Më ®Çu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http //www lrc tnu edu vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NÔNG VĂN ĐÀM DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GI[.]
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Tâm lí lứa tuổi HS trung học phổ thông
HS THPT là những HS đang ở lứa tuổi thanh niên Người ta định nghĩa
Tuổi thanh niên, kéo dài từ 14 đến 25 tuổi, là giai đoạn phát triển quan trọng bắt đầu từ dậy thì cho đến khi trở thành người lớn Trong thời kỳ này, sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển của hệ thần kinh diễn ra mạnh mẽ, với những thay đổi quan trọng trong cấu trúc não bộ Sự gia tăng số lượng dây thần kinh liên hợp giúp kết nối các phần của vỏ não, tạo điều kiện cho các hoạt động phân tích và tổng hợp phức tạp, từ đó hỗ trợ quá trình học tập hiệu quả hơn.
Ở lứa tuổi này, sự phát triển của cơ thể dẫn đến những thay đổi quan trọng trong hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ.
Đặc điểm hoạt động học tập
Hoạt động học tập của thanh niên học sinh có nội dung và tính chất khác biệt rõ rệt so với thiếu niên, không chỉ ở mức độ sâu sắc hơn mà còn yêu cầu tính năng động và độc lập cao hơn Điều này cũng đòi hỏi sự phát triển tư duy lý luận mạnh mẽ trong quá trình học tập.
Thái độ học tập của học sinh ngày càng được nâng cao, thể hiện sự lựa chọn rõ ràng liên quan đến định hướng nghề nghiệp của các em Hứng thú nhận thức của các em không chỉ sâu sắc mà còn bền vững, cho thấy sự phát triển tích cực trong quá trình học tập.
+ Thái độ học tập đƣợc thúc đẩy bởi động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, ý nghĩa xã hội,
Mặc dù học sinh rất nhiệt tình với một số môn học, nhưng lại thường bỏ qua các môn khác Do đó, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức rõ ý nghĩa và vai trò của giáo dục phổ thông trong việc hỗ trợ cho từng chuyên ngành cụ thể.
Trong độ tuổi này, thái độ học tập có ý thức đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tính chủ động của quá trình nhận thức và khả năng tự quản lý trong học tập.
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ Ở lứa tuổi này tính chủ định đƣợc phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức :
Tri giác có mục đích đã phát triển mạnh mẽ, khiến việc quan sát trở nên có hệ thống và toàn diện Tuy nhiên, hiệu quả quan sát của học sinh sẽ giảm nếu thiếu sự hướng dẫn từ giáo viên Vì vậy, giáo viên cần chú trọng vào việc định hướng quan sát của học sinh vào những nhiệm vụ cụ thể.
Sự ghi nhớ của trẻ em hiện tại đã mang tính chủ định và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động trí tuệ Đồng thời, vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng và ghi nhớ ý nghĩa ngày càng trở nên rõ rệt, thể hiện qua các hoạt động như tóm tắt ý chính, so sánh và đối chiếu.
Sự phát triển của não bộ và các quá trình nhận thức đã dẫn đến khả năng tư duy lý luận và trừu tượng độc lập, sáng tạo ở học sinh Tư duy của các em trở nên chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn, đồng thời cũng phát triển tính phê phán Tuy nhiên, hiện nay, số học sinh đạt được mức độ tư duy này vẫn còn hạn chế, nhiều em chưa phát huy hết khả năng độc lập suy nghĩ và thường đưa ra kết luận vội vàng dựa trên cảm tính Do đó, việc giúp học sinh phát triển khả năng nhận thức là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên.
Ở lứa tuổi này, các đặc điểm trí tuệ chung của con người đã được hình thành và vẫn tiếp tục phát triển.
Một số chủ chương đổi mới PP dạy học
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam (Khoá VII, 1993) đã chỉ rõ :
Mục tiêu giáo dục và đào tạo cần tập trung vào việc phát triển những con người lao động tự chủ và sáng tạo, có khả năng giải quyết các vấn đề thường gặp Qua đó, góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu lớn của đất nước: xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân và sức mạnh quốc gia.
Trong giáo dục, việc khuyến khích tự học là rất quan trọng, đồng thời cần áp dụng các phương pháp giáo dục hiện đại để phát triển năng lực tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII, 1997) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo Cần khắc phục lối truyền thụ một chiều, đồng thời rèn luyện tư duy sáng tạo cho người học Để đạt được điều này, cần từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và công nghệ hiện đại trong quá trình dạy học, đồng thời tạo điều kiện và thời gian cho học sinh, đặc biệt là sinh viên đại học, tự học và tự nghiên cứu.
Luật giáo dục đã quy định rõ ràng trong Điều 24 rằng phương pháp giáo dục phổ thông cần phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, đồng thời phù hợp với đặc điểm của từng lớp học và môn học Điều này cũng nhấn mạnh việc bồi dưỡng phương pháp tự học và rèn luyện kỹ năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó tác động tích cực đến tình cảm và tạo niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh.
Quan điểm chung về phương pháp dạy học đã được khẳng định và không còn tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông là khuyến khích học sinh học tập tích cực, chủ động, nhằm chống lại thói quen học tập thụ động.
Quan điểm hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông là tạo điều kiện cho học sinh học tập thông qua các hoạt động, khuyến khích sự tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học.
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông bao gồm các nội dung cơ bản: Đối với học sinh, việc đổi mới này khuyến khích học tập tích cực và chủ động, giúp các em phát hiện và giải quyết vấn đề, phát triển tư duy linh hoạt và sáng tạo, đồng thời hình thành và củng cố phương pháp tự học Đối với giáo viên, việc áp dụng các phương pháp dạy học mới là cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
+ Thay đổi quan niệm dạy học là truyền thụ một chiều, hướng tới dạy người học phát triển năng lực giải quyết vấn đề
+ Phong phú hơn nữa hình thức tổ chức dạy học
+ Nâng cao hơn việc sử dụng phương tiện dạy học, thành tựu của CNTT, tăng cường tri thức toán gắn với thực tiễn
+ GV tự lựa chọn PP dạy học theo: Nội dung, sở trường, đối tượng HS, điều kiện trang thiết bị, trong hoàn cảnh địa phương.
Biên soạn tài liệu và dạy học theo hình thức mô đun
1.3.1 Khái niệm mô đun dạy học
Trong giáo dục, mô đun dạy học được hiểu theo nhiều cách khác nhau Thứ nhất, nó là một đơn vị nội dung trong chương trình giảng dạy, được tổ chức theo nhiệm vụ hoặc chủ đề cụ thể Thứ hai, trong dạy nghề, mô đun đào tạo nghề là phần công việc được phân chia hợp lý, mang tính độc lập về nội dung Cuối cùng, trong đào tạo đại học và giáo dục thường xuyên, mô đun dạy học đóng vai trò như tài liệu hướng dẫn tự học, giúp người học đạt mục tiêu thông qua việc tự học hoặc học có hướng dẫn, từ đó nâng cao khả năng tự lực trong việc tiếp cận kiến thức.
Mô đun dạy học được định nghĩa bởi Theo L.D'Hainaut và Nguyễn Ngọc Quang là một đơn vị chương trình tương đối độc lập, được cấu trúc đặc biệt để phục vụ người học Mô đun này bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả, tất cả đều liên kết chặt chẽ với nhau Nó có khả năng lắp ráp với các mô đun khác để tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và dễ sử dụng.
1.3.2 Các đặc trưng của mô đun dạy học
Theo L.D'Hainaut mô đun dạy học có đặc trƣng cơ bản sau đây:
Hàm dạy học bao gồm các tình huống được tổ chức xung quanh một chủ đề nội dung rõ ràng Hệ thống mục tiêu dạy học được xác định một cách cụ thể, rõ ràng và khả thi, giúp định hướng cho toàn bộ quá trình giảng dạy Những mục tiêu này cần có tính đo lường và quan sát được, đảm bảo hiệu quả trong việc hướng dẫn học sinh.
Hệ thống kiểm tra được thiết lập nhằm điều chỉnh quá trình dạy học, đảm bảo sự đồng nhất giữa hoạt động giảng dạy, học tập và đánh giá Điều này giúp phân hóa lộ trình học tập tiếp theo cho từng học sinh.
Nội dung học tập có thể được tiếp cận qua nhiều con đường khác nhau, cho phép người học chiếm lĩnh kiến thức theo cách riêng của mình Điều này giúp đảm bảo rằng mỗi cá nhân có thể tiến bộ với nhịp độ phù hợp, hướng tới mục tiêu học tập hiệu quả.
Để học một mô đun, người học cần có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ năng và thái độ, do nội dung dạy học có tính độc lập tương đối Sau khi hoàn thành mô đun, người học sẽ có khả năng áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.
Mô đun dạy học được phân chia thành nhiều cấp độ, bao gồm mô đun lớn, mô đun thứ cấp và mô đun nhỏ (tiểu mô đun) Mô đun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc một vài chương trong chương trình giảng dạy.
1.3.3 Chức năng của mô đun dạy học
Với những đặc trƣng kể trên, mô đun dạy học có chức năng rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình dạy học nhƣ sau:
Mỗi mô đun dạy học là công cụ tự học hiệu quả, được cấu trúc theo từng chủ đề cụ thể và chia thành các tiểu mô đun với mục tiêu rõ ràng và bài kiểm tra tương ứng Sau khi hoàn thành một tiểu mô đun, người học sẽ tiếp tục sang tiểu mô đun tiếp theo, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ học tập Tâm lý học đã chứng minh rằng việc phân chia nhiệm vụ học tập thành các phần nhỏ, hướng dẫn từng bước và đánh giá ngay sau mỗi phần sẽ nâng cao chất lượng học tập của người học.
Với tính chất độc lập tương đối của nội dung dạy học, chúng ta có thể dễ dàng "lắp ghép" và "tháo gỡ" các mô đun, từ đó tạo ra những chương trình dạy học đa dạng và phong phú.
Nhờ khả năng "lắp ghép" các mô đun, người học dưới sự hướng dẫn của
GV có khả năng thiết kế chương trình học tập cá nhân hóa, giúp người học tiến bộ theo nhịp độ riêng của mình để đạt được mục tiêu học tập Khi có nhu cầu chuyển đổi sang ngành học khác, GV cũng hỗ trợ quá trình này một cách linh hoạt.
Việc "tháo gỡ" các mô đun đã tích lũy và sử dụng các mô đun phù hợp cho phép người học "lắp ghép" thêm những mô đun mới nhằm đạt được mục tiêu dạy học mới, như một văn bằng mới, mà không cần phải bắt đầu lại từ đầu như trong phương pháp dạy học truyền thống Tính chất "lắp ghép" và "tháo gỡ" của mô đun giúp tránh tình trạng bỏ sót hoặc trùng lặp nội dung giảng dạy, khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống.
Việc biên soạn các mục đích dạy học theo chuẩn mực cho phép chúng có thể sử dụng chung và linh hoạt trong nhiều ngành học, tạo thuận lợi cho tổ chức đào tạo Điều này hỗ trợ cải cách nội dung, phương pháp dạy học và tổ chức biên soạn sách giáo khoa, tài liệu học tập, cùng với các phương tiện dạy học và dụng cụ nghiên cứu, thí nghiệm cho học sinh và sinh viên.
Nhờ vào khả năng sử dụng chung và lắp ghép của các mô đun, việc tổ chức các nhóm chuyên gia có trình độ cao để biên soạn tài liệu dạy học chất lượng trở nên khả thi Điều này không chỉ đảm bảo tính hiệu quả trong sản xuất mà còn tiết kiệm chi phí cung cấp tài liệu dạy học.
Mô đun dạy học có nhiều cấp độ, trong đó mô đun lớn và mô đun thứ cấp nổi bật với tính chất "lắp ghép" và "tháo gỡ", thường được sử dụng để thiết kế các chương trình dạy học Ngược lại, các mô đun nhỏ (tiểu mô đun) thể hiện tính chất tự học, đóng vai trò là tài liệu tự học hiệu quả cho người học.
Tính "lắp ghép" và "tự học được" của mô đun có mối quan hệ biện chứng, trong đó khả năng "tự học được" dẫn đến yêu cầu về "lắp ghép" Đồng thời, tính "lắp ghép" cũng đặt ra yêu cầu cho tính "tự học được" của mô đun Đây là những yếu tố quan trọng cần lưu ý khi biên soạn và sử dụng mô đun trong thiết kế chương trình dạy học.
XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI GIẢNG VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GIAN Ở HÌNH HỌC 11- THPT THEO HÌNH THỨC MÔ ĐUN VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Một số đặc điểm của việc dạy hình học không gian
Hình học không gian là môn học mới mẻ đối với học sinh lớp 11, với nội dung phong phú và đa dạng hơn so với hình học phẳng Để giảng dạy hiệu quả môn học này, cần chú ý đến một số đặc điểm quan trọng.
Hình học không gian có liên quan rất mật thiết với hình học phẳng
Từ lớp 6 đến lớp 10, học sinh đã được làm quen với hình học phẳng trong không gian hai chiều Đến lớp 11, chúng ta sẽ giới thiệu cho học sinh hình học không gian ba chiều, mở rộng kiến thức và ứng dụng của hình học so với hình học phẳng.
Học sinh (HS) sẽ được tiếp cận với các đối tượng và quan hệ mới trong hình học không gian, mở rộng kiến thức về các đối tượng quen thuộc như điểm và đường thẳng Cụ thể, HS cần hiểu rõ vị trí tương đối của hai đường thẳng, trong đó có quan hệ chéo nhau khi xét trong không gian Việc vẽ hình biểu diễn các đối tượng không gian trên mặt phẳng có thể gây nhầm lẫn do HS chưa quen với các quy ước hình học Chẳng hạn, nếu không giải thích rõ ràng, hình vẽ hai đường thẳng chéo nhau có thể khiến HS hiểu nhầm rằng chúng cắt nhau.
Phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh là một yếu tố quan trọng trong môn hình học không gian Ngay từ những buổi học đầu tiên, giáo viên cần sử dụng đồ dùng dạy học, hình ảnh thực tế của đường thẳng và mặt phẳng, cùng với hình vẽ minh họa để rèn luyện khả năng này Việc biết vẽ hình và đọc hình vẽ là yêu cầu thiết yếu cho học sinh trong việc học hình học không gian Khi học sinh đã quen với việc vẽ hình biểu diễn không gian trên mặt phẳng, họ sẽ có công cụ quan trọng để minh họa và mô tả các bài toán, từ đó giải quyết các bài toán về hình học không gian một cách hiệu quả.
Việc phát triển trí tưởng tượng không gian bắt đầu từ việc phân tích vị trí tương đối của điểm, đường thẳng và mặt phẳng thông qua các bài toán từ đơn giản đến phức tạp Các bài toán liên quan đến quan hệ song song, quan hệ vuông góc và tìm thiết diện đều nhằm nâng cao khả năng tưởng tượng không gian của người học.
HS ngày càng phát triển nhưng một số học sinh gặp khó khăn trong việc giải quyết các bài toán hình học không gian Nguyên nhân chủ yếu là do họ không thể hình dung hình thực từ các giả thiết hoặc thiếu kiến thức về hình minh họa, dẫn đến việc không hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và yêu cầu của bài toán.
Một số đặc điểm khác
Các vấn đề sau đây đƣợc đặt ra đối với các bộ môn toán học nói chung, nhƣng có vai trò quan trọng đối với hình học không gian
- Cần làm cho HS nắm vững các khái niệm cơ bản của hình học không gian
Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc giải toán do hiểu sai hoặc không nắm rõ các khái niệm cơ bản Khi đối mặt với các bài toán như chứng minh hai đường thẳng chéo nhau, tính góc giữa đường thẳng và mặt phẳng, hay tính góc giữa hai mặt phẳng, học sinh thường lúng túng vì thiếu kiến thức về định nghĩa Việc dạy khái niệm là một thách thức lớn, và trong nhiều trường hợp, việc cung cấp ví dụ và phân tích cụ thể là cần thiết để giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các khái niệm này.
- Rèn luyện khả năng suy luận chặt chẽ cho HS
- Cần tập cho HS biết cách làm các bài toán về hình học không gian
Sự trợ giúp của CNTT sẽ phần nào khắc phục đƣợc một số đặc điểm nêu trên.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Mục đích thực nghiệm
Bài viết này tập trung vào việc kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của phương pháp dạy học theo hình thức mô đun với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Qua việc phân tích kết quả thực nghiệm và xử lý các số liệu, chúng tôi đánh giá tính khả thi của đề tài này.
Nội dung thực nghiệm
Dạy thử nghiệm 4 tiết học và tiến hành một bài kiểm tra của chương 3 Hình học lớp 11, cụ thể:
- Hai đường thẳng vuông góc (1 tiết)
- Đường thẳng vuông góc với mặt phẳng (1 tiết)
- Hai mặt phẳng vuông góc (1 tiết)
Tổ chức thực nghiệm
3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm: Thực nghiệm đƣợc tiến hành trên lớp thực nghiệm là 11A3 (49HS) và lớp đối chứng là 11A5(48 HS) tại trường THPT
Mỏ trạng - Yên thế - Bắc Giang
3.3.2 Thời gian thực nghiệm: từ 20/04/2009 đến ngày 20/05/2009.
Hình thức thực nghiệm
Để học sinh hiểu rõ cách học đã đề ra, tác giả đã thực hiện dạy thực nghiệm trong tiết học về “Hai mặt phẳng vuông góc”.
“Khoảng cách”, hai tiết còn lại giao cho GV cùng tổ chuyên môn dạy thể nghiệm để có điều kiện theo dõi đánh giá khách quan.