh: ND,

PP, Phương tiện Đo: Kiểm tra

Đối tượng chấp hành: HS

Đối tượng điều chỉnh: GV Chiến lược dạy học

Điều khiển

Phản xạ của người học Giá trị thật

Thông tin nhiễu

Trang 18

Hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận, bàn cãi về vấn đề này Quan điểm này đã có mầm mống từ thời cổ đại nhưng mãi cho đến đầu thế kỉ thứ XX mới được phát triển mạnh mẽ Lúc sơ khai, nó là một khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh, nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của HS Nhưng về sau, nó được dựa vào chủ nghĩa hành

vi, chủ nghĩa hiện sinh làm cho từ một ý tưởng nhân văn tiến bộ đã trở thành một lý thuyết cực đoan, máy móc, biệt lập với những thành tố khác không kém phần quan trọng của QTDH

Ở nước ta các nhà sư phạm cũng rất chú trọng đến HS, coi họ là chủ thể sáng tạo, kêu gọi phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, sáng tạo của bản thân HS, “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, đó thực chất cũng là dạy học lấy HS làm trung tâm

Vậy bản chất của quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm là gì?

Về phương diện vĩ mô, bản chất đó thể hiện ở các nội dung dưới đây:

- Sản phẩm của nhà trường và cũng là của hệ thống giáo dục - đào tạo phải đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội

- Nhà trường và hệ thống giáo dục - đào tạo phải chú ý đầy đủ đến lợi ích của HS, nghĩa là trong QTDH giáo dục phải quan tâm tới nhu cầu, các đặc điểm sinh lí, tâm lí, trình độ và các điều kiện kinh tế - xã hội của HS

Về phương diện vi mô, bản chất đó thể hiện ở các nội dung dưới đây:

- Việc dạy học phải xuất phát từ HS, từ nhu cầu, đặc điểm và điều kiện của

HS, chú ý tới độ khác nhau về sự trưởng thành của HS, tuổi trong lớp để có những giải pháp tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh theo hướng cá nhân hóa

- Phải để cho HS hoạt động cả về thể chất lẫn tinh thần một cách tự giác, tích cực

- Phải chú ý đến cấu trúc tư duy của từng HS, không gò cách suy nghĩ của

HS theo cách suy nghĩ đã định hình trước của GV, phải tổ chức QTDH theo hướng từng bước cá nhân hóa, cá thể hóa việc học tập của HS

- Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để HS thường xuyên tự kiểm tra,

tự đánh giá việc học tập của mình nhằm không ngừng cải tiến phương pháp học

Trang 19

tập, hình thành thói quen và phương pháp tự học, tự rèn luyện, tự giải quyết các vấn

đề trong lý luận và thực tiễn

Bảng dưới đây chỉ rõ sự khác nhau giữa hai quan điểm này:

Bảng 1.1 So sánh dạy học lấy học sinh làm trung tâm và giáo viên làm trung tâm

Tiêu

chí so

sánh

Dạy học lấy giáo viên làm

trung tâm Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

- Quan tâm trước hết đến việc

thực hiện nhiệm vụ của GV

- Chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống, nghề nghiệp

- Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, lợi ích

và khả năng của HS

Về nội

dung

- Chương trình được thiết kế

chủ yếu theo logic nội dung dạy

học

- Giáo án được soạn trước

theo tuyến tính chung cho mọi

HS

- Chú trọng hệ thống kiến thức

lý thuyết, sự phát triển các khái

niệm

- Chương trình hướng vào sự chuẩn

bị phục vụ thiết thực cho cuộc sống nghề nghiệp

- Giáo án có nhiều phương án theo kiểu phân nhánh linh hoạt, có thể điều chỉnh

- Chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề cuộc sống nghề nghiệp

Về

phương

pháp

- Chủ yếu là thuyết trình, giảng

giải, tập trung vào bài giảng

Trang 20

học tập - Sắp xếp chỗ ngồi cố định

- Dùng phương tiện và phương

tiện dạy học ở mức tối thiếu

- Chỗ ngồi linh hoạt

- Sử dụng thường xuyên phương tiện

và phương tiện dạy học

Trong quá trình chuyển dần từ kiểu dạy học truyền thống “lấy GV làm trung tâm” sang kiểu dạy học mới “lấy HS làm trung tâm” có sự thay đổi căn bản về mục tiêu, về vai trò của GV và HS

Mục tiêu: Lặp lại → phát hiện lại → sáng tạo lại → sáng tạo mới

Vai trò của GV: nắm vững tin tức có uy quyền → gợi ý, động viên → cố vấn, trọng tài → mờ nhạt

Vai trò của HS: Mờ nhạt được hướng dẫn → được khích lệ → được giải phóng Tuy nhiên, cần chú ý rằng trong dạy học lấy HS làm trung tâm, vai trò tích cực chủ động, độc lập sáng tạo của HS được phát huy nhưng vai trò của GV không hề bị

hạ thấp GV phải thực sự có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, sáng tạo

và nhạy cảm mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, trợ giúp, hướng dẫn, cố vấn, trọng tài trong QTDH được Thực tiễn dạy học cũng chỉ rõ rằng: chương trình, sách giáo khoa, điều kiện học tập tốt đến đâu mà người thầy non kém thì không thể có kết quả dạy học tốt được

1.1.3.2 Bản chất quá trình dạy học

Quá trình dạy học về bản chất gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau là: Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS [1], [5], [37]

Trang 21

* Khái niệm Dạy - Học

Theo các quan điểm cổ điển coi dạy học là thầy truyền đạt cho trò vốn sống và kinh nghiệm của mình hoặc là sự truyền đạt kiến thức của thầy, trò tiếp nhận kiến thức và từ đó tự biến thành tri thức của mình, hình thành kĩ năng và thái độ Và tiến

bộ hơn một bước nữa là việc coi dạy học là hình thức tổ chức hoạt động nhận thức

và giáo dục, trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, trò tiếp nhận kiến thức hình thành kĩ năng và thái độ Vì vậy, bản chất chung của việc dạy học là nhấn mạnh vai trò của người thầy (hoạt động dạy), còn việc học chưa được quan tâm Quan niệm này mắc phải một số sai lầm như: Coi học trò là người học, chính vì vậy người học chỉ cần và mong sao học được những cái gì có thể có ở nguời thầy, họ coi người thầy là một vị thánh, họ tin tưởng tuyệt đối vào người thầy Sai lầm tiếp theo của quan niệm này là ở chỗ họ coi học tập là một hoạt động đơn điệu và thụ động Chính vì thế, sau khi truyền đạt được đầy đủ kiến thức trong sách và những kiến thức của bản thân thầy là thầy giáo yên tâm học trò đã chiếm lĩnh được khái niệm, học trò đã in sao được mẫu của mình trong tâm trí họ

Do vậy, người thầy không phải suy nghĩ gì về việc cải tiến phương pháp dạy của mình, người thầy ra sức nhồi nhét và ra sức rèn học trò của mình theo khuân mẫu của thầy Chính vì quan niệm sai lầm này đã kìm hãm sự phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động của trò

Còn theo các quan điểm hiện đại coi dạy học là quá trình hoạt động của thầy

và trò, trong đó thầy đóng vai trò tổ chức, trò hoạt động tích cực để chiếm lĩnh khái niệm (nội dung bài học) Theo cách hiểu này thì dạy học bao gồm hai hoạt động là: hoạt động dạy - tổ chức và hoạt động học - thi công Lúc này, người học trò mới trở thành người đi học thực thụ, họ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình nhận thức Còn thấy giáo là tác nhân tham gia vào tổ chức quá trình hoạt động nhận thức Mối quan hệ này được thể hiện bằng hình vẽ sau:

Trang 22

Hình 1.3 Quá trình dạy học theo hướng hoạt động hoá người học [3]

(Nguồn: Dictionnare actuel d I'education R Le'gendre Gre'irin Paris Munteal 1993)

Theo mô hình SAMO, trong đó: S - Subject: chủ thể; A - Agent: tác nhân; O -

Object: đối tượng; M - Medium: môi trường

* Bản chất của hoạt động dạy

Hoạt động dạy đó là toàn bộ hoạt động của GV nhằm làm cho HS nắm vững kiến thức, kỹ năng; trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và năng lực hành động ở HS cũng như hình thành nhân cách ở họ Hay nói cách khác, dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình HS chiếm lĩnh các khái niệm khoa học và bằng cách này thì hình thành và phát triển nhân cách ở HS Như vậy, hoạt động dạy của GV không chỉ là hoạt động truyền thụ kiến thức mà là dạy cách học, dạy cách thu thập thông tin, xử lý thông tin và vận dụng những thông tin đó vào giải quyết những tình huống mới của thực tiễn học tập và cuộc sống

Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS luôn diễn ra trong quá trình tương hỗ: thầy thiết kế - trò thi công GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhằm khuyến kích khả năng tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành các kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình và hình thành nhân cách cho HS Tóm lại hoạt động dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau đó là quá trình truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học để xử lý thông tin đó

Trang 23

* Bản chất của hoạt động học của HS

Theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, bản chất của việc học là sự tiếp thu, xử lý thông tin bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn tiềm năng sinh học và vốn kinh nghiệm đạt được của từng cá nhân người học, từ đó phát triển trí khôn của mình Học tập bao gồm: học và tự học

Theo tâm lý học, hoạt động học là một hoạt động nhận thức được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hướng tới làm thay đổi chính bản thân người học, nội dung của tri thức không mới đối với nhân loại, nhưng khi chủ thể hoạt động chiếm lĩnh được, thì nhờ sự chiếm lĩnh này tâm lý của chủ thể

đã thay đổi và phát triển Sự tiếp thu này có tính tự giác cao sẽ hình thành được phương pháp tự học cho HS, nó có vai trò đặc biệt quan trọng giúp cho HS biết tự học suốt đời

Như vậy, để hiểu về bản chất của hoạt động học tập (học và tự học) chúng ta

có thể hình dung qua hình vẽ sau:

Hình 1.4 Bản chất quá trình học và tự học

Như vậy, so với cách hiểu cũ học tập đã có sự khác biệt: học, cốt lõi là tự học,

là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình, bằng cách thu nhận thông tin, xử lý thông tin lấy

từ hoạt động dạy của GV Học trước hết phải hiểu, dựa vào hiểu để hành

Tri thức, kỹ năng, thái độ

Trí khôn (trí thông minh) Nhân cách

Thông tin

đầu vào

Kết quả đầu ra

Tác động

tích cực

Trang 24

Về mặt cấu trúc chức năng, học có hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội (tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh kiến thức khoa học của bản thân (tự giác, tích cực, tự lực) Dựa trên lôgic bài giảng của thầy truyền đạt, HS tiếp thu điều thầy giảng vừa tự điều khiển sự học tập của bản thân (tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra - đánh giá) Nội dung chính của việc học chính là các khái niệm khoa học

* Những đặc điểm cơ bản của QTDH hiện nay

Trong thời đại ngày nay có nhiều biến đổi sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, giáo dục và đào tạo nói riêng Thực tiễn đó dẫn tới một số đặc điểm cơ bản sau đây của QTDH:

- Hoạt động học tập của HS được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng hiện đại hoá

Một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão với sự bùng nổ thông tin đi đôi với sự lão hóa tri thức trong mọi lĩnh vực khoa học Điều đó đòi hỏi phải không ngừng đổi mới nội dung dạy học theo hướng hiện đại hóa nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cập nhật thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế tri thức Tạo ra một con người mới năng động và bắt kịp thời đại

Thực tiễn QTDH đang tồn tại một mâu thuẫn khá phổ biến giữa một bên là nội dung dạy học không ngừng đổi mới theo hướng hiện đại hóa, nội dung thì quá tải - ngày càng nhiều và khó hơn, mà thời gian học tập thì có hạn, phương pháp, phương tiện dạy học lại lạc hậu, lỗi thời…Để giải quyết mâu thuẫn và khắc phục tình trạng quá tải về nội dung dạy học như hiện nay, không thể tăng thời gian, tăng cường độ học tập bằng cách nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho HS mà cần phải cải tiến, đổi mới, cần tiến hành “cuộc cách mạng” về PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS Bản chất của vấn đề tích cực hóa là phải “thiết kế và thi công” các bài giảng theo các phương pháp tích cực với hệ thống những tình huống nhằm khơi dậy, phát huy cao độ năng lục tìm tòi, độc lập, sáng tạo của người học thông qua việc phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đề Vì vậy, dạy học phải

Trang 25

hướng vào hoạt động tự nhận thức của HS còn vị thế của GV sẽ là người hỗ trợ, người hướng dẫn, là cố vấn và trọng tài khoa học như T Makiguchi, nhà giáo dục

Nhật Bản đã nhấn mạnh trong tác phẩm Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo: “…nhà

giáo, trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho HS tự mình học tập tích cực Họ nên nhường quyền cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống, thay vào đó, họ phải đóng góp vai trò người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản thân người học…”

- Trong quá trình dạy học hiện nay, HS có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển cao hơn so với trẻ cùng độ tuổi

Trong cuộc cách mạng xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật hiện nay, được sống trong môi trường tri thức ngày càng phong phú, HS thường xuyên tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin rất đa dạng từ các phương tiện truyền thông khác nhau và luôn luôn chịu sự tác động từ nhiều phía; gia đình, nhà trường,

xã hội…Trong cuộc sống, học tập và tham gia tích cực các loại hình hoạt động và giao lưu, bản thân các em đã tích lũy ngày càng nhiều vốn sống và kinh nghiệm hoạt động cho bản thân, và sự hiểu biết, năng lực tư duy của các em ngày càng phát triển Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học và giáo dục học cũng đã khẳng định điều đó; nhìn chung, so với trẻ có cùng độ tuổi ở các thế hệ trước, HS ngày nay

có năng lực nhận thức và vốn sống phát triển hơn, thông minh, năng động, khôn hơn…Chính vì vậy, hoạt động dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, phải tạo nên sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức, phải động viên, khuyến khích tính tích cực tham gia các lĩnh vực hoạt động và cần quan tâm khai thác vốn sống, phát huy tiềm năng trí tuệ của các em

- Trong quá trình học tập, HS có xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kĩ năng do chương trình đã quy định

Xu hướng này là đặc điểm khá phổ biến trong QTDH hiện nay: nhìn chung, số đông HS không thỏa mãn với nội dung những gì các em được học chỉ trong chương trình, trong sách giáo khoa, thậm chí cả trong bài giảng của GV Các em luôn nhạy cảm với những cái mới, muốn được học thêm, tự tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn

Trang 26

đề bằng nhiều con đường, cách thức, phương án khác nhau, muốn được học thêm những môn tự chọn, tùy chọn…

Xu hướng này xuất hiện do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới từng HS trong cuộc sống, trong học tập, lao động và sinh hoạt ở nhà trường, gia đình và xã hội Một mặt, là do năng lực nhận thức của các em ngày càng nâng cao, nhu cầu nhận thức ngày càng phát triển nên các em không thỏa mãn nội dung học tập do chương trình quy định Mặt khác, do điều kiện khách quan tác động

từ môi trường xã hội, từ xu hướng chọn nghề trong tương lai, từ nguyện vọng chuẩn

bị hành trang để lập thân, lập nghiệp…

Để thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của các em, các cấp quản

lý, GV cần tạo điều kiện, động viên, khuyến khích các em bằng nhiều hình thức như: đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy, bổ sung kịp thời cái mới vào bài giảng; tăng cường các môn học tự chọn, các báo cáo ngoại khóa, các chuyên đề; tổ chức các câu lạc bộ khoa học, các buổi tham quan, gặp gỡ những người đương thời, nổi tiếng…

- QTDH hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật dạy học ngày càng hiện đại

Cùng với sự đổi mới nội dung và PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS, các nhà trường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ các phương tiện dạy học, đặc biệt là một số phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại như: các phương tiện nghe nhìn, máy vi tính, máy chiếu, mang Internet…Nhờ vậy mà gây hứng thú học tập cho HS, giúp họ lĩnh hội nhanh, dễ dàng hơn những tri thức và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời, các phương tiện dạy học mới còn giúp HS thu lượm nhanh, nhiều những thông tin mới, giảm cường

độ lao động của GV về mặt truyền đạt thông tin trong những bài diễn giảng, thuyết trình để tập trung thời gian suy nghĩ, tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học của HS Việc tăng cường trang bị các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện

kĩ thuật hiện đại không hề hạ thấp hoặc thay thế vai trò và trình độ nghiệp vụ của

GV Ngược lại, các phương tiện càng hiện đại, càng đòi hỏi ở người GV có trình độ

Trang 27

chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm ngày càng cao hơn Thực tiễn dạy học ở một số trường cho thấy rằng, với việc trang bị các phương tiện dạy học hiện đại nhưng trình độ nghiệp vụ của GV thấp kém, không biết sử dụng, phát huy những tác dụng của phương tiện hiện đại thì hiệu quả dạy học chẳng những không tăng mà còn giảm nghiêm trọng

Từ sự phân tích cơ bản trên, chúng ta nhận thấy, hoạt động học tập của HS được tiến hành trong những điều kiện sư phạm nhất định có sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn cụ thể của GV thông quan việc lựa chọn nội dung, việc vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học Quá trình nhận thức của HS trong học tập không phải diễn ra theo đường vòng, những thử nghiệm sai lầm, những thất bại tất yếu từng xảy ra như trong nhận thức khoa học… Vậy QTDH, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của HS do GV tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông Nói cách khác dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học

1.1.4 Phương pháp dạy học

1.1.4.1 Khái niệm và bản chất của phương pháp dạy học [12]

Để hiểu về phương pháp dạy học ta cần hiểu về bản chất của phương pháp nhận thức khoa học, vì nó là cơ sở xuất phát điểm của phương pháp dạy học

Theo tiếng Hy Lạp cổ “methogdos” có nghĩa là phương pháp - là “ theo con đường” để đạt tới mục đích nào đó

Sự vận động của các sự vật hiện tượng đều tuân theo những quy luật xác định,

vì vậy có thể nói phương pháp là việc hiểu được các quy luật và thực hiện theo các quy luật đó Như vậy, phương pháp là cách thức, là con đường, giúp con người đạt được những mục tiêu nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn

Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học, mỗi định nghĩa phản ánh một vài khía cạnh nhất định của sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bản chất PPDH ở một thời kì nhất định Ví dụ như:

Trang 28

- Iu K Babanxki cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác

giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

trong quá trình dạy học” Ở đây tác giả chỉ chú ý đến mặt ngoài của PPDH - phương tiện giao tiếp

- I Ia Lecne: “Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có

mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn” Còn nếu theo cách định

nghĩa này tác giả đã phán ánh được mặt trong của PPDH

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc

của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm

thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập” Còn theo Nguyễn Ngọc Quang cách định nghĩa này là sự hợp nhất của hai cách định nghĩa đã nêu ở trên và đã đề cập đến vai trò chỉ đạo của GV trong DH

- Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành: “Phương pháp dạy

học là con đường tổ chức quá trình nhận thức của thầy đối với trò, là cách thức

hoạt động của thầy và dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện các nhiệm vụ của

quá trình dạy học Theo cách định nghĩa này giống với cách định nghĩa của Nguyễn Ngọc Quang, nhưng lại đặc biết nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của thầy

- Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành: “Phương pháp dạy học là cách thức

hoạt động của thầy tạo ra mối quan hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt được

mục đích dạy học”

- Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong hoạt động học tập, tác giả Trần Bá Hoành đã đưa ra định nghĩa phương pháp dạy học như sau:

"Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáoviên trong việc chỉ đạo, tổ

chức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt được mục tiêu dạy học" Cách định nghĩa này đã nhấn mạnh vai trò của thầy và trò, trong đó nhấn

mạnh tính tích cực của trò

Trang 29

Ngoài ra, trong các tài liệu về lí luận dạy học, chúng ta còn thấy một số định nghĩa khác về PPDH Chẳng hạn như quan niệm thế nào là học? thế nào là dạy? Tác giả Lâm Quang Thiệp [45] đã đưa ra một quan điểm mới theo cách tiếp cận thông tin như sau:

+ Học là quá trình biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn

nhập và xử lí thông tin lấy từ môi trường xung quanh Định nghĩa này rất rộng, nó

bao gồm các yếu tố: thông tin, môi trường, thu nhập, xử lí và tự biến đổi bản thân

+ Dạy là việc giúp cho HS tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng và hình

thành thái độ tình cảm Rõ ràng theo quan điểm này thì dạy không phải là truyền

thụ kiến thức, càng không phải là cung cấp thông tin đơn thuần, mà chủ yếu là giúp người học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng và hình thành thái độ tình cảm Còn theo cách tiếp cận phương pháp sư phạm tương tác, các tác giả đã nêu ra

3 tác nhân mà phương pháp đó quan tâm: người học, người dạy và môi trường Họ

nhấn mạnh người học là người đi học chứ không phải người được dạy để nâng cao tính tự nguyện và chủ động, nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học, còn môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường bên trong người học) là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học

* Bản chất của phương pháp dạy học

PPDH được hiểu như là phương thức hoạt động của thầy và trò được điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu học tập – giáo dục Như vậy, các phương thức hoạt động của thầy (giảng dạy) và các phương thức hoạt động học của trò tồn tại độc lập nhưng gắn bó mật thiết với nhau

+) PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học Hai hoạt động này tuy khác nhau về đối tượng tác động, song lại thống nhất với nhau về mục đích, chúng là hai mặt của quá trình dạy học, trong đó phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học chịu sự chi phối của phương pháp dạy nhưng vẫn có tính độc lập và chủ động

- Phương pháp dạy có hai chức năng là : truyền đạt và chỉ đạo

- Phương pháp học có hai chức năng là : lĩnh hội và tự chỉ đạo

Trang 30

+) Trong QTDH, với chức năng của mình, thầy truyền đạt nội dung khoa học cho

HS và thông qua logic của chính nội dung đó, thầy hướng dẫn, tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động học của HS, vì thế mà phương pháp dạy trở thành yếu tố định hướng cho sự vận động của phương pháp học

Về phía người học, HS vừa tiếp thu nội dung dạy học và cũng thông qua toàn

bộ logic bài giảng của thầy vừa tự lực chỉ đạo sự học tập của bản thân Hoạt động học tập của HS thường diễn ra theo ba giai đoạn :

- HS tiếp thu ban đầu nội tri thức khoa học

- HS vận dụng tri thức đã học vào giải quyết những tình huống cụ thể

- Dựa vào kiến thức đã có, HS tự tìm tòi sáng tạo

PPDH bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp học ứng với ba giai đoạn học tập đã nêu trên Tuy nhiên, phương pháp dạy trong trường hợp này vẫn giữ vai trò chủ đạo cho cả ba giai đoạn học tập

+) Mối quan hệ giữa PPDH với kiểu dạy học và trình độ lĩnh hội: Nội dung dạy học được HS lĩnh hội theo ba kiểu đặc trưng, phản ánh ba tổ hợp PPDH tương ứng nhằm giúp cho HS đạt tới một trình độ nhất định phù hợp với trình độ và năng lực của HS Những tổ hợp phương pháp đó là :

- Tổ hợp các phương pháp thông báo - tái hiện

- Tổ hợp các phương pháp làm mẫu - bắt chước

- Tổ hợp các phương pháp nêu vấn đề - tìm tòi sáng tạo

Qua thực tiễn, lý luận dạy học đã khẳng định rằng, mỗi PPDH dẫn tới một trình độ lĩnh hội nhất định và ứng với mỗi loại nội dung dạy học cần có một PPDH thích hợp, không có PPDH nào là vạn năng

* Phân biệt phương pháp dạy học và biện pháp dạy học

Như ở trên chúng tôi đã phân tích kỹ về những dấu hiệu cơ bản của PPDH Khác với PPDH, biện pháp dạy học là những hoạt động riêng biệt của thầy và trò được vận dụng trong những PPDH khác nhau nhằm lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

Trang 31

Về mặt nào đó, phương pháp và biện pháp giống nhau Sự khác nhau chủ yếu

là do tính chất kéo dài và có tác dụng chủ đạo trong quá trình nhận thức của phương pháp so với biện pháp Phương pháp có vị trí độc lập, còn biện pháp chỉ có nhiệm

vụ cụ thể hoá bổ sung và làm phong phú thêm các phương pháp mà thôi

Ví dụ: Trong khi giảng dạy một bài bằng phương pháp thuyết trình, giáo viên

sử dụng một số tranh vẽ, mô hình để minh hoạ cho lời giảng Việc sử dụng các phương tiện trực quan đó gọi là biện pháp trực quan minh hoạ cho phương pháp dùng lời

Chỉ khi nào HS quan sát các tranh vẽ, mô hình dưới sự hướng dẫn của GV HS trả lời các câu hỏi qua đó hình thành tri thức mới, việc làm đó mới gọi là phương pháp trực quan Trong phương pháp trực quan thì lời nói lại là biện pháp nhằm tổ chức hướng dẫn sự quan sát để từ đó đi đến tri thức mới

Trong lí luận dạy học, các tác giả đã phân ra 3 loại biện pháp dạy học là: biện pháp tổ chức, biện pháp kĩ thuật, biện pháp lôgic

1.1.4.2 Định hướng cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta trong thời gian hiện nay

a Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “dạy học hướng vào người học” (trước đây ta thường nói là “dạy học lấy HS làm trung tâm” [3], [4], [25]

Theo quan điểm của tác giả Trần Bá Hoành Có thể nhấn mạnh những điểm quan trọng của "dạy học lấy HS làm trung tâm" (learner centret teaching) khác với kiểu dạy học cổ truyền "lấy GV làm trung tâm" (teacher centret teaching) ở một số điểm sau:

- Về mục tiêu: trong kiểu dạy học mới “dạy học lấy HS làm trung tâm” là người ta nhằm vào mục tiêu chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng, lợi ích của người HS

- Về nội dung: Người ta chú trọng rèn luyện các kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho tìm kiếm việc làm, hoà nhập và góp phần phát triển cộng đồng

Trang 32

- Về phương pháp: PPDH coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học, phát huy sự suy nghĩ tìm tòi độc lập hoặc theo nhóm nhỏ, thông qua thảo luận, thí nghiệm thực hành và thâm nhập thực tế GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và tập thể của HS để xây dựng bài học Giáo án được thiết kế theo nhiều phương án và được GV điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến của tiết học theo sự tham gia tích cực của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của từng cá nhân

- Về hình thức tổ chức: Về hình thức tổ chức lớp học có thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt động học tập trong tiết học, thậm chí trong từng phần của tiết học

Có nhiều bài học được tiến hành trong phòng thí nghiệm, ở các cơ sở sản xuất hoặc tại viện bảo tàng, khu triển lãm

- Về đánh giá: HS tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt được các mục tiêu của từng giai đoạn học tập, chú trọng mặt chưa đạt được so với mục tiêu

Nhƣ vậy

- Dạy học hướng vào người học là một lí thuyết học tập Lí thuyết dạy học hướng vào người học là một tư tưởng tiến bộ đặc biệt ở thế kỉ XX Đây là một quan điểm, một tư tưởng dạy học - Dạy học hướng vào người học

- Lí thuyết dạy học hướng vào người học chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản,

đã ngày một đi sâu vào việc tuyệt đối hoá hứng thú, nhu cầu, hành vi biệt lập của cá nhân HS nên cần sử dụng mặt tốt và hạn chế mặt không tốt của nó

b Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học [4]

Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý con người Hoạt động là phương thức tồn tại của cuộc sống chủ thể (Leontiev) Cuộc sống là “tổ hợp, hay nói một cách chính xác hơn là hệ thống thay thế nhau”

Hoạt động – đó là tính tích cực bên trong (tâm lý) và bên ngoài (thể lực) của con người, được điều chỉnh bởi mục tiêu tự giác (có ý thức), hoạt động gắn

bó chặt chẽ với nhận thức và ý chí, dựa hẳn vào chúng và không thể xảy ra được nêu thiếu chúng

Trang 33

Hoạt động sinh ra từ nhu cầu, nhưng lại chỉ được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được

Bản chất của việc dạy học theo hướng hoạt động hoá người học là tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác tích cực sáng tạo, trong đó việc xây dựng phong cách học tập sáng tạo là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng

c Đổi mới PPDH bằng cách chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học

Trong cùng một bộ phận của một lĩnh vực khoa học, phương pháp khoa học và PPDH đều có chung một đối tượng nhận thức Cả hai loại phương pháp này đều bao gồm những thao tác và những thủ thuật tương đồng để tác động vào đối tượng Bằng phép so sánh chúng ta có thể thấy rõ sự tương đồng giữa chúng như sau:

Phương pháp khoa học Phương pháp dạy học

Thực nghiệm khoa học Thí nghiệm, thực hành, thực nghiệm

Hội thảo, xemina Đàm thoại, thảo luận

Báo cáo khoa học, bảo vệ luận văn Thuyết trình diễn giảng

Tuy có những điểm tương đồng với nhau nhưng phương pháp khoa học bao giờ cũng là cái có trước, là xuất phát điểm cho PPDH là cái có sau và có thể coi phương pháp khoa học là hạt nhân của PPDH bộ môn đó

Xuất phát từ trình độ nhận thức của chủ thể trong nhận thức khoa học và chủ thể trong nhận thức học tập là có một khoảng cách xa (với những nhà khoa học là tính tự lực và sáng tạo rất cao để tìm ra chân lí từ hiện thực khách quan, còn HS là

sự tự giác, tích cực trong khuôn khổ chỉ đạo của thầy giáo để phát hiện ra chân lí

cho riêng mình), phương pháp khoa học và PPDH cho dù đều thuộc cùng một bộ

phận của khoa học xuất xứ, song chúng không đồng nhất với nhau, chúng có tính độc lập riêng Vì thế chúng ta có thể cho rằng PPDH là sự thống nhất hữu cơ giữa phương pháp khoa học xuất xứ với tổ hợp những thao tác thủ thuật, cách thức sư phạm phù hợp với điều kiện của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức Từ quan

Trang 34

điểm này, khi xem xét mối quan hệ giữa phương pháp khoa học và PPDH, đã cho

chúng ta thấy rằng sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành PPDH là con đường khá phổ biến trong QTDH các môn khoa học Những phương pháp khoa học khi đã chín muồi để chuyển thành phương pháp sư phạm tương ứng, chúng sẽ vận động và phát triển với tư cách là một phạm trù của khoa học giáo dục nói chung và lí luận dạy học nói riêng Trong QTDH, tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức của HS, tỷ trọng tham gia của phương pháp khoa học và phương pháp sư phạm có sự khác biệt Sự khác biệt đó biểu hiện ở chỗ: Trình độ nhận thức của HS càng thấp thì sự can thiệp của phương pháp sư phạm càng nhiều, còn khi trình độ nhận thức của HS càng cao thì sự can thiệp của phương pháp khoa học càng lớn

Các PPDH hiện đại được phát sinh từ những phương pháp khoa học hiện đại, như tiếp cận hệ thống, tiếp cận modum, phương pháp Grap… Từ đó hình thành những tổ hợp PPDH phức hợp, thích hợp với những hệ dạy học mới phù hợp với sự phát triển của khoa học và của xã hội Trong đó, tiếp cận hệ thống đang xâm nhập vào giáo dục như một công cụ phương pháp luận hiệu nghiệm Như vậy, cải tiến PPDH cần được hiểu là thực hiện theo hướng tiếp cận hệ thống đối với cả hệ thống giáo dục từ việc xác định mục tiêu, nội dung trí dục, cho tới các hoạt động của GV trên lớp

d Vận dụng trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá [4], [28]

Trước hết cần phân biệt trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận:

Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận (như các câu hỏi và bài tập trong các bài kiểm tra viết truyền thống), cả hai đều là trắc nghiệm (tests) cả, là phương tiện dùng để kiểm tra khả năng học tập của HS

Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống đánh giá cho điểm là khách quan mà không chủ quan như bài đánh giá tự luận Bài trắc nghiệm được

chấm điểm bằng cách đếm số lần chọn được câu trả lời đúng trong số các câu trả

lời đã được cung cấp Có thể coi kết quả chấm điểm sẽ như nhau không phụ thuộc

vào ai chấm bài trắc nghiệm đó

Trang 35

Tuy nhiên, nội dung của một bài trắc nghiệm khách quan cũng có phần chủ quan theo nghĩa là nó đại diện cho một sự phán xét của một người nào đó về bài trắc nghiệm Chỉ có việc chấm điểm là khách quan

Vận dụng trắc nghiệm trong kiểm tra sẽ phát huy được tính tự lực, tích cực, linh hoạt của người học ngoài việc kiểm tra được nhiều thông tin trong một đơn vị thời gian

Ngoài ra, với sự phát triển của CNTT việc đưa các phần mềm ứng dụng vào việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS sẽ góp phần nâng cao tính khách quan của phương pháp này

e Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, kết hợp với các phương tiện kĩ thuật dạy học [4]

Phương hướng chung của việc hoạt động hoá người học trong dạy học bộ môn Sinh học là quan tâm và tạo điều kiện để HS trở thành chủ thể hoạt động sáng tạo trong giờ học bằng một số biện pháp sau đây:

* Khai thác đặc thù bộ môn Sinh học, tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú của HS trong giờ học bằng các cách :

- Tăng cường sử dụng các thí nghiệm, công tác thực hành, các phương tiện trực quan, các phương tiện kĩ thuật dạy học trong dạy học Sinh học Sử dụng nhiều

hình thức hoạt động của HS, các PPDH của GV nhằm giúp HS được hoạt động chủ

động tích cực sáng tạo

- Khi lựa chọn phối hợp các PPHD của GV, các hình thức hoạt động của HS, cần lưu ý chọn ưu tiên các hình thức hoạt động và các PPHD thể hiện được phương pháp nhận thức đặc trưng của bộ môn Sinh học

* Tăng cường thời gian dành cho HS hoạt động trong giờ học bằng những cách sau đây:

- Giảm thuyết trình của GV

- Tăng cường đàm thoại giữa thầy và trò, trong đó ưu tiên đàm thoại phát hiện (đàm thoại ơrixtic) Tăng cường thời gian cho HS thảo luận theo nhóm và thảo luận chung cả lớp

Trang 36

- Khi HS tự nghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo tại lớp, cần yêu cầu HS trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo kiến thức Cần ra những câu hỏi yêu cầu HS phải gia công thêm mà không chỉ ghi chép lại nguyên xi như trong SGK hay trong tài liệu tham khảo

- Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn phương pháp học tập (trong đó

có cả phương pháp tự học) của HS

* Tăng cường mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của HS bằng các cách sau đây:

- Tăng cường sử dụng dạy học giải quyết vấn đề

- Tăng cường sử dụng các bài tập (câu hỏi và bài toán) đòi hỏi HS phải suy luận, sáng tạo

- Từng bước đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá cao những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS, tăng cường công tác HS tự đánh giá lẫn nhau

* Kết hợp sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học trong dạy học Sinh học

- Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe nhìn và các máy dạy học, trong đó các phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất Các phương tiện nghe nhìn bao gồm:

+ Các giá mang thông tin như là: bản trong, phim, băng âm - hình, đĩa ghi âm, đĩa ghi hình,

+ Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin như là: đèn chiếu, máy chiếu phim, radio, catset, tivi, camera, máy vi tính,

- Có thể sử dụng máy chiếu hình hất lên (Overhead) và bản trong Có thể sử dụng máy vi tính với phần mềm Power Point để thiết kế bài giảng và sử dụng máy chiếu đa năng (Audio – Viđeo Projector)

1.1.4.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Như nhiều người đã biết, CNTT và truyền thông (Information and Communication Technology - ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa

Trang 37

học - kỹ thuật hiện nay; nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực NCKH, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực hoạt động chính trị

xã hội khác Trong giáo dục - đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội, nhân văn, các hoạt động nghiệp vụ và đào tạo nghề Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo dục tăng lên cả về lý thuyết và thực hành Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hoá giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của

CNTT” [32] Như vậy, ICT có ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục đào tạo, đặc biệt là

trong đổi mới PPDH CNTT góp phần tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã có thể thực hiện các tiêu chí mới: Học mọi nơi (any where), học mọi lúc (any time), học suốt đời (life long), dạy cho mọi người (any one) và mọi trình độ tiếp thu khác nhau, thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học CNTT đã hỗ trợ nâng cao chất lượng và hiệu quả cũng như đổi mới PPDH thể hiện ở các điểm:

a) Về nội dung: CNTT và truyền thông giúp GV đề cập và truy xuất được nhiều nội dung trong QTDH, hỗ trợ giáo trình, tài liệu cho GV, HS; đưa nội dung

ổn định và phong phú lên mạng truyền dữ liệu, kết hợp tư liệu cần thiết với nội dung chính thống đã có trong giáo trình

b) Về phương pháp:

- Đối với GV: ICT tạo điều kiện cho GV tiếp cận nhiều phương pháp, cách thức đưa nội dung đến với HS như phát hiện vấn đề qua kết quả sử dụng mô hình, biểu bảng, tính toán nhờ CNTT; chứng minh các kết luận trong điều kiện thực hành thí nghiệm thực tế khó có thể tổ chức thông qua các thí nghiệm ảo trên máy tính CNTT giúp GV tích hợp nhiều nội dung trong DH nhờ các kỹ thuật liên kết, kỹ thuật sử dụng các phần mềm cho phép hiện hoặc ẩn các nội dung phù hợp trong QTDH Việc sử dụng công nghệ DH theo chương trình hoá hoặc Trung tâm học tập

Trang 38

trực tuyến góp phần quan trọng tạo môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, hoạt động nhóm trong QTDH

- Đối với HS, CNTT góp phần cá nhân hoá người học (thích hợp với nhịp độ tiến bộ của từng cá nhân), giúp cho việc học tập liên môn, xuyên môn, học cá nhân trên cơ sở “cầu” chứ không phải trên cơ sở “cung”, theo hướng lấy người học làm trung tâm chứ không phải lấy GV làm trung tâm Sử dụng ICT trong DH giúp HS sống trong thế giới CNTT, nắm được những kỹ năng làm việc trong tương lai, cũng như sử dụng phương tiện máy tính và các phương tiện truyền thông khác trong đời sống gia đình và xã hội (làm việc và học tập với máy tính, truy cập Internet, sử dụng hộp thư điện tử, tạo lập môi trường và trao đổi thông tin qua mạng…)

- Sử dụng ICT, đa phương tiện (multimedia) trong DH góp phần thực hiện ĐMPPDH trên ba lĩnh vực then chốt: gia tăng đáng kể vai trò chủ động của HS trong việc tiếp cận kiến thức và do đó nhấn mạnh phương pháp học để chiếm lĩnh tri thức; áp dụng sư phạm phân hoá để đáp ứng thực tiễn không đồng nhất của HS thông quan việc HS tự học; thực hiện liên môn, liên ngành về nội dung thông qua việc thu thập thông tin có bản chất khác nhau và xử lý nó bằng sự hỗ trợ đa phương tiện

c) Về thái độ: ICT góp phần gây hứng thú cho HS nhờ các mô hình, hình ảnh phong phú, đa dạng, thể hiện trạng thái động của sự vật, hiện tượng mà trong thực

tế về điều kiện không gian, thời gian khó có thể diễn tả được

d) Về đánh giá: khách quan hoá quá trình đánh giá qua việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan, đặc biệt người học có thể tự đánh giá qua các nội dung và bài tập do GV thiết kế trong từng học phần, qua sử dụng trung tâm học tập trực tuyến, góp phần thực hiện đổi mới PPDH

Nhận thức được vai trò to lớn của việc ứng dụng CNTT và truyêng thông trong dạy học, Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta rất coi trọng ứng dụng CNTT, coi yêu cầu ĐMPPDH có sự hỗ trợ của CNTT và các phương tiện kỹ thuật hiện đại là hết sức cần thiêt [6], [7], [10], [14], [15], [16], [33], [35]

Trang 39

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Điều tra kết quả học tập kiến thức quá trình phần sinh học tế bào (Sinh học 10) của HS năm học 2008 – 2009

Đây là công việc điều tra hiện trạng về kết quả học tập của HS năm học

2008 – 2009 và được tiến hành ngay sau khi kết thúc nội dung phần học này Kết quả điều tra này chúng tôi gọi là kết quả trước thực nghiệm

- Mục đích: Thực hiện TTN nhằm 2 mục đích chủ yếu:

+ Khảo sát chất lượng nhận thức của HS về kiến thức các quá trình SH ở cấp độ

tế bào (Sinh học 10), từ đó làm cơ sở xác định hướng nghiên cứu của đề tài luận văn + So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm và TTN để làm tăng thêm tính đúng đắn và khả thi hướng nghiên cứu của đề tài luận văn của chúng tôi

- Phương pháp thực hiện:

Để thuận tiện và đảm bảo tính công bằng trong kiểm tra đánh giá kết quả TTN

và sau thực nghiệm, chúng tôi chỉ sử dụng 1 bộ câu hỏi và đáp án (ở đây chỉ khác nhau là đối tượng HS ở năm học trước và HS ở năm học sau) Đồng thời, chúng tôi cũng chọn 2 trường THPT của tỉnh Tuyên Quang để tiến hành TN trong suốt quá trình nghiên cứu nhằm đảm bảo tính đồng nhất về môi trường nghiên cứu

Đề và đáp án bài kiểm tra trước thực nghiệm (Xem phụ lục số 2)

Chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên hai trường là:

- Trường THPT Sơn Dương - Sơn Dương - Tuyên Quang

- Trường THPT Trung Sơn - Yên Sơn - Tuyên Quang

Mỗi trường chúng tôi chọn 4 lớp và tiến hành kiểm tra một bài tổng hợp kiến thức 45 phút

- Kết quả điều tra:

Bảng 1.2 Bảng thống kê tần số điểm số các bài kiểm tra trước thực nghiệm

Trang 40

Bảng 1.3 Tần suất điểm số các bài kiểm tra trước thực nghiệm

Từ số liệu trong bảng 3.1 và bảng 3.2 chúng tôi nhận thấy :

- Giá trị trung bình điểm trắc nghiệm không được cao, phương sai khá lớn điều

đó cho thấy sự tập chung điểm số không cao Như vậy việc đưa ra các biện pháp dạy học trong luận văn áp dụng trong dạy học phần Sinh học tế bào (SH 10) là cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Từ các bảng số liệu trên ta có biểu đồ tần suất bài kiểm tra trước thực nghiệm:

0.05.010.015.020.025.030.0

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

xi

Hình 1.5 Biểu đồ tần suất bài kiểm tra trước thực nghiệm

Trên hình 3.1 chúng ta nhận thấy giá trị mod điểm trắc nghiệm là: mod = 7 Và

từ giá trị mod trở lên, tần suất điểm thấp Như vậy kết quả học tập không cao

Từ số liệu của bảng 3.3 lập bảng tần suất hội tụ tiến để biểu thị giá trị của các điểm số trước thực nghiệm

Bảng 1.4 Tần xuất hội tụ tiến bài kiểm tra trước thực nghiệm

Ngày đăng: 30/10/2023, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn An, Bùi Kim Vượng, Ngô Đình Quang, Nguyễn Bích Hạnh (1995), Lý luận dạy học, NXB. Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn An, Bùi Kim Vượng, Ngô Đình Quang, Nguyễn Bích Hạnh
Nhà XB: Nhãn sách Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1995
2. Ban quản lý dự án Việt - Bỉ, Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Tác giả: Ban quản lý dự án Việt - Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
3. Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Kỷ yếu hội thảo khoa học " Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học", Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1995
5. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2001), Lý luận dạy học sinh học, Phần đại cương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học, Phần đại cương
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Chỉ thị số 29/2001/CT – BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 29/2001/CT – BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2001
7. Chỉ thị số 14/2001/CT.TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 14/2001/CT.TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Năm: 2001
8. Chỉ thị số 06 /2008/CT-UBND ngày 25/10/2008 của UBND tỉnh Tuyên Quang về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2008 - 2009 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhiệm vụ trọng tâm năm học 2008 - 2009 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: UBND tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: UBND tỉnh Tuyên Quang
Năm: 2008
9. Chỉ thị số: 06/2009/CT-UBND về việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2009-2010 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số: 06/2009/CT-UBND về việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2009-2010 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Năm: 2009
10. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Phúc Chỉnh (chủ biên), Phạm Đức Hậu (2007), Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học sinh học, NXBGD, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh, Phạm Đức Hậu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
12. Nguyễn Phúc Chỉnh (2004), Lý luận dạy học Sinh học phần đại cương, Bài giảng, Thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Sinh học phần đại cương
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: Bài giảng
Năm: 2004
13. Nguyễn Cương (1995), Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Đạo, Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học và cao đẳng, Thái Nguyên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học và cao đẳng
Tác giả: Nguyễn Văn Đạo
Năm: 2003
18. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty ( 2006), Sinh học 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty ( 2006), Sinh học 10 – Sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10 – Sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. Tô Xuân Giáp (1992), Phương tiện dạy học, NXB ĐH và GD chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB ĐH và GD chuyên nghiệp
Năm: 1992
52. www. bachkhoatoanthu.gov.vn 53. www.duytanschool.com Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Cấu trúc, chức năng tác động của các yếu tố lên quá trình dạy học - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 1.1 Cấu trúc, chức năng tác động của các yếu tố lên quá trình dạy học (Trang 14)
Hình 1.2. Điều chỉnh trong dạy học - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 1.2. Điều chỉnh trong dạy học (Trang 17)
Hình 1.4. Bản chất quá trình học và tự học - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 1.4. Bản chất quá trình học và tự học (Trang 23)
Hình 1.5 Biểu đồ tần suất bài kiểm tra trước thực nghiệm - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 1.5 Biểu đồ tần suất bài kiểm tra trước thực nghiệm (Trang 40)
Hình 1.6 Biểu đồ tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra trước thực nghiệm - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 1.6 Biểu đồ tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra trước thực nghiệm (Trang 41)
Hình  2.1 . Quy trình thiết kế bài giảng điện tử - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
nh 2.1 . Quy trình thiết kế bài giảng điện tử (Trang 84)
Hình  ảnh  hãy  nháy  kép  (double- - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
nh ảnh hãy nháy kép (double- (Trang 92)
Hình làm việc của frame và nhấn - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình l àm việc của frame và nhấn (Trang 94)
Chuột  trái  rồi  kéo  thành  1  hình - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
hu ột trái rồi kéo thành 1 hình (Trang 94)
Hình Frame hiện hành, thả chuột - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
nh Frame hiện hành, thả chuột (Trang 95)
Hình Frame hiện hành, thả chuột - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
nh Frame hiện hành, thả chuột (Trang 96)
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất tổng hợp của 3 bài kiểm tra  lớp TN và ĐC - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất tổng hợp của 3 bài kiểm tra lớp TN và ĐC (Trang 110)
Hình 3.3 Biểu đồ  tần suất điểm sau thực nghiệm - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình 3.3 Biểu đồ tần suất điểm sau thực nghiệm (Trang 115)
Hình  3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm sau thực nghiệm - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
nh 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm sau thực nghiệm (Trang 116)
Hình vẽ trả lời - Nâng cao hiệu quả dạy học kiến thức quá trình ở cấp độ tế bào (sinh học 10) bằng phần mềm lecturemaker 2 0
Hình v ẽ trả lời (Trang 147)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w