Trong trường THPT, GDHN có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho HS tri thức về thế giới nghề nghiệp, những hiểu biết về về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, các trường đào tạo và nh
Trang 1PHẠM VĂN KHANH
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHU VỰC TRUNG NAM BỘ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu và kết quả nêu trong Luận án này là trung thực
Nếu nội dung Luận án có sự sai sót, sao chép thành quả của người khác, tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả Luận án
Phạm Văn Khanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án này được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân, quí thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và các em học sinh, tác giả luận
án xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng tới:
Với tấm lòng tri ơn sâu sắc, xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ và PGS.TS Nguyễn Thị Tính đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận án
Xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Cán bộ chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh khu vực Trung Nam bộ, các bạn đồng nghiệp, quí Thầy Cô và các em học sinh các trường Trung học phổ thông đã giúp đỡ tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành Luận án này
Trân trọng!
Tác giả Luận án
Phạm Văn Khanh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ x
Danh mục các sơ đồ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn nghiên cứu 4
6.1 Về phạm vi 4
6.2 Về địa bàn 4
6.3 Về thời gian 5
7 Các luận điểm bảo vệ 5
8 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5
8.1 Quan điểm tiếp cận 5
8.2 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Những đóng góp của luận án 7
9.1 Về lý luận 7
9.2 Về thực tiễn 7
10 Kết cấu luận án 8
Trang 5Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG 9
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển các tư tưởng hướng nghiệp 9
1.1.2 GDHN của một số nước trên thế giới 11
1.1.3 GDHN trong các trường phổ thông Việt Nam 13
1.1.4 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam về GDHN trong dạy học các môn học ở trường phổ thông 15
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 16
1.2.1 Về khái niệm hướng nghiệp 16
1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp 18
1.2.3 GDHN qua môn học 19
1.2.4 Quy trình GDHN trong dạy học các môn học 19
1.2.5 Phân luồng HS sau trung học 20
1.2.6 Các khái niệm liên quan với GDHN 20
1.3 GDHN trong trường THPT 22
1.3.1 Mục đích, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ GDHN 22
1.3.2 Nội dung GDHN ở trường THPT 27
1.3.3 Con đường, nguyên tắc và biện pháp GDHN ở trường THPT 31
1.4 GDHN trong dạy học các môn học ở trường THPT 33
1.4.1 Sự cần thiết phải GDHN trong dạy học các môn học ở trường THPT 33
1.4.2 Khả năng GDHN trong dạy học các môn học ở trường THPT 34
1.4.3 Cách thức lồng ghép, tích hợp GDHN trong dạy học các môn học ở trường THPT 35
1.4.4 GDHN cho HS trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT 36
Tiểu kết chương 1 41
Trang 6Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ
NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHU VỰC
TRUNG NAM BỘ 43
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn 43
2.1.1 Mục đích và nội dung nghiên cứu 43
2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 44
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 47
2.2 Thực trạng nhận thức về GDHN cho HS THPT khu vực Trung Nam Bộ 49
2.2.1 Nhận thức của GV và CB quản lý giáo dục về GDHN 49
2.2.2 Nhận thức của HS và phụ huynh 52
2.3 Thực trạng GDHN trong dạy học các môn khoa học ở trường THPT khu vực Trung Nam Bộ 54
2.3.1 Thực trạng GDHN qua các môn khoa học trong trường THPT 54
2.3.2 Thực trạng GDHN trong dạy học các môn KHTN 54
2.3.3 Thực trạng về sử dụng các hình thức, phương pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN 56
2.3.4 Thực trạng về kết quả GDHN trong dạy học các môn khoa học 58
2.3.5 Thực trạng về kết quả phân luồng HS sau THPT 64
2.4 Thực trạng về sử dụng các biện pháp GDHN trong dạy học các môn khoa học ở trường THPT khu vực Trung Nam Bộ 67
2.4.1 Thực trạng sử dụng các biện pháp GDHN 67
2.4.2 Những khó khăn và nguyên nhân của thực trạng 69
Tiểu kết chương 2 71
Trang 7Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHU VỰC TRUNG
NAM BỘ 72
3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất biện pháp GDHN 72
3.1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất biện pháp 72
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.2 Các biện pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT khu vực Trung Nam Bộ 74
3.3 Giai đoạn 1: Biên soạn tài liệu và xây dựng quy trình GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT 77
3.3.1 Mục đích yêu cầu biên soạn tài liệu và xây dựng Quy trình 77
3.3.2 Nguyên tắc, tiêu chuẩn, cấu trúc nội dung GDHN trong Quy trình 78
3.3.3 Các bước thực hiện Quy trình 81
3.3.4 Xây dựng chuẩn đánh giá, thang đánh giá Quy trình 85
3.4 Giai đoạn 2: Thực nghiệm sư phạm 90
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 90
3.4.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm sư phạm 90
3.4.3 Cách thức đánh giá tính khả thi của Quy trình 90
3.4.4 Thực nghiệm vòng 1 91
3.4.5 Thực nghiệm vòng 2 97
3.4.6 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm và tính khả thi của Quy trình 102
Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Khuyến nghị 109
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
01 CB, GV, HS Cán bộ, giáo viên, học sinh
02 GDTX, GDTX-HN Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp
03 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
09 TCCN, CĐ, ĐH Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học
10 THPT, THCS Trung học phổ thông, Trung học cơ sở
11 Quy trình Quy trình giáo dục hướng nghiệp
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Danh sách và đặc điểm của 12 trường được khảo sát 49
Bảng 2.2: Thực trạng về sử dụng phương pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN 56
Bảng 2.3: Thực trạng về sử dụng hình thức GDHN trong dạy học các môn KHTN 57
Bảng 2.4: Tỷ lệ % chọn phân ban của HS THPT theo địa bàn năm học 2009-2010 58
Bảng 2.5: Tỷ lệ % chọn phân ban của HS THPT theo tỉnh thuộc khu vực Trung Nam bộ năm học 2009-2010 59
Bảng 2.6: Mức độ ảnh hưởng của đặc điểm ngành nghề đào tạo đối với việc chọn ngành, nghề của HS 61
Bảng 2.7: Những hướng dự định của HS lớp 12 sau khi tốt nghiệp THPT theo năng lực học tập 62
Bảng 2.8: Tỷ lệ% phân luồng HS sau THPT khu vực Trung Nam bộ qua 3 năm học 65
Bảng 3.1: Bảng mô tả chi tiết cấu trúc nội dung GDHN được lồng ghép 80
Bảng 3.2: Thang đánh giá và tiêu chí đánh giá, xếp loại bài soạn 86
Bảng 3.3: Thang đánh giá và tiêu chí đánh giá xếp loại bài giảng 87
Bảng 3.4: Thang đánh giá và tiêu chí đánh giá Quy trình 88
Bảng 3.5: Thang đánh giá và tiêu chí tự đánh giá của HS sau khi dự tiết học có lồng ghép nội dung GDHN theo Quy trình 89
Bảng 3.6: Số lượng GV, HS của 6 trường tham gia thực nghiệm 91
Bảng 3.7: Kết quả tự đánh giá của HS qua 6 tiết Vật lý thực nghiệm 95
Bảng 3.8: Kết quả tự đánh giá của HS qua 6 tiết Sinh học thực nghiệm 96
Bảng 3.9: Số lượng GV, HS của 3 trường tham gia thực nghiệm 98
Bảng 3.10: Kết quả tự đánh giá của HS qua 6 tiết Vật lý 100
Trang 10Bảng 3.11: Kết quả tự đánh giá của HS qua 6 tiết Sinh học (vòng 2) 101Bảng 3.12: So sánh kết quả thực nghiệm sƣ phạm soạn, giảng môn
Vật lý 103Bảng 3.13: So sánh kết quả thực nghiệm sƣ phạm soạn, giảng môn
Sinh học 103Bảng 3.14: So sánh kết quả tự đánh giá của HS qua thực nghiệm sƣ
phạm môn Vật lý 104Bảng 3.15: So sánh kết quả tự đánh giá của HS qua thực nghiệm sƣ
phạm môn Sinh học 104
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thái độ sẵn sàng của HS lớp 12 trong chọn trường dự thi 63
Biểu đồ 3.1: Kết quả đánh giá Quy trình của GV và chuyên gia 102
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Hướng nghiệp theo quan điểm mới 14
Sơ đồ 1.2: Các bộ phận hợp thành hệ thống hướng nghiệp 23
Sơ đồ 1.3: Nhiệm vụ của GV THPT trong công tác hướng nghiệp 26
Sơ đồ 1.4: Miền chọn nghề tối ưu của HS 30
Sơ đồ 1.5: Hệ thống tổ chức hoạt động GDHN trong trường THPT 30
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ chi tiết 6 bước thực hiện lồng ghép nội dung GDHN vào soạn, giảng 83
Sơ đồ 3.2: Quy trình lồng ghép nội dung GDHN trong soạn, giảng của GV 84
Trang 121.1 GDHN là một trong những thành phần tạo nên giáo dục toàn diện
nhằm hình thành và phát triển nhân cách HS GDHN giúp HS lựa chọn nghề đúng đắn, phù hợp với năng lực của bản thân và yêu cầu của xã hội GDHN góp phần cho việc phân luồng HS sau trung học được hợp lý
Trong trường THPT, GDHN có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho HS tri thức về thế giới nghề nghiệp, những hiểu biết về về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, các trường đào tạo và nhu cầu lao động của xã hội bên cạnh hệ thống tri thức nền tảng của học vấn phổ thông
Tổng thể những tri thức và kỹ năng đó bước đầu giúp cho HS lựa chọn con đường và hướng đi phù hợp sau trung học
1.2 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1980)
đều nhấn mạnh nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với
lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” [37], [38] Vận dụng quan
điểm nói trên của Đảng, ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 126/CP chính thức đưa công tác GDHN vào trường phổ thông
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng nêu rõ: “Coi trọng
công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [41] Hiện nay, đứng trước yêu
cầu về thực hiện 3 đột phá chiến lược và nhiệm vụ “Đổi mới căn bản và toàn
diện nền giáo dục quốc dân” [42] theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn
quốc lần thứ XI của Đảng, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung và chất lượng, hiệu quả GDHN nói riêng càng trở nên cấp thiết Đặc biệt đối với khu vực Trung Nam bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi đang chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, xây dựng
Trang 13nông thôn mới, nhu cầu đào tạo nhân lực tăng cao nhưng công tác GDHN còn yếu kém
1.3 Hoạt động GDHN cho HS hiện nay được thực hiện ở các trường
phổ thông, các trung tâm KTTH-HN, các trường đào tạo, các cơ sở sản xuất
và các doanh nghiệp
Nhưng trong trường phổ thông, hoạt động GDHN đa dạng hơn, toàn diện và sâu sắc hơn như: giảng dạy kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp; tổ chức dạy nghề phổ thông; hoạt động hướng nghiệp; tư vấn hướng nghiệp và GDHN trong dạy học các môn khoa học… Tất cả điều đó cho thấy vai trò và vị trí quan trọng của nhà trường phổ thông trong GDHN, đặc biệt là trường THPT, nơi mà HS sắp sửa ra trường, phải lựa chọn cho mình một trường đào tạo, một nghề nghiệp trong tương lai
1.4 Trong hơn 30 năm qua, công tác GDHN ở trường phổ thông đã có
nhiều đổi mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng qua thực hiện đổi mới chương trình, giảm tải nội dung, giảm lý thuyết tăng thực hành và GDHN cho
HS theo hướng: “Học để biết, học để làm, học để sống chung và học để tự khẳng
định mình” [58] Tuy nhiên chất lượng của công tác này chưa cao và chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn, công tác hướng nghiệp và phân luồng HS sau trung học đang đứng trước những yếu kém kéo dài Một trong những lý do quan trọng của thực trạng này là do công tác tổ chức GDHN ở trường THPT chưa phù hợp, kém hiệu quả Đặc biệt, trường THPT chưa khai thác được tiềm năng, ưu thế GDHN qua môn học nhất là lồng ghép, tích hợp các nội dung GDHN vào công tác soạn, giảng của GV Công tác quản lý GDHN cũng còn nhiều vấn đề cần tháo gỡ
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và chưa có những nghiên cứu sâu về GDHN qua môn học ở trường THPT Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về GDHN như: Năm
Trang 142009 ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có công trình “Biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho HS THPT miền núi Tây Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Nhung; công trình “Xây dựng mô hình tư vấn nghề trong nhà trường THPT khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền ở Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; công trình “Quản lý GDHN THPT tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” của tác giả Hồ Văn Thống ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội Các công trình nói trên đồng thời cũng là luận án Tiến sĩ nhưng không có công trình nào nghiên cứu về GDHN trong dạy học các môn khoa học ở trường THPT
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài luận án với nội dung vận dụng những nguyên tắc, lý luận cơ bản của GDHN trong dạy học
các môn khoa học ở trường THPT Đề tài được diễn đạt với tên gọi: “Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học các môn khoa học tự nhiên ở trường Trung học phổ thông khu vực Trung Nam bộ”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các lý luận và thực tiễn GDHN trong trường phổ thông, Luận án đề xuất một hệ thống các biện pháp bồi dưỡng, chuyển giao quy trình GDHN cho GV nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GDHN cho HS trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT khu vực Trung Nam bộ
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN trong trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT khu vực Trung Nam bộ
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Chất lượng, hiệu quả GDHN cho HS trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT khu vực Trung Nam bộ có thể được nâng cao nếu xây dựng
Trang 15được biện pháp GDHN theo quy trình phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu hướng nghiệp, phát huy được ưu thế của GDHN trong dạy học các môn khoa học và quy trình đó được chuyển giao cho GV vận dụng trong soạn, giảng
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Xác định các cơ sở lý luận, xây dựng các khái niệm công cụ về
hướng nghiệp và GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT
5.2 Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề GDHN trong dạy học các môn
KHTN cho HS THPT khu vực Trung Nam bộ
5.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp GDHN trong dạy học các môn
KHTN ở trường THPT
5.4 Thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi của quy trình GDHN
trong dạy học các môn KHTN
6 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
6.1 Về phạm vi
Các môn KHTN hiện nay trong trường THPT gồm có 4 môn: Toán học, Vật lý, Hóa học và Sinh học, nhưng do thời gian nghiên cứu không nhiều, nên chúng tôi chỉ chọn 2/4 môn để nghiên cứu Trong 4 môn học này, môn Toán được xem như môn công cụ nên không chọn Trong 3 môn còn lại, môn Vật lý và Sinh học được chọn vì 2 môn này vừa đặc trưng cho KHTN vừa phù hợp với GDHN cho HS khu vực Trung Nam bộ Do vậy Luận án giới hạn chỉ tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm trên hai môn Vật lý và Sinh học các lớp 10,11,12 chương trình THPT hiện hành
6.2 Về địa bàn
Đề tài chọn 12 trường THPT thuộc 4 tỉnh khu vực Trung Nam bộ để triển khai phần khảo sát, đánh giá thực trạng Mỗi tỉnh chọn 3 trường, mỗi trường đại diện cho 1 trong 3 khu vực thành phố, thị trấn và nông thôn Cách chọn bắt thăm ngẫu nhiên
Trang 16Đề tài tiến hành thực nghiệm sư phạm qua 2 đợt Đợt 1 hoàn thiện Quy trình Đợt 2 thực nghiệm Quy trình với 2 vòng Vòng 1 gồm có 6 trường THPT thuộc tỉnh Tiền Giang (3 trường làm thí điểm thực nghiệm và 3 trường làm đối chứng) Vòng 2 thực nghiệm ở 3 trường THPT 3 tỉnh còn lại (Long An, Đồng Tháp, Bến Tre - mỗi tỉnh 1 trường)
7 CÁC LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
7.1 GDHN trong trường phổ thông là nhiệm vụ quan trọng để định
hướng phát triển nhân cách toàn diện cho HS phù hợp với đặc điểm cá nhân
và nhu cầu xã hội đặc biệt là HS THPT
7.2 GDHN được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó con đường
chủ đạo là thông qua dạy học các môn học, nhất là trong dạy học các môn KHTN có nhiều ưu thế
7.3 Để GDHN trong dạy học các môn KHTN có chất lượng, hiệu quả
cần phải có Quy trình GDHN khoa học, phù hợp Quy trình này phải tuân theo các nguyên tắc, mục đích hướng nghiệp mang tính hệ thống, tính thực tiễn và tính sư phạm
8 QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8.1 Quan điểm tiếp cận
8.1.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử, phát triển
GDHN đã được vận dụng đưa vào trong ngành giáo dục Việt Nam từ hơn 30 năm qua Do vậy trong nghiên cứu, Luận án sẽ tiếp thu, sử dụng
Trang 17những đánh giá về giáo dục và GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các cơ quan nghiên cứu về giáo dục
8.1.2 Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc
GDHN trong dạy học các môn KHTN bao gồm nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức được xem xét trong mối tương quan với các hoạt động GDHN khác nhau trong trường THPT
8.1.3 Quan điểm nghiên cứu thực tiễn
Các nhận xét đánh giá và đề xuất kiến nghị của Luận án về GDHN phải trên cơ sở khách quan, các yêu cầu cần thiết qua nghiên cứu thực tiễn
8.2 Phương pháp nghiên cứu
8.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được sử dụng trong xem xét các
vấn đề về nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ GDHN trong trường THPT, nhiệm
vụ của GV
- Phương pháp khái quát hóa: Các nhận định, đánh giá riêng lẻ, độc
lập, từng mặt về thực trạng GDHN được khái quát hóa để tìm ra cái chung, cái phổ biến
8.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, trò chuyện: Khảo sát tìm hiểu nhận thức, thái
độ của cán bộ, GV, HS về GDHN ở 12 trường THPT (34 cán bộ, 341 GV,
1200 HS).Trao đổi với các chuyên gia, một số phụ huynh và HS ở một số
trường THPT về GDHN
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Sản phẩm được nghiên
cứu là các bài soạn, bài giảng qua các tiết dạy được GV vận dụng trong các môn Vật lý, Sinh học Sản phẩm sẽ được nghiên cứu đánh giá theo các tiêu chuẩn chung, các tiêu chí và thang điểm do các chuyên gia có kinh nghiệm tiến hành Dự giờ, đánh giá 12 bài soạn và 12 tiết dạy của 12 GV ở 3 trường
Trang 18thực nghiệm và 3 trường đối chứng với 26 chuyên gia ở vòng 1 Dự giờ, đánh giá 6 bài soạn, 6 tiết dạy của 6 GV của 3 trường THPT ở vòng 2 với 12
chuyên gia
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Sử dụng phương pháp lấy ý kiến
chuyên gia để đánh giá quy trình GDHN và đánh giá bài soạn, bài giảng của
GV qua các tiết dạy Vật lý, Sinh học của GV các trường tham gia nhóm đối chứng, nhóm thực nghiệm theo các bảng 3.2; 3.3 và 3.4
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm về tập huấn, chuyển
giao quy trình GDHN cho GV soạn, giảng trên lớp nhằm đánh giá tính hiệu quả, khả thi của biện pháp đề xuất
- Phương pháp thống kê toán học : Thống kê, so sánh, đối chiếu các số
liệu thu thập được bằng các phép tính thông thường Một số số liệu phức tạp
xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm SPSS Sau đó chọn các tham số trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn, các hệ số so sánh tương quan… đưa vào biểu, bảng, sơ đồ minh họa trong Luận án qua phần mềm Microsoft Word
9 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
9.1 Về lý luận
Đưa ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn, cấu trúc nội dung và quy trình GDHN thực hiện các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT Làm rõ ưu thế của con đường “GDHN thông qua dạy học các môn học trong trường phổ thông” Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo,
mở rộng đề tài
9.2 Về thực tiễn
Đúc kết phương pháp, cách thức lồng ghép, tích hợp nội dung GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT Khẳng định tính khả thi và hiệu quả GDHN cho HS THPT qua môn học theo quy trình GDHN
Trang 19Chương 3: Các biện pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT khu vực Trung Nam bộ
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển các tư tưởng hướng nghiệp
Trong xã hội thời xa xưa, cuộc sống của con người là thừa hưởng sự hào phóng từ những sản vật do thiên nhiên ban tặng Việc chọn “nghề” và thực hành nghề của giới trẻ chỉ là ngẫu nhiên, may rủi và hình như là “do tạo hóa sắp đặt”,
là định mệnh Platon - một triết gia Hy Lạp thời cổ đại đã cổ động dân chúng
rằng: “Khi tạo ra con người, ông trời đã nhào nặn họ với vàng, bạc, đồng
Người “vàng” là những người làm khoa học, nghệ thuật, làm quản lý Người
“bạc” là những chiến binh Người “đồng” là thợ thủ công, nông dân và nô lệ”
[82] Xã hội dần phát triển, chủ nghĩa tư bản xuất hiện cùng với sự ra đời của đại công trường thủ công và tiếp theo là nền công nghiệp có thị trường lao động rộng lớn với những đòi hỏi ngày càng cao về học vấn, tay nghề của người lao động
Nhận xét về vấn đề này, C.Mác viết: “Tiếp theo sự phân chia, tách biệt
những thao tác khác nhau trong lao động sản xuất, người công nhân cũng được phân chia, phân hóa, nhóm họp theo những năng lực mà họ có được, nhờ đó mà những đặc điểm tự nhiên của người công nhân đã được hình thành dựa trên mãnh đất tự nhiên của sự phân công lao động và về mặt khác, công trường thủ công sẽ phát triển lực lượng lao động theo chính bản chất tự nhiên vốn có của mình chỉ theo một chức năng chuyên biệt [69]
Theo mô tả của C.Mác, rõ ràng là có rất nhiều người lao động làm những việc không phù hợp với năng lực và đặc điểm tâm lý của mình Việc phân hóa ngành nghề, phân hóa người lao động đã âm thầm diễn ra nhưng ngày càng mạnh mẽ
Trang 21Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật và những ứng dụng khoa học trong tổ chức lao động sản xuất ở các nhà máy, các nhà tư bản đã nhận thấy yêu cầu ngày càng bức xúc về việc chọn lựa và đào tạo những người lao động có năng lực đáp ứng yêu cầu cần thiết Đào tạo chuyên sâu cho những nhóm người lao động khác nhau và hợp lý hóa thao tác lao động theo dây chuyền sản xuất trong nhà máy dần dần được sử dụng rộng rãi nhằm gia tăng năng suất lao động, cạnh tranh, chạy theo lợi nhuận… đã dẫn đến việc phải nghiên cứu về quá trình định hướng cho con người tham gia vào một lĩnh vực sản xuất trong một nghề xác định
Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách dưới nhan đề “Hướng dẫn lựa chọn nghề”
Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph Galton đã trình bày công trình trắc nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề Vào đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp
Ở giai đoạn tiếp theo, chúng ta thấy xuất hiện tổ chức sản xuất theo quan điểm của Taylor Đây là một đóng góp quan trọng trong phương pháp quan sát và đánh giá công việc trong một hệ thống thống nhất về định mức lao động, trả công lao động, tổ chức chỗ làm việc
Ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười và những năm 20, 30 của thế kỷ
XX, công tác hướng nghiệp đã được triển khai trên đất nước Xô viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công nhân dân của đất nước
Những nhà khoa học và giáo dục khi xem xét vấn đề hướng nghiệp đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hưởng của nó tới các hoạt động sản xuất
xã hội cho rằng nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ trong trường học thì
Trang 22đó sẽ là cơ sở để giúp cho họ lựa chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội GDHN vì vậy không chỉ được thực hiện trong các trường đào tạo mà dần trở nên phổ biến và áp dụng rộng rãi trong các trường phổ thông
1.1.2 GDHN của một số nước trên thế giới
1.1.2.1 Giáo dục KTTH-HN ở nước Nga hậu Xô-Viết
Chương trình giáo dục công nghệ học trường phổ thông Liên bang Nga hiện nay bao gồm những nội dung có tính chất giáo dục kỹ thuật tổng hợp không nhằm đào tạo một nghề cụ thể mà theo nhóm công nghệ học, gắn sản xuất với kinh doanh, mang tính hướng nghiệp Nhờ thông qua giáo dục công nghệ học cụ thể, HS được làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất, đồng thời chú ý vai trò của công nghệ thông tin được sử dụng trong nền kinh tế hiện đại
1.1.2.2 Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề
Vào những năm 70 - 80 thế kỷ trước, các nước Châu Âu lần lượt tiến hành cải cách giáo dục từ cấu trúc tổ chức đến nội dung, phương pháp giáo dục và giảng dạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩn mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề và hướng nghiệp tại trường phổ thông như:
Giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng, ý nghĩa hướng nghiệp trong nhà trường Pháp
Hiện đại hóa quá trình học tập của nhà trường Đức theo hướng tạo điều kiện cho HS có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống
và kiến thức khoa học gắn với đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh
Trang 231.1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp - lập nghiệp ở các trường học Úc
Giáo dục hướng nghiệp-lập nghiệp (Career Education) ở những trường học Úc nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hóa Việc giáo dục này giúp cho HS biết đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp-lập nghiệp trong và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động
Giáo dục hướng nghiệp - lập nghiệp ở các nhà trường Úc có 4 nhiệm vụ
quan hệ mật thiết với nhau: “Học về bản thân trong mối quan hệ với lao
động; Học về thế giới nghề nghiệp; Học về lập kế hoạch và ra quyết định hướng nghiệp - lập nghiệp; Phát triển khả năng triển khai các quyết định về hướng nghiệp và tiến hành thay đổi công việc” [11]
1.1.2.4 Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường Nhật Bản
Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở 2 luận điểm quan trọng: Tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục và thực hiện cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong hệ thống giáo dục mà còn phải mở rộng tầm nhìn ra phạm
vi toàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế
Nhà trường phổ thông Nhật Bản tiến hành rèn luyện khả năng thích ứng của HS qua một số hoạt động như: Hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”; Giáo dục lòng trung thành của người lao động Nhật Bản tương lai trong trường phổ thông; Giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trường phổ thông; Hình thành thói quen cần cù, tự giác của người lao động
1.1.2.5 Lao động tri thức - Một vấn đề mới trong hướng nghiệp cho HS trường phổ thông tại một số nước phát triển
Tại Mỹ cũng như tại các nước phát triển khác, nhóm tăng trưởng nhanh nhất trong lực lượng lao động là “lao động tri thức” Trong vài thập kỷ tới,
Trang 24các cơ sở đào tạo kỹ thuật viên tri thức sẽ tăng lên nhanh chóng ở cả các nước phát triển và đang phát triển
- Trước đây, những kỹ năng nghề học được ở tuổi 17, 18 có thể giúp con người tác nghiệp suốt đời Ngược lại, sau này tri thức rất nhanh chóng bị lạc hậu và người lao động phải thường xuyên quay trở lại nhà trường Giáo dục thường xuyên sẽ không được thực hiện theo cách truyền thống nữa mà có thể tiến hành qua các phương tiện viễn thông trực tuyến và diễn ra tại bất cứ nơi nào, từ giảng đường cho đến nhà riêng GDHN vì vậy cần hướng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời Nhà trường phải thay khẩu hiệu:
“Đào tạo một lần cho một đời người” bằng khẩu hiệu: “Đào tạo liên tục trong
suốt đời người” [13]
1.1.2.6 Quan điểm của UNESCO về GDHN
Theo quan điểm của UNESCO, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai Nhà trường phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi HS Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn
để giúp HS lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết
1.1.3 GDHN trong các trường phổ thông Việt Nam
1.1.3.1 Bước khởi đầu của GDHN tại các trường học Việt Nam
Công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam nói chung và nhà trường phổ thông nói riêng là một phạm trù còn mới mẻ về mặt
lý luận và hoạt động thực tiễn
Vào những năm 80 của thế kỷ XX phải kể tới sự đóng góp của các tác giả như: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn
Hộ đã nêu ra một số cơ sở tâm lý, nội dung của công tác hướng nghiệp Đặc biệt với luận văn Phó tiến sĩ của mình, tác giả Phạm Tất Dong là người đầu tiên đặt nền móng cho việc thiết lập những cơ sở lý thuyết về hướng nghiệp
Trang 25Trên thực tế, trong khoảng thời gian 10 năm từ 1980 - 1990, công tác hướng nghiệp đã được triển khai đối với hệ thống giáo dục phổ thông theo kế hoạch, theo chương trình và nội dung của Bộ Giáo dục - Đào tạo hoạch định nhằm làm tốt việc phân luồng HS tốt nghiệp các cấp THCS và THPT sau khi tốt nghiệp ra trường
1.1.3.2 Quan điểm truyền thống và quan điểm mới về GDHN ở Việt Nam
- Quan điểm truyền thống: Theo quan điểm này, GDHN gắn với khâu chọn nghề Về phạm vi, hướng nghiệp chỉ diễn ra ở trường phổ thông Về đối tượng, là HS phổ thông nhưng chủ yếu là HS từ THCS đến hết cấp THPT
- Quan điểm mới: Theo quan điểm này, GDHN gắn với quá trình phát triển nghề nghiệp gồm có chọn nghề và thích ứng nghề Về phạm vi, công tác hướng nghiệp diễn ra không chỉ ở trường phổ thông mà ở cả trường dạy nghề, trường TCCN, CĐ, ĐH và cả ở những cơ sở sản xuất kinh doanh Về đối tượng, bao gồm cả HS phổ thông, HS học nghề và TCCN, sinh viên CĐ, ĐH
và người lớn tuổi học thêm nghề hoặc chuyển đổi nghề do thay đổi công nghệ, cổ phần hoá doanh nghiệp, môi trường sống,
Trường PT
Trường Chuyên nghiệp
Cơ sở SX
Gia đình Phương tiệnThông tin
Các tổ chức XH Các cơ quan
chuyên môn
1 Thời kì chọn nghề Giai đoạn hướng nghiệp
- Giáo dục nghề và tuyên truyền nghề
- Tư vấn nghề
2 Thời kì thích ứng nghề Giai đoạn hướng nghiệp -Tư vấn nghề
-Tuyển chọn nghề -Thích ứng nghề
Thời gian học sinh học ở trường
PT Thời gian học sinh học ở trườngchuyên nghiệp Thời gian HS làm ở cơ sở SX
Thời điểm bắt đầu chọn
Kết thúc thích ứng nghề
Thời điểm bắt đầu thích ứng nghề
Sơ đồ 1.1: Hướng nghiệp theo quan điểm mới
Trang 261.1.4 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam về GDHN trong dạy học các môn học ở trường phổ thông
Số lượng các môn học ở trường phổ thông Việt Nam có 14 môn (THCS) và 12 môn với 5 hoạt động giáo dục (THPT) trong trường THPT các môn học được chia thành: Các môn khoa học gồm KHTN có 4 môn, KHXH&NV có 4 môn Bốn môn còn lại là: Giáo dục công dân, Tin học, Thể dục, Công nghệ gọi chung là các môn khác
Từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu về GDHN trong dạy học các môn học trong trường phổ thông không nhiều, xin được tóm tắt một số công trình như sau:
Công trình: "Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT" của tác giả Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền [54] năm
2006 Công trình đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của GDHN, việc tổ chức các hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong nhà trường THPT Công trình đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận nền tảng về hướng nghiệp và GDHN, xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức giáo dục kỹ thuật trong trường THPT
Công trình: "GDHN ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay" [22] năm 2008 của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh Công trình đi sâu nghiên cứu về việc cần thiết phải đổi mới GDHN trong trường phổ thông và đã đưa ra các định hướng đổi mới như đổi mới mục tiêu GDHN, đổi mới phương thức
GDHN, đổi mới nội dung GDHN trong đó nhấn mạnh "GDNH là quá trình
dạy học có chủ đích, phục vụ mục tiêu làm thay đổi một cách lâu bền vị thế của người học để họ có thể hoàn thành các yêu cầu nghề nghiệp" Theo đó,
trong đào tạo nghề hay trong dạy học các môn học ở trường phổ thông GV đều có nhiệm vụ phải thực hiện chủ đích này
Công trình: "Tích hợp GDHN trong dạy học môn Sinh học ở trường THCS" [ 97] năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết Công trình đã đưa
Trang 27ra phương pháp tích hợp GDHN qua dạy các môn học và phân tích tiềm năng GDHN của môn Sinh học THCS với danh mục 11 bài dạy sinh học lớp 6, 7,
8, 9 có thể tích hợp được với GDHN Tác giả đưa ra sơ đồ phương pháp tích hợp GDHN qua dạy học các môn học diễn đạt như sau:
Các công trình nói trên nghiên cứu các phương diện khác nhau của hướng nghiệp và GDHN qua môn học ở trường phổ thông Tuy nhiên chưa có công trình đi sâu nghiên cứu về quy trình GDHN và GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trường THPT
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Về khái niệm hướng nghiệp
“Thuật ngữ “Hướng nghiệp” là do giáo sư F.Parson đề xướng vào năm 1908 khi lần đầu tiên tổ chức tại Boston (Mỹ) một Hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động” [52] Theo đó, hướng nghiệp
được hiểu như một quá trình giúp cho cá nhân tìm hiểu nghề, đối chiếu với phẩm chất của mình rồi chọn lấy một nghề phù hợp
Trong thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hướng nghiệp tùy theo cách tiếp cận
Theo các nhà kinh tế học: “Hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh
tế giúp cho từng thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội” [54]
Tri thức môn học
Giá trị GDHN tích hợp trong tri thức môn dạy học Phương pháp
Phương pháp
Tích hợp giá trị Gạn học giá trị Tri thức GDHN
Trang 28Các nhà tâm lý học cho rằng: “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện
pháp tâm lý, sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân” [54]
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học thì: Hướng nghiệp là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, xí nghiệp khác nhau được tiến hành với mục đích giúp HS chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường
Tại Hội nghị lần thứ IX những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana thủ đô Cu-Ba vào tháng
10/1980 đã thống nhất khái niệm: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện
pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý
cá nhân nhằm mục đích phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ có sẵn của đất nước” [77]
Ở Việt Nam, một số khái niệm về hướng nghiệp được trích dẫn như sau:
1 “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân
bổ tối ưu (có chú ý tới năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động”
2 “Giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” [93]
Theo tác giả Phạm Tất Dong thì “Hướng nghiệp là một hệ thống tác
động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của
cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” [25]
Trang 29Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền trong quyển
“Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”
- NXB Giáo dục, 2006 thì “Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các
lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, giúp cho các em quen biết với một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai” [Sđd, tr 12]
Tóm lại, trên bình diện giáo dục phổ thông chúng ta có thể hiểu: Hướng nghiệp cho HS phổ thông là một hệ thống các tác động mang tính sư phạm nhằm dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp các em chọn được nghề một cách hợp lý
1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp
Do quan hệ hữu cơ giữa khái niệm hướng nghiệp và GDHN, nên cụm
từ GDHN dùng ở đây được được hiểu như sau:
“GDHN là hệ thống những tác động sư phạm nhằm làm cho HS chọn được một nghề hợp lý” [52]
Trong trường phổ thông, GDHN là một bộ phận của giáo dục toàn diện GDHN là hoạt động được thực hiện bởi GV và HS và được tiến hành qua nhiều hình thức GDHN khác nhau nhưng tập trung vào thực hiện mục đích giúp cho học sinh lựa chọn nghề vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vừa phù hợp với nguyện vọng, năng lực, thể lực của học sinh để các em phát huy được khả năng bản thân trong cuộc sống nghề nghiệp
Do vậy, GDHN trong trường phổ thông không phải là nhằm quyết định nghề cho mỗi cá nhân mà là điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ giúp các em giải quyết việc chọn nghề cho tương lai một cách có ý thức ngay khi còn ngồi trên ghế trường phổ thông
Trang 30Với từng cá nhân, GDHN góp phần làm phát triển năng lực, thiên hướng của mỗi người vừa thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện vừa góp phần bồi dưỡng, hướng dẫn cho học sinh có ý thức và tâm thế sẵn sàng trong lựa chọn nghề nghiệp và tham gia lao động
Với xã hội, GDHN góp phần hỗ trợ cho việc xây dựng và sử dụng nguồn lao động dự trữ theo hướng tối ưu GDHN cũng góp phần đào tạo cho đất nước một đội ngũ người lao động đồng bộ, có cơ cấu tỷ lệ lao động phù hợp từng thời kỳ phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội có hiệu quả
1.2.3 GDHN qua môn học
Trong trường phổ thông GDHN không phải là một môn học riêng biệt
và không có giáo viên được đào tạo theo chuyên ngành GDHN GDHN qua môn học là thực hiện các mục tiêu GDHN thông qua lồng ghép với dạy học các môn học Qua đó, các nội dung GDHN được chọn lựa đưa vào bài học sao cho kiến thức bài học và kiến thức GDHN gắn kết nhau thành một chỉnh thể Kiến thức GDHN phù hợp với năng lực tiếp thu của HS và vừa sức với khả năng sư phạm của GV bộ môn Thời lượng dành cho GDHN và cho bài học cân đối, hợp lý
1.2.4 Quy trình GDHN trong dạy học các môn học
Để thực hiện nhiệm vụ GDHN trong dạy học các môn học, giáo viên bộ môn phải tiến hành lồng ghép nội dung GDHN với nội dung môn học, tích hợp tri thức môn học với tri thức GDHN Để GDHN qua môn học có chất lượng, hiệu quả, người dạy cần có quy trình GDHN hợp lý
Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó
[90] Quy trình GDHN trong dạy học là một thứ tự các bước soạn, giảng hợp
lý, khoa học nhằm lồng ghép đưa nội dung GDHN vào trong từng tiết dạy của môn học qua đó thực hiện mục tiêu GDHN Quy trình GDHN vì vậy có cấu trúc chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc GDHN trong trường THPT và tương thích với nhiệm vụ của GV bộ môn
Trang 311.2.5 Phân luồng HS sau trung học
Trong giáo dục, phân luồng được dùng để chỉ sự phân chia theo nhóm lớn các HS có cùng định hướng, nguyện vọng vào những ngành nghề, những chương trình học theo các khuynh hướng khác nhau Phân luồng là kết quả phân hóa HS sau một quá trình giáo dục Tuy nhiên khác với phân hóa, phân luồng chỉ diễn ra sau một số quá trình giáo dục nhất định Sau cấp tiểu học sự phân hóa chưa dẫn đến phân luồng, sau cấp THCS và THPT sự phân hóa HS
về học lực và xu hướng nghề nghiệp đủ lớn để dẫn đến phải phân luồng Kết quả phân luồng là sự tự chọn của HS phù hợp với tính chất của luồng và yêu cầu của xã hội
“Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để HS tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân, nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước” [90]
HS sau tốt nghiệp THCS hiện nay được phân chia theo bốn luồng khác nhau đó là: Giáo dục phổ thông; GDTX; GDNN và tham gia lao động sản xuất
HS sau tốt nghiệp THPT được phân chia theo bốn luồng là: Giáo dục
ĐH, CĐ; Học TCCN; Học nghề; Chưa học tiếp (bao gồm cả HS có được việc làm sau THPT và những HS chưa có việc làm, không tiếp tục học)
Xu hướng hiện nay đối với phân luồng HS sau THCS là giảm dần luồng THPT đến một tỷ lệ phù hợp, tăng dần tỷ lệ luồng GDNN lên mức cân đối với yêu cầu đào tạo cơ cấu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội Đối với luồng GDTX cần phát triển đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa giáo dục Với luồng tham gia lao động sản xuất chưa qua đào tạo tỷ lệ HS vào luồng này càng giảm nhiều càng tốt
1.2.6 Các khái niệm liên quan với GDHN
Khi tìm hiểu về vấn đề hướng nghiệp, GDHN chúng ta thường gặp những khái niệm khác có liên quan mật thiết với khái niệm hướng nghiệp
Trang 32- Nghề nghiệp:
Nghề nghiệp là “công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của
xã hội” [93] Cụ thể hơn, chúng ta có thể hiểu: “Nghề nghiệp là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân” [54]
- Định hướng nghề nghiệp:
“Định hướng nghề nghiệp được hiểu là một quá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một lôgíc hợp lý về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó” [54]
- Thái độ nghề nghiệp:
“Là một thuộc tính cấu thành nhân cách, nó biểu thị sắc thái tình cảm
về mức độ say mê của cá nhân đối với hoạt động nghề nghiệp” [54]
- Nhận thức nghề nghiệp:
“Là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những
biểu hiện định giá của xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh
lý của những con người làm việc trong nghề nghiệp đó” [54]
- Động cơ chọn nghề:
“Động cơ chọn nghề của mỗi cá nhân là những yếu tố tâm lý thúc đẩy
cá nhân, chi phối mọi hoạt động của cá nhân, giúp họ vươn tới sự xác định cho mình một nghề nghiệp nào đó” [54]
- Nguyện vọng nghề nghiệp:
“Nguyện vọng nghề nghiệp của con người là một hiện tượng tâm lý biểu thị sự hướng tới một nghề nghiệp nào đó trong thế giới đa dạng và phong phú của nghề nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu được hoạt động trong nghề nghiệp đó” [52]
Trang 33- Tư vấn nghề:
“Tư vấn nghề là một dạng hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của
cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếp nhận một cách chặt chẽ và hoàn chỉnh” [17]
Đối với HS THPT, mục đích của hướng nghiệp là giúp cho HS có được
ý thức là chủ thể trong sự lựa chọn nghề dựa trên cơ sở những hiểu biết về năng lực, sở trường của bản thân, hiểu biết khoa học về nghề nghiệp và thị trường lao động
1.3.1.2 Yêu cầu của GDHN
- Có 3 yêu cầu cơ bản
Một là GDHN phải nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho HS phù hợp với đặc điểm lứa tuổi cấp học phổ thông
Thế giới nghề nghiệp đa dạng, có ở khắp mọi địa bàn, biến động theo
sự phát triển của sản xuất GDHN cho HS cần phải có sự lựa chọn số lượng nghề tiêu biểu, nội dung phù hợp Tùy theo giới tính, trình độ phát triển tâm
lý lứa tuổi của HS, GDHN trong trường phổ thông cần phải làm cho HS lĩnh hội được và tiếp cận dần với thế giới nghề nghiệp
Nền kinh tế thị trường tạo ra hàng loạt nghề nghiệp mới lạ trong xã hội Yêu cầu đặt ra là qua GDHN trường phổ thông phải xây dựng bức tranh xác thực về nghề nghiệp để HS hiểu và có cơ sở lựa chọn một hướng đi, một nghề phù hợp nhất cho mình
Trang 34Hai là GDHN trong trường phổ thông phải tạo các điều kiện giúp HS tham gia các hoạt động xã hội để phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho các em
Qua GDHN nhà trường tạo điều kiện cho HS trực tiếp tham quan các nhà máy, xí nghiệp, trường đào tạo, tiếp xúc với công nhân, kỹ sư, quy trình sản xuất, công nghệ để HS có những hiểu biết thực tế cần thiết cho phát triển tiềm năng nghề nghiệp của mình GDHN qua đó thực hiện yêu cầu chuẩn bị những cơ sở cần thiết cho HS về tri thức nghề nghiệp, phẩm chất và
kỹ năng bước đầu về lao động để bước vào thị trường lao động xã hội
Ba là GDHN trong trường phổ thông, phải đáp ứng yêu cầu giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động của HS Đó là hình thành các thái độ tôn trọng người lao động, tôn vinh nghề nghiệp, thái độ nghiêm túc trong lựa chọn nghề, tinh thần và phẩm chất tốt đẹp của người lao động để trở thành người lao động yêu nghề, có trách nhiệm trong thực hành nghề và hạnh phúc với nghề mà mình đã chọn
1.3.1.3 Cấu trúc, chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của GDHN
a Cấu trúc của hệ thống hướng nghiệp: Hướng nghiệp là một hệ thống
đa cấp, trong cấu trúc của hướng nghiệp có thể phân chia thành các bộ phận như sau: khai sáng nghề, thông tin nghề, giáo dục nghề, chẩn đoán nghề, tư vấn nghề, lựa chọn nghề, tuyển chọn nghề và thích ứng nghề
Trang 35Mỗi một thành phần trong cấu trúc có đặc trưng riêng về một nội dung
và phương pháp thực hiện trong những điều kiện thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ chuẩn bị cho tuổi trẻ tiếp tục học lên trong các trường, tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hoặc trong sản xuất Hoạt động hướng nghiệp được thực hiện trong sự gắn bó chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Khai sáng nghề, dự báo nghề và tư vấn nghề được tiến hành trong các trường phổ thông và trong các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp Tuyển chọn và thích ứng nghề chỉ được thực hiện chủ yếu trong các cơ sở đào tạo nghề và trong các tập thể lao động Giáo dục nghề cho thanh thiếu niên được thực hiện trong nhà trường, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và các tập thể lao động
b Chức năng của GDHN: Chức năng chung của hướng nghiệp là chuẩn
bị cho thế hệ trẻ năng lực lao động, năng lực tiếp thu kỹ thuật sản xuất, chuẩn
bị về đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, về ý thức và lòng yêu nghề, về tình cảm gắn bó với nghề
GDHN có nhiều chức năng cụ thể xét trên các phương diện xã hội, tâm
lý, y học, sinh học, sư phạm Chức năng sư phạm của hướng nghiệp biểu hiện trong việc tổ chức GDNN giúp HS hình thành động cơ, hứng thú chọn nghề phù hợp với những đặc điểm tâm lý cá nhân GDHN được tiến hành như một quá trình liên tục, duy trì hứng thú và động cơ chọn nghề của HS
c Mục tiêu của GDHN: Mục tiêu của GDHN ở trường THPT là góp
phần định hướng nghề nghiệp cho HS Trong trường phổ thông, chủ thể trực tiếp định hướng nghề nghiệp là HS Quá trình định hướng đó được hình thành trên cơ sở trợ giúp của các lực lượng giáo dục, đặc biệt là vai trò của lực lượng sư phạm trong nhà trường qua các hoạt động GDHN
d Nhiệm vụ của GDHN: Nhiệm vụ chung của GDHN là giúp HS được
làm quen với thế giới nghề nghiệp, hiểu được những nghề cơ bản trong xã
Trang 36hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình Đồng thời HS phải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào nghề và học nghề, các hiểu biết về GDNN GDHN có 3 nhiệm vụ cụ thể: Nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho HS phù hợp với trình độ phát triển tâm lý và lứa tuổi các cấp học; Tạo điều kiện thuận lợi để HS được trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội nhằm bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề cho HS; Thực hiện xã hội hoá GDHN nhờ việc phối hợp, liên kết với các tổ chức các cơ sở sản xuất trong các thành phần kinh tế xã hội
- Nhiệm vụ GDHN của trường THPT
+ Có bốn nhiệm vụ chung về GDHN của trường THPT:
1 Qua công tác hướng nghiệp, HS được làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội và những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở địa phương mình
2 Hướng dẫn HS phát triển những nhận thức định hướng nghề nghiệp, giúp HS chọn nghề phù hợp
3 Giúp HS hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp qua lao động sản xuất, giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông
4 Giáo dục HS thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao động, ý thức bảo vệ của công, ý thức tiết kiệm
+ Có 6 nhiệm vụ GDHN của GV bộ môn ở trường THPT:
(1) Cung cấp cho HS một số hiểu biết về nghề nghiệp (ý nghĩa của các kiến thức đã học đối với việc nắm vững một nghề nào đó, giáo dục lòng yêu lao động và con người lao động…)
(2) Phát hiện kịp thời và có biện pháp thích hợp bồi dưỡng hứng thú, năng lực của HS đối với bộ môn (cả về nhận thức và khả năng hoạt động thực tiễn của các em)
Trang 37(3) Hướng dẫn tổ chức ngoại khoá về nội dung và phương thức tiến hành để đáp ứng sở thích, năng lực hiểu biết, sáng tạo kỹ thuật của HS
(4) Quan hệ mật thiết với các cơ sở sản xuất và tổ chức xã hội để triển khai chu đáo, có hiệu quả các buổi tham quan, trao đổi, mạn đàm, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ môn học,… có trong lịch trình giảng dạy
(5) Trong điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường, GV kết hợp giảng dạy chuyên môn và giới thiệu nghề
(6) Trên góc độ môn mình phụ trách, cung cấp những tư liệu có liên quan tới các nghề trong xã hội cho HS [54]
Nhiệm vụ tổng quát của giáo viên phổ thông trong
công tác hướng nghiệp
Giáo viên
chủ nhiệm
Giáo viên bộ môn khoa học
Cho HS làm quen với các nghề
cơ bản tại các cơ sở
SX kinh doanh
Minh hoạ những nguyên tắc chung trên cơ sở những nghề cụ thể
Liên hệ với đại diện các doanh nghiệp và các trường chuyên nghiệp
cho HS tham quan Nghiên cứu nhân cách HS và tiến hành tư vấn nghề cho HS
Sơ đồ 1.3: Nhiệm vụ của GV THPT trong công tác hướng nghiệp
Trang 38- Nhận thức về những yêu cầu xã hội đối với nghề nghiệp
Việc tìm hiểu về công nghệ, kỹ năng lao động, nhận biết về nhu cầu nghề nghiệp của các khu vực kinh tế trong hiện tại cũng như những dự báo về
sự phát triển và biến động của hệ thống nghề nghiệp (ngành nghề, nhu cầu nhân lực, trình độ đào tạo,…) là điều cần thiết mang tính chiến lược của mỗi
HS trong quyết định nghề nghiệp tương lai của bản thân mình Nhận thức đó vừa giúp cho HS xây dựng động cơ, thái độ vào nghề đúng đắn của mình đồng thời giúp HS tránh được cách chọn nghề theo cảm tính, theo thị hiếu của
số đông, chọn nghề không phù hợp năng lực của mình
- Nhận thức về thế giới nghề nghiệp
"Thế giới nghề nghiệp là một tập hợp các đối tượng nghề có khả năng thỏa mãn nhu cầu chọn nghề của HS" [54] Trong quá trình lựa chọn nghề,
HS là chủ thể nhận thức, thế giới nghề nghiệp là khách thể nhận thức của HS
Sự hiểu biết của các em về các nghề trong xã hội càng phong phú, càng cụ thể thì sự lựa chọn của các em càng thêm dễ dàng
- Nhận thức về những đặc điểm cá nhân
Để chọn được một nghề, các em trước tiên phải “hiểu mình” để từ đó
có được sự cân nhắc kỹ càng về sự phù hợp hay không phù hợp giữa những gì mình đang có và nhu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp mình đang chọn lựa HS cần hiểu rằng nghề nghiệp đó đặt ra những điều kiện gì về năng lực, về phẩm chất đạo đức, về thể chất, về tâm lý, mà chính mình phải có Nếu yếu tố nào
Trang 39chưa có thì phải nỗ lực bổ sung cho có Mỗi HS là chủ thể của sự lựa chọn, nhưng những gì đang tồn tại trong các em lại là đối tượng được nghề nghiệp
“xem xét” để tham gia quyết định về sự phù hợp hay không phù hợp trong lựa chọn nghề của chính các em
Thông qua GDHN, mỗi HS được sự hỗ trợ của thầy cô giáo về tự đánh giá, hiểu biết về tính chất và đòi hỏi của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường lao động và quá trình đào tạo nghề tương ứng, biết tự sàng lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân
Cả ba mặt nêu trên trong nhận thức nghề nghiệp của HS có liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau tạo thành tính trọn vẹn của nhận thức nghề nghiệp
1.3.2.2 Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp
Thái độ đối với nghề nghiệp bao gồm 3 yếu tố:
- Yếu tố tình cảm: Là các xúc cảm tình cảm thể hiện sự chấp nhận hoặc thờ ơ với nghề nghiệp
- Yếu tố nhận thức: Là các quan niệm và hiểu biết của HS về một nghề
Trang 40Đối với HS, để có được nguyện vọng xác thực và chính đáng là việc khó, bởi lẽ tính tích cực hay tiêu cực của nguyện vọng, mức độ cao thấp của nguyện vọng nghề nghiệp của HS không chỉ dựa vào năng lực nhận thức của
cá nhân mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của sự phát triển kinh
tế - xã hội khi lựa chọn nghề Dưới tác động của các nội dung, biện pháp giáo dục của nhà trường phổ thông trong công tác hướng nghiệp, HS sẽ xây dựng nhu cầu, hứng thú để xác định đúng đắn nguyện vọng nghề nghiệp của mình
1.3.2.3 Định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp
“Năng lực là thuộc tính của nhân cách, nó không tồn tại độc lập mà chỉ tồn tại trong mối tương quan với một hoạt động nhất định nào đó” [72]
Năng lực được biểu hiện ra bên ngoài bởi cách thức hoạt động như sự thể hiện
về chiều sâu, sự bền vững trong việc chiếm lĩnh phương pháp, năng lực là điều kiện để cá nhân tiến hành có hiệu quả một số hoạt động nhất định, là thành tố bên trong của hoạt động và động cơ tâm lý
Theo K.K Platônôv “Năng lực đối với một ngành nghề nhất định nào
đó được xác định bởi những yêu cầu mà ngành nghề đó đặt ra cho cá nhân nào tiếp thu được nó” [76] Năng lực có tiền đề sinh học, mỗi con người đều
tiềm ẩn những năng lực và sở trường đặc biệt để đi tới thành công nếu biết lợi dụng đầy đủ các cơ sở ấy nhất là những sở trường để phát huy năng lực nghề nghiệp Năng lực nghề nghiệp không chỉ được hình thành riêng trong hoạt động nghề nghiệp mà có thể hình thành trong quá trình chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai Khi GDHN cho HS nhà trường cần phải biết lợi dụng và biết phát huy những tố chất nội tại, thậm chí còn phải nâng niu, giúp đỡ HS phát huy những mầm móng của năng lực để thành công, thành tài
Trong GDHN của nhà trường, nếu thiếu đi sự hiểu biết HS về mặt sinh học để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển những ưu thế về trí lực, thể lực, năng khiếu của các em thì khó có thể phát hiện và hình thành được năng lực nghề nghiệp cho HS Giáo trình và sách hướng dẫn hoạt động
GDHN của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Chú trọng việc hình thành
những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm” [28], [30]