1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ThS QLC Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

111 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Trên Địa Bàn Thành Phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang
Trường học Trường Đại Học Kiên Giang
Chuyên ngành Quản Lý Công
Thể loại luận văn
Thành phố Rạch Giá
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 128,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước bằng pháp luật về môi trường ở tỉnh Bình Thuận Nguyễn Duy Hà, năm 2008, tác giả đề nghị hoàn chỉnh những văn bản phápluật về môi trường, vì trong thực tế có rất nhiều vă

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, vấn đề môi trường đang thu hút sự quan tâm của mọi quốcgia trên thế giới; bởi vì để có được cuộc sống văn minh, hiện đại, con người

đã phải “trả giá” cho những hành vi thiếu ý thức bảo vệ trong khai thác và sửdụng quá mức các thành phần của môi trường tự nhiên phục vụ cho mục đíchphát triển kinh tế Hậu quả là môi trường sống bị tàn phá hết sức nặng nề đedọa sự sống của con người, xuất hiện các hiện tượng lũ ống, lũ quét, biến đổikhí hậu, vỏ trái đất ngày càng nóng lên Do đó, vấn đề ô nhiễm môi trường

là một thách thức lớn nhất của loài người trong thế kỷ XXI

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển cũng không nằm ngoài thựctrạng đáng báo động này Khi nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, bên cạnh những kết quả về tốc độ tăng trưởng kinh tế, xâydựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, làm thayđổi bộ mặt đô thị và nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại thì quá trìnhnày cũng để lại những hệ lụy về môi trường rất đáng lo ngại Chất lượng môitrường tự nhiên ngày càng uống cấp, rừng bị tàn phá nặng nề, nhiều loạiđộng vật hoang dã bị tuyệt chủng, các nguồn nước bị ô nhiễm, nồng độ bụi vàtiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép (đặc biệt là ở khu vực đô thị, khu côngnghiệp) Hơn nữa, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nềnhất của biến đổi khí hậu mà minh chứng điển hình nhất là tình trạng hạn hánchưa từng có trong gần 100 năm qua ở khu vực các tỉnh đồng bằng sông CửuLong và Tây nguyên vào những tháng đầu năm 2016 đã gây thiệt hại rấtnghiêm trọng về đời sống và sản xuất Đồng thời, thảm họa môi trường đặcbiệt nghiêm trọng do Công ty TNHH Fomorsa Việt Nam gây ra tại Khu côngnghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) làm ô nhiễm vùng biển của 04 tỉnh miền Trungbao gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế làm cá biểnchết hàng loạt, phá hoại nghiêm trọng hệ sinh thái biển và chưa thể đánh giá

Trang 2

hết được hậu quả thiệt hại, làm cho nhân dân cả nước hết sức bức xúc, bấtbình Điều này đặt ra yêu cầu cần tăng cường quản lý nhà nước về môitrường, vì mục tiêu phát triển đất nước bền vững.

Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội củatỉnh Kiên Giang Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiềukhởi sắc, đó là sự đầu tư và phát triển các đô thị, cụm công nghiệp Hiện nay,thành phố Rạch Giá cũng đã có nhiều doanh nghiệp đến đầu tư và kinh doanhhiệu quả Sự phát triển các khu đô thị được mở rộng, diện tích thành phố RạchGiá đã tăng lên so với trước đây Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước vềmôi trường ở thành phố Rạch Giá là một lĩnh vực rộng, khá phức tạp Từ khiLuật Bảo vệ môi trường năm 2005 được ban hành cho đến nay, việc thực hiệncông tác này ở thành phố Rạch Giá còn hạn chế nhất định, việc phân công,phân cấp quản lý nhà nước về môi trường vẫn còn bất cập, một số nội dungtrong quản lý nhà nước về môi trường còn trùng lặp, chưa rõ hoặc còn bị bỏtrống Do đó, tình trạng môi trường vẫn đang bị xuống cấp nhanh, có lúc, cónơi đã đến mức báo động như: chế biến thủy hải sản, việc xả thải rác thải, khíthải công nghiệp, Bên cạnh đó, là sự phát triển ồ ạt các đô thị, cụm côngnghiệp và sự quy hoạch bất hợp lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến môi trườngung quanh Đây là vấn đề cấp bách đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chínhtrị của thành phố Rạch Giá, mà nòng cốt là các cơ quan quản lý nhà nước vềmôi trường của thành phố Rạch Giá

Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công Với mong muốntìm ra những cơ sở khoa học có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của quản lýnhà nước về môi trường, góp phần bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môitrường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 3

Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách của toàn cầu nói chung và ViệtNam nói riêng, do đó ở nước ta đã có nhiều công trình, bài viết liên quan đếnquản lý nhà nước về môi trường, như:

- Quản lý nhà nước về môi trường và phát triển bền vững - GS.TS LêVăn Khoa, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - TS Phạm Khôi Nguyên, BộTài nguyên và Môi trường, năm 2005

- Những tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý Nhà nướcvới tài nguyên và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa -

TS Nguyên Hữu Bình, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội năm 2006, tác giả nêulên những tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý nhà nước về môitrường

- Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Namhiện nay - Nguyễn Văn Việt, năm 2010, tác giả đã đưa ra một số kiến nghịhoàn thiện các thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho việc tiến hành hoạtđộng bảo vệ môi trường được dễ dàng hơn

- Quản lý môi trường ở địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước - Trần Thanh Lâm, năm 2005, tác giả đề xuất một số phương

án kết hợp Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ môitrường sống

Một số vấn đề cấp bách trong quản lý môi trường ở địa phương Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Đắc Hy, Nguyễn Văn Tài, đề tài đềcập tới thực trạng quản lý lỏng lẻo ở các địa phương, sự thiếu đồng bộ trongcác giải pháp được đưa ra nhằm bảo vệ môi trường

Trang 4

Quản lý Nhà nước bằng pháp luật về môi trường ở tỉnh Bình Thuận Nguyễn Duy Hà, năm 2008, tác giả đề nghị hoàn chỉnh những văn bản phápluật về môi trường, vì trong thực tế có rất nhiều văn bản khó áp dụng.

Quản lý xã hội đối với hoạt động môi trường ở Thành phố Hà Nộihiện nay - Đinh Diệu Linh, năm 2012, đề tài làm rõ một số vấn đề lý luận vềmôi trường và quản lý xã hội về môi trường, mối quan hệ giữa môi trường vớiđời sống con người và sự phát triển kinh tế - xã hội; đưa ra một số đề xuấtmang tính thực tiễn để giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới thực trạng quản lý nhànước về môi trường nói chung và một số địa phương nói riêng Tuy nhiên,cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về quản lý nhànước đối với môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ” là đề tài mới, không trùng lặp với

các đề tài đã được nghiên cứu Đương nhiên, các công trình nghiên cứu tiêubiểu nêu trên có những cơ sở khoa học quan trọng để tác giả kế thừa và vậndụng trong khi thực hiện luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số quan điểm và giảipháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thànhphố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ

cơ bản sau:

Trang 5

- Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước về môi trường thôngqua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, mục tiêu, nội dung quản lýnhà nước về môi trường

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trường trênđịa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang hiện nay

- Luận chứng khoa học một số quan điểm và giải pháp nhằm tăngcường hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố RạchGiá, tỉnh Kiên Giang hiện nay

4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu việc quản lý nhà nước về môi trường, dưới góc độ

lý luận và thực tiễn

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về môi trường

trong phạm vi thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về

môi trường trên địa àn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015

2011-5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước đóng vai trò

là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc nghiên cứu đề tài luận văn Cácquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm hiệu quả quản lý nhànước trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền - xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về cải cách hành

Trang 6

chính là cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá các nội dung cho luậnvăn Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng pháp luật và khôngngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; quan điểm của các nhà lãnh đạoĐảng,

Nhà nước, của tỉnh Kiên Giang và thành phố Rạch Giá về phát huy dânchủ ở cơ sở, đảm bảo công bằng xã hội, về vai trò của quản lý nhà nước vềmôi trường đối với việc bảo đảm lợi ích của công dân, tổ chức trong xã hội mang tính xuất phát điểm khi nghiên cứu đề tài của luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp nghiêncứu kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp logic - lịch sử, phương phápthống kê để thực hiện các mục tiêu của đề tài

6 Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài

6.1 Đóng góp mới của đề tài

Từ những khái niệm có liên quan, đề tài luận chứng khái niệm quản lýnhà nước về môi trường; làm rõ được đặc điểm, nguyên tắc, mục tiêu, nộidung quản lý nhà nước về môi trường; phân tích các điều kiện đảm bảo quản

lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam nói chung và thành phố Rạch Giá, tỉnhKiên Giang nói riêng

Đề tài tập trung đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trườngtrên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, chỉ ra những hạn chế, yếukém và nguyên nhân cần khắc phục Đề tài dự báo những hiện tượng vi phạm,những bất cập trong quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phốRạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới

Trang 7

Đề tài xác định hệ quan điểm chỉ đạo bảo đảm hiệu quả quản lý nhànước về môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; cácquan điểm này thấu suốt những yêu cầu của cải cách, phát huy dân chủ trongquản lý nhà nước về môi trường cấp cơ sở nói chung và thành phố Rạch Giá,tỉnh Kiên Giang nói riêng.

Đề tài luận giải các giải pháp bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước vềmôi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang được hiện thựchóa trong cuộc sống

6.2 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp thêm những thông tin có giá trị cho các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà lập pháp, các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước vềmôi trường có cách nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về quản lý nhà nước đối vớimôi trường Trên cơ sở đó, có những đóng góp tích cực nhằm tăng cường hiệuquả trong quản lý nhà nước về môi trường ở cấp huyện nói chung và thànhphố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể

là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu quản lý nhà nước

về môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương,

9 tiết

Chương 1 Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về môi trường.

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn

thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Chương 3 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về

môi trường trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG 1.1 Lý luận về môi trường

1.1.1 Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường

Khái niệm môi trường

Tùy vào cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu, nên có rất nhiều địnhnghĩa khác nhau về môi trường:

Theo Hoàng Phê: “Môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xãhội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ vớicon người, với sinh vật ấy” [18, tr.997]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Môi trường được hiểu làcác yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết vớinhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại vàphát triển của con người và thiên nhiên” [18, tr.940]

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014: “Môi trường

là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồntại và phát triển của con người và sinh vật”

Trong báo cáo toàn cầu năm 2000 (công bố năm 1982) đã đưa ra địnhnghĩa về môi trường: “Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lý vàsinh học bao quanh loài người Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trườngxung quanh để sống…, mối quan hệ giữa loài người và môi trường chặt chẽđến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con người và môi trường bị xóa nhòa đi”[36, tr.5-6]

Từ các khái niệm trên, tác giả rút ra khái quát chung về môi trường như

sau: Môi trường bao gồm tổng hợp các yếu tố tự nhiên, yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và

Trang 9

phát triển của con người Trong đó các yếu tố tự nhiên chủ yếu như đất, nước, không khí, ánh sáng, các hệ sinh thái, sinh vật… có ảnh hưởng và chi phối đặc biệt quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người Những yếu tố này phát triển theo quy luật tự nhiên, nhưng chịu sự chi phối và tác động nhất định của con người.

Phân loại môi trường

Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môitrường khác nhau Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu sau đây:

Theo quy mô: Chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gianđịa lý như: môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia,môi trường vùng, môi trường địa phương

Theo mục đích nghiên cứu sử dụng: Quản lý, sử dụng, khai thác cácnguồn tài nguyên thiên nhiên và xử lý chất thải sao cho không bị ảnh hưởngtới đời sống hiện tại cũng như đối với các thế hệ mai sau hay nói cách khác làchỉ xét tới những nhân tố tự nhiên và xã hội liên quan trực tiếp tới cuộc sốngcủa con người

Với mục đích nghiên cứu của đề tài này tác giả sẽ đi sâu vào tiếp cậnphân loại môi trường theo chức năng

Theo chức năng được chia làm các loại:

Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như: vật lý, hoáhọc, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịutác động của con người Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất đểxây nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyênkhoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chấtthải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêmphong phú

Trang 10

Môi trường - xã hội: Là tổng thể các loại quan hệ giữa con người vớicon người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở cáccấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, các quốc gia, tỉnhhuyện, cơ quan, làng, xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổchức đoàn thể… Môi trường - xã hội định hướng hoạt động của con ngườitheo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự pháttriển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.

Môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên,làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như: ôtô, máy bay, nhà ở, công sởcác khu vực đô thị, công viên nhân tạo…

Bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là một khái niệm ra đời kể từ khi con người nhậnthức được sự nguy hiểm, tác hại do các hành vi của mình gây ra cho môitrường Hiện có rất nhiều quan niệm về bảo vệ môi trường

Theo GS TSKH Lê Huy Bá: “Bảo vệ môi trường gồm các chính sách,chủ trương, các chỉ thị nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của con người đối vớimôi trường, các sự cố môi trường do con người và thiên nhiên gây ra Bảo vệmôi trường còn bao hàm cả ý nghĩa sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”[4, tr.96-97]

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bảo vệ môi trường là tập hợp cácbiện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinhvật, thực vật, động vật và môi sinh, đất nước, không khí, lòng đất) nghiêncứu, thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít

có hoặc không có phế liệu… nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộcsống của con người Ngoài ra, bảo vệ môi trường còn tạo ra điều kiện tinhthần, văn hóa khiến cho đời sống con người được thoải mái” [16, tr.160]

Trang 11

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cho rằng:

“Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội

và nghĩa vụ của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa,khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triểnnăng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu, dựbáo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảmhọa thiên nhiên Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tàinguyên quốc gia” [8, tr.78]

Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Hoạt độngbảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác độngxấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái,cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [26]

Từ các khái niệm trên, tác giả thấy rằng cho dù cách diễn đạt hoặc quanniệm có thể khác nhau song các quan điểm về bảo vệ môi trường đều thốngnhất ở điểm chung: Bảo vệ môi trường là hoạt động có ý thức của Nhà nước,các tổ chức và mọi người dân trong xã hội trong việc giữ cho môi trườngtrong lành, sạch đẹp khắc phục những tác động xấu của con người đối với môitrường vì sự phát triển bền vững Bảo vệ môi trường không chỉ là nghĩa vụcủa mỗi quốc gia mà còn là nghĩa vụ của mọi thành viên trong cộng đồng thếgiới để giữ cho trái đất mãi mãi là màu xanh Hơn nữa, bảo vệ môi trường là

sự nghiệp của toàn dân và phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài vàbền bỉ; trong đó, Nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý, bảo vệ môitrường bằng pháp luật

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường có vai trò rất quan trọng đối với mỗi cá thể conngười, cũng như đối với cộng đồng con người và cả xã hội loài người

Bảo vệ môi trường tạo ra không gian sống tốt cho con người

Trang 12

Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi trường.Môi trường là nơi duy nhất cho con người được hưởng các cảnh đẹp thiênnhiên, thư thái về tinh thần, thoả mãn các nhu cầu tâm lý Trái đất là bộ phậncủa môi trường gắn bó với con người và các loài sinh vật qua hàng triệu nămkhông thay đổi về độ lớn, nhưng dân số trên trái đất ngày một gia tăng Nhưvậy, không gian môi trường mỗi người được hưởng sẽ giảm xuống và chấtlượng suy giảm nghiêm trọng Năm đầu tiên của công lịch bình quân mỗingười 75 ha, thì nay chỉ còn khoảng 1,5- 1,8 ha Loài người tồn tại trên tráiđất không chỉ đòi hỏi ở môi trường về phạm vi không gian sống mà cả về chấtlượng của không gian sống đó Chất lượng không gian sống trước hết là phảisạch sẽ, tinh khiết, giàu ôxy, không chứa các chất cặn bã bẩn, độc hại đối vớisức khoẻ của con người Vì vậy, cần phải bảo vệ môi trường để tạo ra khônggian sống đảm bảo được các yêu cầu về cảnh quan, các yếu tố kinh tế và khảnăng bền vững của môi trường tốt phục vụ cho con người

Bảo vệ môi trường nhằm cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và cho các hoạt động sản xuất của con người

Nguồn tài nguyên bao gồm các tài nguyên tái tạo và không tái tạo, cótác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con người Tài nguyên thiênnhiên cung cấp nơi ở, thức ăn, vật liệu làm dụng cụ cho sản xuất, chế tạo ranhững đồ dùng vật liệu khác, trao đổi, buôn bán với nhau để nâng cao đờisống kinh tế Tài nguyên thiên nhiên có trong thạch quyển, thủy quyển, khíquyển và sinh quyển Khi mà con người chưa đến được các hành tinh khác đểtìm kiếm các nguồn tài nguyên mới, thì nơi con người có thể khai thác tàinguyên chỉ có trong môi trường của trái đất Hàng năm con người khai tháctài nguyên nhiều thêm, do nhu cầu vật chất ngày càng tăng về số lượng vàchất lượng

Do nhu cầu gia tăng nhiên liệu và nguyên liệu của thế giới, các ước tính

đã phỏng đoán nhiều loại khoáng sản sẽ cạn kiệt trong thời gian không xa Vì

Trang 13

vậy, bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm cho việc sử dụng tài nguyên thiênnhiên tiết kiệm, hiệu quả theo phương thức bền vững để phục vụ cho cuộcsống của con người và định hướng cho con người có ý thức bảo vệ chúng và

Trong xã hội sản xuất hàng hóa chưa phát triển cao, mật độ dân sốthấp, các chất thải thường được tái sử dụng Như: các chất bài tiết thườngđược dùng làm phân bón, các chất thải từ nông sản, lâm sản được dùng làmthức ăn cho gia súc, nhiên liệu

Trong xã hội công nghiệp hóa, sản xuất hàng hóa phát triển, mật độdân số cao, lượng chất thải thường rất lớn, môi trường không đủ nơi chứađựng, quá trình tự phân hủy không theo kịp so với lượng chất thải tạo ra Hayngười ta thường gọi lượng chất thải vượt quá mức chịu tải của môi trường.Đây là nguyên nhân cơ bản gây ra những biến đổi về môi trường Do vậy, bảo

vệ môi trường nhằm quản lý, xử lý chất thải, hướng dẫn hành vi của conngười có cách ứng xử thân thiện với môi trường, bảo đảm cho môi trườngluôn được bảo vệ

1.2 Quản lý nhà nước về môi trường

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường

Trang 14

Theo Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh: Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổchức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội vàhành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xãhội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nướctrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủnghĩa.

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước,quyền lực nhà nước được sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội

Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của các cơquan nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là chức năng đặc biệt

Trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội, đã có rất nhiều công cụquản lý được các nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằmthiết lập một trật tự mà giai cấp thống trị mong muốn Tuỳ thuộc vào đặcđiểm lịch sử, văn hoá, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốcgia trong từng thời kỳ mà các chủ thể quản lý nhà nước có sự linh hoạt, sángtạo trong việc vận dụng, kết hợp các công cụ quản lý khác nhau nhằm đạthiệu quả tối ưu nhất Điều này lý giải tại sao trong cùng một giai đoạn, cóquốc gia sử dụng pháp luật làm công cụ cơ bản để quản lý nhà nước, có quốcgia lại chủ yếu sử dụng đạo đức, phong tục, tập quán, hương ước, các tín điềutôn giáo Hay trong chính một quốc gia, tùy từng thời kỳ có thể sử dụngpháp luật (pháp trị) hoặc đạo đức (đức trị) hoặc kết hợp cả hai công cụ đó đểquản lý nhà nước Trong rất nhiều công cụ nêu trên, pháp luật có vị trí đặcbiệt quan trọng trong quản lý nhà nước, không có pháp luật, Nhà nước khôngthể quản lý xã hội có hiệu quả Nói đến quản lý nhà nước bằng pháp luậtchính là nói đến một phương thức quản lý trong đó pháp luật được sử dụngnhư một công cụ quan trọng Một nhà nước muốn quản lý có hiệu quả phảibiết dựa vào pháp luật, biết sử dụng pháp luật để quản lý xã hội Quản lý nói

Trang 15

chung và quản lý nhà nước bằng pháp luật nói riêng là một khoa học; đồngthời còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên, kỹ thuật,luật pháp và phải biết sử dụng đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các công cụ,phương tiện quản lý Vì thế, bên cạnh pháp luật, Nhà nước cần sử dụng kếthợp các công cụ, phương tiện quản lý khác, như: đạo đức, truyền thống dântộc để tăng cường công tác quản lý nhà nước Từ sự phân tích trên đây, theotác giả thì quản lý nhà nước bằng pháp luật được hiểu là phương thức hoạtđộng của Nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật để tác động lên các quá trình

xã hội, nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội

Xét trong lĩnh vực môi trường, quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo

vệ môi trường là một nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật (Nhànước quản lý xã hội bằng pháp luật) Do đó, quản lý nhà nước bằng pháp luật

về bảo vệ môi trường chính là việc Nhà nước sử dụng pháp luật làm phươngtiện để thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằmbảo đảm cho môi trường trong lành, sạch đẹp Muốn thực hiện quản lý nhànước bằng pháp luật về ảo vệ môi trường thì trước hết Nhà nước phải xâydựng và ban hành hệ thống pháp luật về môi trường Pháp luật về môi trường

là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đây là công cụ,phương tiện để Nhà nước thực hiện quản lý một cách có hiệu quả đối với lĩnhvực bảo vệ môi trường - một lĩnh vực đa dạng, phức tạp, đan xen nhiều mốiquan hệ tác động của các chủ thể (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp v.v) và cácyếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến môi trường hàng ngày, hàng giờ Hệ thống cácquy phạm pháp luật này phải được ban hành tương đối hoàn thiện, đồng bộ đểđiều chỉnh và thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ môi trường trong quá trìnhxây dựng và bảo vệ đất nước

Từ việc phân tích trên, tác giả cho rằng: Quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách

Trang 16

kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống

và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.

1.2.2 Nguyên tắc, mục tiêu, vai trò quản lý nhà nước về môi trường

1.2.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về môi trường

Quản lý môi trường nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế

-xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường

Thuật ngữ “phát triển bền vững” đang nổi lên như một trong những mốiquan tâm hàng đầu của toàn nhân loại Ở Việt Nam, phát triển bền vững cũngđược chú ý nhiều trong giới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch địnhđường lối, chính sách Quan niệm về phát triển bền vững thường được tiếp

cận theo các khía cạnh: Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối

quan hệ duy trì những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái

là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự

phát triển Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau Ba là, phát

triển bền vững phải đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố phát triển kinh tế với bảo

vệ môi trường và bảo đảm sự công bằng xã hội Theo khoản 4, Điều 3, Luật

Bảo vệ môi trường năm 2014: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Định

nghĩa này nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triểnbền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế ở Việt Nam

Quản lý môi trường kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư

Nguyên tắc này thể hiện rất rõ đặc điểm địa lý của công tác quản lý môitrường là không phụ thuộc vào biên giới hành chính quốc gia mà phụ thuộc

Trang 17

vào không gian, thời gian của từng vùng địa lý Các sự cố môi trường xảy ra ởvùng lãnh thổ, quốc gia này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đếnvùng khác, quốc gia khác Chẳng hạn, vấn đề khí hậu toàn cầu đang nóng lêngây ngập lụt ở các quốc gia trên thế giới, hay thảm họa sóng thần ảnh hưởngđến một số nước Đông Bắc Á đòi hỏi phải có sự phối hợp và nỗ lực mang tínhquốc tế Do đó, việc hợp tác quản lý giữa các vùng, các quốc gia là vô cùngcần thiết thông qua việc ký kết và tham gia các công ước quốc tế về môitrường.

Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công

cụ tổng hợp thích hợp

Môi trường có vị trí và tầm quan trọng không chỉ đối với mỗi conngười, cộng đồng dân cư, mỗi quốc gia mà còn đối với toàn nhân loại Để giảiquyết các nhu cầu thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển, con ngườikhai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường tự nhiên vào hoạt động sản xuấtnhằm tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, do vô ý hoặc cố tình chạy theo mụcđích kinh tế, con người không tự giác nhận thức được những tác động tiêu cực

do mình gây ra đối với môi trường Hơn nữa, tác hại đối với môi trườngkhông nhìn thấy được mà muốn “định lượng” chính xác phải sử dụng cácphương tiện, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện Đại và có giá thành rất cao Điềunày vượt quá khả năng tài chính của các quốc gia nghèo, các quốc gia đangphát triển Mặt khác, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng, tác hại của conngười gây ra đối với môi trường không đưa đến hậu quả nghiêm trọng ngay

mà kéo dài hàng chục năm từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó, muốn quản

lý môi trường có hiệu quả, Nhà nước phải sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp,công cụ thích hợp từ truyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệmôi trường đến định hướng chính trị trong xây dựng chiến lược, chính sáchbảo vệ môi trường, biện pháp kinh tế, biện pháp pháp luật và biện pháp khoahọc, kỹ thuật và công nghệ v.v

Trang 18

Phòng, chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được

ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường

Trên thực tế, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường gây ra nhữngthiệt hại vô cùng to lớn đối với con người và hệ sinh thái tự nhiên Việc khắcphục thiệt hại về môi trường phải tốn rất nhiều tiền Tuy nhiên, việc khôiphục lại hiện trạng môi trường tự nhiên phải tốn kém rất nhiều thời gian với

sự quyết tâm, nỗ lực của toàn xã hội, sự đầu tư về kinh phí, con người, trangthiết bị mới chỉ đạt được một phần nào đó của hiện trạng ban đầu Trongnhiều trường hợp sự ô nhiễm môi trường đã hủy hoại cả một hệ sinh thái tựnhiên mà thiên nhiên và con người không thể tái tạo được Điều này ảnhhưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học, sự phong phú, đa dạng của cácgiống, loại và nguồn gien trong tự nhiên Do đó, muốn bảo vệ môi trường cóhiệu quả thì con người phải coi trọng việc chủ động ngăn ngừa, phòng chống

ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường chứ không phải khi xảy ra sự cốmôi trường, ô nhiễm môi trường thì mới xử lý, phục hồi thì đã quá muộn Hơnnữa, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc thực hiện nguyên tắc này giúp Nhà nước

và xã hội tiết kiệm được các nguồn lực về kinh phí, thời gian, con người vàtrang thiết bị, kỹ thuật hiện đại trong việc xử lý, khắc phục ô nhiễm môitrường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường xảy ra

Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó

Đây là nguyên tắc cơ bản được nhiều nước sử dụng làm cơ sở xây dựngcác quy định về thuế, phí, lệ phí môi trường và các biện pháp xử lý hànhchính đối với các hành vi vi phạm Đây là nguyên tắc có tính hiệu quả cao bởi

nó đánh trực tiếp vào lợi ích vật chất của các tác nhân vi phạm Thông qua

Trang 19

việc xử phạt và bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, sự

cố môi trường và suy thoái môi trường mà tổ chức, cá nhân tự điều chỉnhhành vi của mình để không lặp lại những hành vi vi phạm tương tự trongtương lai nhằm tránh không phải chịu một khoản tiền bồi thường vật chất rấtlớn Qua đó, các tổ chức, cá nhân tự giáo dục nâng cao nhận thức về việc bảo

vệ môi trường, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiênnhiên

Bên cạnh đó, ngoài những nguyên tắc trên, việc quản lý môi trường ởViệt Nam còn được thực hiện dựa trên quan điểm của Đảng Tùy từng giaiđoạn phát triển khác nhau mà Đảng ta đưa ra những quan điểm chủ trương vềbảo vệ môi trường phù hợp Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môitrường dựa vào quan điểm này và các nguyên tắc trên để xây dựng chươngtrình, kế hoạch hành động cụ thể

1.2.2.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường

Mục tiêu của quản lý nhà nước về môi trường là sự phát triển bền vững,đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nóicách khác, phát triển kinh tế - xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để bảo vệ môitrường có hiệu quả, còn bảo vệ môi trường là nhằm duy trì các thành quả pháttriển kinh tế - xã hội lâu dài và bền vững Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốcgia mà mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và cónhững ưu tiên riêng

Một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường ở Việt Namhiện nay là:

Khắc phục và phòng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường,

sự cố môi trường phát sinh trong hoạt động sản xuất và đời sống của conngười

Trang 20

Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp về bảo vệ môi trường, ban hànhcác chính sách phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường,nghiêm chỉnh thi hành Luật bảo vệ môi trường.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu, đào tạo cán bộ vềmôi trường từ Trung ương đến địa phương

Phát triển đất nước theo nguyên tắc phát triển bền vững được Hội nghịthượng đỉnh về môi trường do Liên Hiệp quốc tổ chức tại Bra - xin năm 1992thông qua

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03-6-2013 của Ban Chấp

hành Trung ương khóa XI “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã nêu lên 03 mục tiêu cụ

thể về bảo vệ môi trường ở nước ta đến năm 2020, đó là:

Về ứng phó với biến đổi khí hậu Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báothiên tai, giám sát biến đổi khí hậu của các cơ quan chuyên môn Hình thànhcho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng, tránh thiên tai, thíchứng với iến đổi khí hậu

Về quản lý tài nguyên Đánh giá được tiềm năng, giá trị của các nguồntài nguyên quan trọng trên đất liền và tài nguyên biển Quy hoạch, quản lý vàkhai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốcgia

Về bảo vệ môi trường Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sởgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trườnglưu vực các sông được xử lý; tiêu huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại,100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt Nângcao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư Cảithiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn Quản lý khai thác

Trang 21

hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng diện tích các khu bảo tồnthiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 45% [8].

1.2.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về môi trường

Quản lý nhà nước về môi trường là hoạt động có tính chất liên ngành

và đa ngành

Đối tượng quản lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường rất đa dạng vàphức tạp, khó giới hạn về mặt không gian, cũng như thời gian, vừa mang tínhhữu hình, vừa mang tính vô hình Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước ởTrung ương cũng như địa phương phải có sự phối, kết hợp và quản lý đanxen Đơn cử như khi nước sông Thị Vải bị ô nhiễm, đòi hỏi rất nhiều cơ quanphải vào cuộc và phối, kết hợp để giải quyết Bộ Tài nguyên và Môi trường là

cơ quan chuyên môn quản lý chuyên ngành phải chịu trách nhiệm chính,nhưng các cơ quan khác phải vào cuộc để giải quyết, ngăn ngừa và khắc phụchậu quả ô nhiễm, cũng như việc xác định nguyên nhân gây ô nhiễm và mức

độ ô nhiễm đó là Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

Bộ Y tế, Bộ Công an, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân Tối cao Bên cạnh đó, chính quyền địa phương các cấp và chính người dân địa phươngnơi có sự cố môi trường phải tham gia tích cực để cùng phối kết hợp giảiquyết

Hệ thống cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường được thiết lập từ Trungương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, baogồm: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthông, Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Y tế,

Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát môi trường)

Các cơ quan ở địa phương bao gồm Hội đồng Nhân dân và Ủy banNhân dân các cấp, các Sở, Ban, ngành có liên quan như: Sở Tài nguyên vàMôi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, SởXây dựng, Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và công

Trang 22

nghệ, Sở Y tế, Sự đa ngành và liên ngành được thể hiện trong chức năng,nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan này liên quan đến vấn đề bảo vệmôi trường Do vậy, trong quá trình quản lý phải có sự phối, kết hợp liênngành để tạo sự thống nhất về quan điểm và cách thức quản lý nhằm mang lạihiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường Đồng thời phải tổ chức thực hiệnhết sức khoa học, tránh chồng chéo, mâu thuẫn với nhau.

Quản lý nhà nước về môi trường là sự biểu hiện tập trung cao nhất quyền lực và ý chí của con người đối với tự nhiên

Sản xuất vật chất là một tất yếu khách quan của loài người, để duy trì

sự tồn tại và phát triển Chính vật chất mà con người đã tác động vào môitrường tự nhiên, việc tác động này ngày một tăng lên để nhằm thỏa mãn nhucầu vật chất của bản thân và xã hội Nhưng không phải lúc nào con ngườicũng có ý thức bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiênnhiên và khắc phục sự cố môi trường Điều đó, dẫn đến hậu quả là tài nguyênthiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường ngày càng suy thoái, ô nhiễm Hậuquả là con người phải trả giá cho những hành động của mình gây ra đối vớimôi trường, do làm trái quy luật tự nhiên, bệnh tật ngày càng gia tăng, thiêntai, lũ lụt ngày càng nhiều, thời tiết, khí hậu ngày càng khắc nghiệt Cũngchính từ nhu cầu cuộc sống bản thân, con người phải nhận thức được rằng cần

có hành động bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống và phải có chiếnlược đối với công tác bảo vệ môi trường nếu không muốn đối mặt với nhữnghậu quả xấu từ môi trường do mình gây ra Pháp luật là ý chí, là công cụ đểNhà nước quản lý xã hội Bằng quyền lực của mình, Nhà nước bảo đảm chopháp luật được thực thi có hiệu lực, hiệu quả Thông qua các cơ quan trong bộmáy nhà nước từ Trung ương đến địa phương để thực hiện vai trò quản lý nhànước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường Các cá nhân, tổ chức, đơn vị nàokhông chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường sẽ bị xử lý theo quy địnhcủa pháp luật; bên cạnh đó, pháp luật cũng đòi hỏi chính các cơ quan nhà

Trang 23

nước, các chủ thể quản lý nhà nước phải chấp hành và thực thi nghiêm minhpháp luật Chính quá trình quản lý này là biểu hiện tập trung cao nhất ý chíquyền lực của con người đối với môi trường Vì vậy, pháp luật hay Nhà nướcchẳng qua chỉ là ý chí và quyền lực của con người biểu hiện mà thôi.

Quản lý nhà nước về môi trường đòi hỏi trình độ chuyên môn nghiệp

vụ kỹ thuật cao

Như chúng ta đều biết, môi trường là một lĩnh vực rất phức tạp, nó luônvận động, biến đổi, bị chi phối bởi quá trình vận động và biến đổi của tựnhiện Do đó, hoạt động quản lý trên lĩnh vực này hết sức phức tạp đòi hỏiphải sử dụng đồng bộ nhiều loại phương tiện, công cụ hỗ trợ và phải có sựvào cuộc của nhiều cấp, nhiều ngành cùng phối hợp thì mới mang lại hiệuquả Một trong những công cụ hỗ trợ quan trọng nhất đó là công cụ kỹ thuật,phải có công cụ kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ mới có thể giúp hỗ trợ cho cơ quanquản lý nhà nước trong công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát chất lượngmôi trường được tốt; đồng thời, giúp xác định chính xác mức độ gây ô nhiễm

để có chế tài xử lý thích hợp nhằm bảo vệ môi trường Phải có đầy đủ cácphương tiện kỹ thuật để có thể xác định được hiện trạng môi trường, hàmlượng, trữ lượng, các tiêu chuẩn kỹ thuật trong đánh giá tác động môi trường,các thiết bị quan trắc môi trường Phải có công cụ kỹ thuật hỗ trợ mới cungcấp cho con người những thông tin có cơ sở khoa học, từ đó các cơ quan quản

lý nhà nước về môi trường mới đề ra được các giải pháp, phương án bảo vệmôi trường một cách khả thi và hiệu quả Việc sử dụng phương tiện kỹ thuật

sẽ giúp cho việc giám định, đánh giá để đưa ra những kết luận chính xác mức

độ thiệt hại do những hành vi vi phạm gây ra Hơn nữa, việc sử dụng công

cụ, phương tiện hỗ trợ kiểm soát, đánh giá tác động môi trường có ý nghĩađặc biệt quan trọng, nhằm giảm thiểu những tiêu cực tới môi trường, hạn chếcác tác động tiêu cực của dự án, hoạt động phát triển tới môi trường

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường

Trang 24

Theo Điều 139, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định nhữngnội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với những vấn đề cơ bảnnhư sau:

1.2.3.1 Nhà nước xây dựng, ban hành hệ thống chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường

Để bảo vệ môi trường, Nhà nước sử dụng tổng hợp các biện pháp nhưchính trị, kinh tế, giáo dục, công nghệ , các biện pháp này sẽ hỗ trợ, tươngtác cho nhau, nhằm giữ cho môi trường trong lành, ngăn chặn và khắc phụcnhững hậu quả xấu do con người, thiên nhiên gây ra Trong các biện pháp bảo

vệ môi trường thì mỗi biện pháp có điểm mạnh và điểm hạn chế riêng, trong

đó pháp luật là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước mang lại hiệuquả nhất Pháp luật bảo vệ môi trường là những quy tắc xử sự mang tính bắtbuộc chung do Nhà nước ban hành hay thừa nhận, thể hiện ý chí chung củatoàn xã hội, thông qua Nhà nước phản ánh sự phù hợp với các quy luật tựnhiên, quy luật của đời sống xã hội, phản ánh nguyện vọng được sống trongmôi trường trong lành của con người nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa pháttriển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bềnvững Nó là các văn bản quy định những điều được làm và những điều khôngđược làm và những điều kiện bắt buộc phải thực hiện để bảo vệ môi trường;đồng thời, quy định các chế tài để buộc những người không thực hiện hoặcthực hiện không đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường phảigánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với hành vi do mình gây ra cho môitrường

Để quản lý nhà nước về môi trường đạt được hiệu quả, đảm bảo mụctiêu phát triển bền vững, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước

đó là phải xây dựng và ban hành một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ

và hoàn chỉnh, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có tính khả thi caotrong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

Trang 25

nước ta hiện nay Đồng thời phải có chiến lược, sách lược và tầm nhìn vềcông tác bảo vệ môi trường lâu dài, với mục tiêu nhất quán phát triển phải điđôi với bảo vệ môi trường Việc xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường đánhdấu một bước chuyển quan trọng của Nhà nước trong cả nhận thức lý luận vànhận thức về tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam trongquá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và thấy rõ tầm quan trọng củaviệc bảo vệ môi trường.

1.2.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Hiệu quả điều chỉnh của các văn bản pháp luật đến đâu, nó có được đivào cuộc sống hay không thì một trong những việc làm mang tính quyết định,

đó là tổ chức thực hiện pháp luật hay nói cách khác là đưa pháp luật đi vàothực tiễn đời sống Tổ chức thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước vềmôi trường là một hình thức của thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Nó được thực hiện ởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với tư cách là chủthể quản lý nhà nước có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường Đây là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, đượctiến hành theo các trình tự thủ tục luật định Để tăng cường hiệu quả và nhằmđưa pháp luật thực sự là công cụ quản lý của Nhà nước trong bảo vệ môitrường thì việc tổ chức thực hiện lĩnh vực pháp luật này không chỉ diễn ra đốivới cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn phải biết huy động nguồn lực

xã hội, các tổ chức chính trị, đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, tổ chứcphi chính phủ và mọi cá nhân tham gia bảo vệ môi trường Mặt khác, để tổchức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường có hiệu quả, tránh tình trạngchồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và đùn đẩy trách nhiệm, thiếu sự phốihợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành với nhau, Nhà nước cầnphân công cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan nhà nước có thẩmquyền trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Tổ chức, xây dựng cơchế phối hợp đảm bảo thực hiện công tác bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát

Trang 26

triển bền vững đất nước Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện quản

lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trình độ, năng lực chuyên môn, nắmvững pháp luật môi trường, có phẩm chất đạo đức trong sáng, bản lĩnh chínhtrị vững vàng

1.2.3.3 Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môitrường là một trong những nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.Hoạt động này nhằm theo dõi việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trườngcủa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; việc tuân thủ lĩnh vực pháp luật nàycủa mọi tổ chức và cá nhân; đồng thời, phát hiện những hành vi vi phạm để

có những biện pháp ngăn chặn hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩmquyền xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm Mặt khác, thông qua hoạt động giámsát, thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực này, Nhà nước thiết lập sự ổn định trật tự

xã hội, bảo đảm an ninh môi trường Để công tác quản lý nhà nước bằngpháp luật về bảo vệ môi trường đạt hiệu quả, đảm bảo hiệu lực điều chỉnh củacác văn bản quy phạm pháp luật thì hoạt động kiểm tra, thanh tra và giám sát

là rất quan trọng Nếu thiếu hoạt động này sẽ dẫn đến tình trạng không chấphành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Việc kiểm tra, thanhtra và giám sát trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm đảm bảothực hiện và tuân thủ nghiêm các quy định của các cơ quan nhà nước, tổ chức

và cá nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.2.4 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường

Cơ quan quản lý nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước,được thành lập để thực hiện các chức năng của Nhà nước; trong đó có chứcnăng quản lý xã hội Các cơ quan quản lý nhà nước được thành lập thốngnhất từ trung ương đến địa phương và hoạt động theo nguyên tắc “song trùngtrực thuộc” Điều này có nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước các cấp chịu sự

Trang 27

quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý cấp trên; đồng thời,

nó có chức năng tham mưu, giúp việc và chịu sự lãnh đạo, quản lý về nhân

sự, tổ chức, cơ sở vật chất của cơ quan hành chính cùng cấp (chính quyền cácđịa phương) Trong lĩnh vực môi trường, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước

về ảo vệ môi trường cũng được thành lập dựa trên nguyên tắc cơ ản này Căn

cứ vào thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và quyền h n do pháp luật quy định,

hệ thống cơ quan này được phân chia cụ thể như sau:

1.2.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

Thuật ngữ “cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung” được sửdụng để chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về mọi lĩnh vực của đờisống xã hội theo địa giới hành chính ở mỗi địa phương và trong phạm vi cảnước Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung được thựchiện theo các cấp đơn vị hành chính (Ở cấp trung ương là Chính phủ; Ở cấptỉnh là Ủy an nhân dân cấp tỉnh; Ở cấp huyện là UBND cấp huyện; Ở cấp xã

là UBND cấp xã) Cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung được thànhlập theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, có chức năng quản lý hànhchính nhà nước tổng hợp đối với xã hội; được sử dụng quyền lực nhà nước đểđiều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi xử sự của con người trong chứcnăng hành pháp và hành chính Các cán bộ, công chức lãnh đạo được hìnhthành theo cơ chế bầu cử hoặc kết hợp giữa bầu và bổ nhiệm; phương thứclãnh đạo theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số và trách nhiệm cánhân của người đứng đầu; và thường ký thay mặt tập thể lãnh đạo trên cácvăn bản hành chính nhà nước

Xét trong lĩnh vực môi trường, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bao gồm:

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về môi trường

Trang 28

Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước” (Điều 140).

Theo Điều 9 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2014, Chính phủ có các nhiệm vụ

về quản lý tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, như sau:Thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biếnđổi khí hậu; tổ chức quy hoạch, kế hoạch và xây dựng chính sách bảo vệ, cảithiện và nâng cao chất lượng môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai,ứng phó với biến đổi khí hậu

Quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường;bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; phát triển năng lượng sậch, sản xuấtsạch, tiêu dùng sạch; phát triển các dịch vụ môi trường và xử lý chất thải

Thống nhất quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, dự áokhí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và đánh giá tác động môi trường để chủđộng triển khai có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và ứng phóvới biến đổi khí hậu

Quyết định chính sách cụ thể về bảo vệ, cải thiện và giữ gìn môitrường; chỉ đạo tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khuvực trọng điểm; kiểm soát ô nhiễm, ứng cứu và khắc phục sự cố môi trường

Thi hành chính sách về bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụng hợp lý cácnguồn tài nguyên thiên nhiên

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật,chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường

Tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch vànhiệm vụ về bảo vệ môi trường

Trang 29

Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương phùhợp với quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia.

Tổ chức đánh giá và lập báo cáo môi trường Truyền thông, phổ biến,giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường

Tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáođánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môitrường, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trườngtheo thẩm quyền

Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trườngtheo thẩm quyền

Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giảiquyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật

về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; phối hợp với Ủyban nhân dân cấp tỉnh liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh

Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môitrường nghiêm trọng trên địa bàn

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

Ban hành theo thẩm quyền quy định, chương trình, kế hoạch về bảo vệmôi trường

Tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ vềbảo vệ môi trường

Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theothẩm quyền

Trang 30

Hàng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường.Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môitrường.

Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giảiquyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo vệ môi trường theo quy định củapháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện có liên quan giải quyết cácvấn đề môi trường liên huyện

Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy bannhân dân cấp xã

Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu để xảy ra ônhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

Xây dựng kế hoạch , thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệsinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệmôi trường trong hương ước; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môitrường vào đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư và giađình văn hóa

Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theo ủyquyền; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ giađình, cá nhân

Phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấptrên trực tiếp

Hòa giải tranh chấp về môi trường phát sinh trên địa bàn theo quy địnhcủa pháp luật về hòa giải

Trang 31

Quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố

và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trên địabàn

Hàng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệmôi trường

Chủ trì, phối hợp với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tổchức công khai thông tin về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ với cộng đồng dân cư

Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp huyện nếu để xảy ra ônhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn

1.2.4.2 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng trong lĩnh vực

về môi trường

Thuật ngữ “Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng” được

sử dụng để chỉ các cơ quan quản lý nhà nước về một lĩnh vực chuyên ngành.Các cơ quan này vừa được thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một lĩnhvực theo thẩm quyền chuyên môn vừa tham mưu, giúp việc cho Chính phủ vàUBND các cấp quản lý nhà nước về mặt lãnh thổ trong phạm vi cả nước và ởtừng địa phương Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêngđược thành lập theo Hiến pháp và pháp luật, có chức năng quản lý hành chínhnhà nước về ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn; được sử dụng quyền lực nhànước để điều chỉnh một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định; các cán bộ,công chức lãnh đạo được hình thành chủ yếu theo cơ chế bổ nhiệm (chỉ có Bộtrưởng phải được Thủ tướng giới thiệu để Quốc hội phê chuẩn); phương thứclãnh đạo theo chế độ thủ trưởng; và thường ký trực tiếp, không ký thay mặttrên các văn bản quản lý hành chính Xét trong lĩnh vực môi trường, hệ thống

cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng trong lĩnh vực bảo vệ môitrường, bao gồm:

Trang 32

Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: tài nguyên đất đai; tài nguyênnước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biếnđổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hảiđảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm

vi quản lý của Bộ Tổng cục Môi trường là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên

và Môi trường được thành lập dựa trên nguyên tắc một lĩnh vực, một côngviệc chuyên môn được giao cho một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm thốngnhất, điều phối hoạt động quản lý và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về lĩnh vực quản lý nhà nước về môitrường Tổng cục Môi trường thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường thống nhất quản lý nhà nước và tổ chức thựcthi pháp luật về môi trường trong phạm vi cả nước; quản lý, thực hiện cácdịch vụ công về môi trường theo quy định của pháp luật

Điều 141 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định trách nhiệm quản

lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệmtrước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

và có trách nhiệm sau:

Chủ trì xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ văn bản quyphạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch , chương trình,

đề án quốc gia về bảo vệ môi trường

Chủ trì xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩmquyền, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; ban hành văn bản hướngdẫn kỹ thuật theo thẩm quyền

Trang 33

Chủ trì giải quyết hoặc đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giảiquyết các vấn đề môi trường liên ngành, liên tỉnh.

Chỉ đạo, hướng dẫn và xây dựng hệ thống quan trắc môi trường quốcgia, thông tin môi trường và báo cáo môi trường; chỉ đạo, tổ chức đánh giáhiện trạng môi trường quốc gia và địa phương

Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền hoạt độngxây dựng, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báocáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giátác động môi trường; xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; kiểm tra, xácnhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường

Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền việc cấp, giahạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường

Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hoạt động bảo tồn đa dạngsinh học, an toàn sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện vàphục hồi môi trường

Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chính sách, chương trình, môhình thử nghiệm về sản xuất và tiêu thụ bền vững, thân thiện với môi trường;hướng dẫn, chứng nhận sản phẩm, cơ sở thân thiện với môi trường; chỉ đạo,hướng dẫn hoạt động cải thiện sức khỏe môi trường

Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bảo vệ môi trường theoquy định của pháp luật

Chỉ đạo và hướng dẫn việc lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trườngtrong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia, chiến lược quốc gia về tàinguyên nước và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh; chiến lược tổngthể quốc gia về điều tra cơ ản, thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyênkhoáng sản

Trang 34

Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá, theo dõi tìnhhình thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc; truyềnthông, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.

Trình Chính phủ việc tham gia tổ chức quốc tế, ký kết hoặc gia nhậpđiều ước quốc tế về môi trường; chủ trì hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệmôi trường

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Điều 142 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định trách nhiệm quản

lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngangộ; cụ thể:

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành thông tư, thông tưliên tịch về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực bộ, ngành quản lý

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện các nhiệm vụ đượcquy định tại Luật này và phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộcphạm vi quản lý của mình; hằng năm báo cáo Chính phủ các hoạt động quản

lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thuộc bộ, ngành quản lý

Trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được quyđịnh như sau:

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường trongchiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cảnước, vùng và dự án, công trình thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội,

Trang 35

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoạt động thu hút đầu tư và tổ chức triểnkhai việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợpvới Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiệnpháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, nhập khẩu, sử dụnghóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, phân bón, chất thải trong nôngnghiệp và các hoạt động khác trong lĩnh vực quản lý

Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, phát triển ngành công nghiệpmôi trường và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tronglĩnh vực quản lý

Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trườngtrong hoạt động xây dựng kết cấu h tầng về cấp nước, thoát nước, xử lý chấtthải rắn và nước thải tại đô thị, khu sản xuất dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuấtvật liệu xây dựng, làng nghề và khu dân cư nông thôn tập trung và hoạt độngkhác trong lĩnh vực quản lý

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệmôi trường trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý phương tiệngiao thông vận tải và hoạt động khác trong lĩnh vực quản lý

Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên vàMôi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban

Trang 36

nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trườngtrong hoạt động y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm, hoạt động mai táng, hỏatáng; tổ chức việc thống kê nguồn thải, đánh giá mức độ ô nhiễm, xử lý chấtthải của bệnh viện, cơ sở y tế và hoạt động khác trong lĩnh vực quản lý.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện phápluật về bảo vệ môi trường trong hoạt động văn hóa, lễ hội, thể thao, du lịch vàhoạt động khác trong lĩnh vực quản lý

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môitrường trong lĩnh vực quốc phòng theo quy định của pháp luật; huy động lựclượng tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố môi trường theo quy địnhcủa pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môitrường trong lực lượng vũ trang thuộc thẩm quyền quản lý

Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt độngphòng chống tội phạm về môi trường và bảo đảm an ninh trật tự trong lĩnhvực môi trường; huy động lực lượng tham gia hoạt động ứng phó với sự cốmôi trường theo quy định của pháp luật; chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra, thanhtra công tác bảo vệ môi trường trong lực lượng vũ trang thuộc thẩm quyềnquản lý

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện các nhiệm vụ đượcquy định tại Luật này và phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trongphạm vi quản lý

Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường trong quản

lý nhà nước về môi trường

Trang 37

Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấptỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước

về tài nguyên và môi trường, bao gồm: tài nguyên đất đai; tài nguyên nước;tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khíhậu; đo đạc và ản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (đốivới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, đảo); quản lý và tổchức thực hiện các dịch vụ công về các lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng củaSở

Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng Tài nguyên và Môi trường trong quản lý nhà nước về môi trường

Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lýnhà nước về tài nguyên và môi trường, bao gồm: tài nguyên đất đai; tàinguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủyvăn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất vềbiển và hải đảo (đối với các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương có biển)

Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ tài nguyên và môi trường xã, phường, thị trấn trong quản lý nhà nước về môi trường

Cán bộ tài nguyên và môi trường xã, phường, thị trấn (sau đây gọi làcán bộ môi trường cấp xã) là công chức nhà nước cấp cơ sở thuộc UBND cấp

xã, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước vềtài nguyên và môi trường, bao gồm: tài nguyên đất đai; tài nguyên nước; tàinguyên khoáng sản; môi trường; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển vàhải đảo (đối với các xã, phường, thị trấn có biển, đảo)

1.2.5 Điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về môi trường

Trang 38

Quản lý nhà nước về môi trường phải bảo đảm điều kiện chính trị vàđiều kiện pháp lý.

1.2.5.1 Điều kiện về mặt chính trị

Đường lối, chủ trương của Đảng là định hướng chính trị choạch iếnlược, chính sách về bảo vệ môi trường của Nhà nước ta, bảo đảm thực hiệnthành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng đề racương lĩnh, đường lối và những chủ trương định hướng cho công tác bảo vệmôi trường làm cơ sở cho Nhà nước thể chế hóa bằng các quy định của phápluật mang tính bắt buộc chung để triển khai thực hiện trên thực tế Nhữngnăm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định bảo vệ môi trường v a làmục tiêu, v a là một trong những nội dung cơ ản của sự phát triển bền vững.Nội dung về bảo vệ môi trường phải được thể hiện trong các chiến lược, quyhoạch, kế hoạch , dự án phát triển kinh tế - xã hội của t ng ngành, t ng địaphương Điều này thể hiện qua các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Chấphành Trung ương Đảng về công tác bảo vệ môi trường, cụ thể: Nghị quyết số

41-NQ/TW, ngày 15-11-2004 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Để thực hiện mục tiêu phát triển ền

vững mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, đồng thời thựchiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về bảo vệ môi trường,

tháng 8-2004 Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” hay còn gọi là Chương trình Nghị sự 21 của

Việt Nam Đây là cơ sở chính trị, pháp lý để các ộ, ngành, địa phương phốihợp hành động bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21 T i Hộinghị Trung ương 07, khóa XI, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị

quyết số 24-NQ/TW ngày 03-6-2013 “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” Chiến lược bảo

vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày

Trang 39

02-12-2003; Nghị quyết số 35/NQ-CP, ngày 18-3-2013 của Chính phủ “Về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về “Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường” Pháp luật về bảo vệ môi trường thể chế hóa quan điểm,

đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu pháttriển bền vững đất nước

1.2.5.2 Điều kiện về mặt pháp lý

Cơ sở của quản lý nhà nước về môi trường là hệ thống văn bản quyphạm pháp luật về lĩnh vực này Điều này có nghĩa là nói đến quản lý nhànước thì trước hết phải có hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh, đồng ộ vàđầy đủ, có tính khả thi cao Bởi lẽ, nếu không có hệ thống pháp luật này thìNhà nước sẽ không có phương tiện pháp lý để quản lý môi trường nói chung

và bảo vệ môi trường nói chung Hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta

ao gồm các điều ước quốc tế, công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam

ký kết hoặc tham gia và các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường docác cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Do môi trường là vấn đề toàncầu; ởi lẽ, môi trường tự nhiên là một thể thống nhất không thể tách rời; ônhiễm môi trường ở quốc gia này có ảnh hưởng đến môi trường của các quốcgia láng giềng, ảnh hưởng đến môi trường khu vực và thế giới Việc quản lýmôi trường mang tính chất “quản lý mềm”, có nghĩa là việc phân cấp quản lýmôi trường choạch ính quyền t ng địa phương chỉ mang hết sức tương đốinhằm xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân Muốn quản lýlĩnh vực này có hiệu quả phải có sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trên thếgiới; sự phối, kết hợp giữa các ộ, ngành và địa phương trong cả nước Để tạo

cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường có hiệu quả, cácquốc gia đàm phán, thương lượng, ký kết và tham gia các công ước quốc tế,điều ước quốc tế về môi trường Những quy định này được giới luật học t m

Trang 40

gọi là pháp luật quốc tế về môi trường nhằm phân iệt với các quy định vềmôi trường do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ta ban hành.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quyphạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các quốc gia vớicác tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ… trong việc ngăn chăn, loại trnhững ảnh hưởng, tác động gây ra cho môi trường trong phạm vi quốc gia vàtrên thế giới Đây chính là các điều ước quốc tế, hiệp ước quốc tế và công ướcquốc tế do các quốc gia đàm phán, so n thảo, ký kết hoặc tham gia nhằm rànguộc trách nhiệm pháp lý của t ng quốc gia đối với việc bảo vệ môi trườngtrên trái đất Bên c nh đó, còn có các tập quán quốc tế trong lĩnh vực môitrường được các quốc gia công nhận và ràng buộc về mặt pháp lý; các phánquyết của các tòa án quốc tế, trọng tài quốc tế về môi trường… Để thực hiệncác cam kết và trách nhiệm của một quốc gia thành viên với cộng đồng quốc

tế, Việt Nam t ng ước “nội luật hóa” nội dung các điều ước quốc tế, côngước quốc tế về bảo vệ môi trường mà mình đã ký kết hoặc tham gia trong cácquy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; đồng thời, xác lập nguyên tắctrong trường hợp quy định của Luật bảo vệ môi trường trái hoặc mâu thuẫnvới điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì ápdụng quy định của điều ước quốc tế

Pháp luật quốc gia về bảo vệ môi trường là tổng hợp các quy phạmpháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong khaithác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững củađất nước Hệ thống Luật quốc gia về bảo vệ môi trường, ao gồm Luật bảo vệmôi trường và các đạo luật chuyên ngành như Luật đất đai, Luật tài nguyênnước, Luật đa dạng sinh học, Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo,Luật khoáng sản, Luật bảo vệ và phát triển r ng, Luật đa d ng sinh học và cácvăn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này Hệ thống các văn ản quy phampháp luật về bảo vệ môi trường do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban

Ngày đăng: 30/10/2023, 14:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w