Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Bài viết này đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đề xuất các giải pháp khoa học nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH).
- Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Phú Bình giai đoạn 2005- 2010
- Phân tích nguyên nhân và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Phú Bình - Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên theo hướng CNH- HĐH.
Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề kinh tế chủ yếu liên quan đến cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tham gia tích cực vào hội nhập quốc tế Đối tượng khảo sát bao gồm hộ nông dân, hộ kinh doanh, các ngành kinh tế và các tổ chức kinh tế tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Những đóng góp khoa học của đề tài
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bài viết phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua, nêu rõ những kết quả đạt được cũng như những yếu kém và tồn tại, cùng với nguyên nhân của chúng Từ đó, bài viết đưa ra quan điểm, phương hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong thời gian tới.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chương 2: Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình thời gian qua
Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Cơ sở lý luận, thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Cơ sở lý luận chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình mở rộng và nâng cao mọi khía cạnh của nền kinh tế, khác với tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần là sự gia tăng về số lượng mà không có sự thay đổi chất lượng đáng kể Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường qua chỉ số GDP, phản ánh sự tăng trưởng khối lượng của các nguồn lực như vốn, lao động và công nghệ Để hiểu rõ hơn về phát triển kinh tế, cần xem xét các khái niệm đa dạng liên quan đến sự tiến bộ toàn diện trong nền kinh tế.
Sự phát triển kinh tế không chỉ thể hiện qua tăng trưởng mà còn bao gồm những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và xã hội, hướng tới sự tiến bộ toàn diện.
Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế:
Để đạt được sự phát triển bền vững, điều kiện tiên quyết là nền kinh tế cần có sự tăng trưởng ổn định và liên tục về quy mô sản lượng trong một khoảng thời gian dài.
Sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế thể hiện qua sự thay đổi tỷ trọng giữa các vùng, miền và ngành kinh tế Cụ thể, tỷ trọng của các vùng nông thôn đã giảm so với vùng thành thị, trong khi tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là ngành dịch vụ, đang có xu hướng gia tăng mạnh mẽ.
Cuộc sống của đại bộ phận dân cư sẽ được cải thiện đáng kể, với sự chú trọng vào giáo dục, y tế và tinh thần dân tộc Bên cạnh đó, môi trường cũng sẽ được bảo vệ và đảm bảo hơn, góp phần tạo nên một xã hội tươi đẹp hơn cho mọi người.
- Trình độ tƣ duy, quan điểm sẽ thay đổi
- Để có thể thay đổi trình độ tƣ duy, quan điểm đòi hỏi phải mở của nền kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa kéo dài theo thời gian, chịu ảnh hưởng từ những nhân tố nội tại quyết định toàn bộ tiến trình này.
Cơ cấu là một khái niệm triết học thể hiện cấu trúc nội tại của một đối tượng, bao gồm các yếu tố cấu thành và mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định trong một khoảng thời gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế quốc dân là tổng hợp các mối quan hệ giữa các bộ phận của nền kinh tế, bao gồm ngành nghề, lĩnh vực và thành phần kinh tế Nó phản ánh mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một thời gian nhất định Việc thay đổi và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý là quá trình phân công lao động xã hội C.Mác đã nhấn mạnh rằng “Cơ cấu kinh tế - xã hội là toàn thể những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất”, đồng thời ông cũng chú ý đến cả hai mặt chất và lượng của cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh tỷ lệ giữa các bộ phận mà còn thể hiện sự phát triển của từng phần trong hệ thống sản xuất xã hội Sự phân chia chất lượng và tỷ lệ số lượng của các quá trình sản xuất là yếu tố quan trọng trong việc hiểu rõ cơ cấu này.
Các quốc gia phát triển và đang phát triển thường sử dụng chỉ tiêu cơ cấu kinh tế để đánh giá sự phát triển của từng ngành trong khu vực kinh tế Chỉ tiêu này bao gồm cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, và thương mại dịch vụ, cũng như cơ cấu sản xuất vật chất và chi phí sản xuất.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông thôn là một tổng thể mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn, có sự gắn bó hữu cơ giữa các thành phần, tạo thành một hệ thống kinh tế không thể tách rời khỏi hệ thống kinh tế quốc dân Mối quan hệ giữa các ngành trong nông thôn phụ thuộc vào ba yếu tố quan trọng: nông dân, nông nghiệp và nông thôn, những yếu tố này quyết định sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn.
* Cơ cấu kinh tế ngành
Cơ cấu ngành và nội bộ ngành đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện vị trí và tính chất riêng của nền kinh tế nông thôn Nó không chỉ phản ánh sự đa dạng và phong phú của cơ cấu kinh tế mà còn cho thấy mức độ chuyên môn hóa và tập trung sản xuất của ngành Thông qua đó, cơ cấu này cũng chỉ ra trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vùng miền hay địa phương tại một thời điểm nhất định.
Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, trong đó nông thôn thể hiện rõ nét qua hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.
Sự phân công lao động theo ngành là yếu tố then chốt hình thành cơ cấu ngành, với mức độ phát triển cao càng làm cho sự phân chia ngành nghề trở nên đa dạng và sâu sắc hơn Đồng thời, sự tiến bộ trong lực lượng sản xuất và công nghệ hiện đại đã thúc đẩy nhanh chóng sự chuyển biến của cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ
Cơ cấu kinh tế vùng và tiểu vùng phản ánh sự phân chia kinh tế theo địa phương, thể hiện tính chất và trình độ của từng khu vực Điều này giúp xác định đặc thù của cơ cấu kinh tế ngành trên các lãnh thổ khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng được áp dụng liên tục trong nghiên cứu, từ việc phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến việc đề xuất các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH).
1.2.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp nghiên cứu này đánh giá các hiện tượng kinh tế xã hội bằng cách xem xét mọi vấn đề trong mối quan hệ hữu cơ và sự gắn bó lẫn nhau Những yếu tố này có tác động qua lại và ảnh hưởng đến quá trình tồn tại và phát triển của chúng.
1.2.1.2 Phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu sự vật và hiện tượng cần dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể, vì mỗi hiện tượng kinh tế - xã hội đều trải qua một quá trình lịch sử dài Những biểu hiện của hiện tượng này được hình thành và đúc kết qua quá trình phát triển lịch sử của nó.
1.2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Phú Bình, huyện thuần nông, đang trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) mạnh mẽ trong những năm gần đây Việc chọn Phú Bình làm điểm nghiên cứu là phù hợp với đề tài và chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
Cơ cấu của xã chia làm 3 vùng rõ rệt:
Vùng 1 thuộc tả ngạn sông Máng gồm 8 xã: Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào
Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Bảo Lý và Tân Hòa
Vùng 2 gồm thị trấn Hương Sơn và 6 xã vùng nước máng sông Cầu: Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, Lương Phú, và Tân Đức
Vùng 3 là vùng nước máng núi Cốc gồm 6 xã: Hà Châu, Nga My, Điềm Thụy, Thƣợng Đình, Nhã lộng và Úc Kỳ
Trong nghiên cứu này, mỗi vùng sẽ được chọn 3 xã đại diện, riêng vùng 2 sẽ bao gồm thêm thị trấn Hương Sơn Từ mỗi xã và thị trấn, sẽ chọn 3 xóm, và trong mỗi xóm sẽ tiến hành điều tra 5 hộ gia đình để thu thập dữ liệu.
Việc chọn hộ điều tra được thực hiện dựa trên các khu vực đã được xác định, sử dụng phương pháp điều tra phi ngẫu nhiên để lựa chọn các hộ điển hình đại diện cho từng ngành trong mỗi vùng.
1.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các số liệu đã công bố về cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây Các thông tin kinh tế - xã hội được lấy từ niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2010, cùng với báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và báo cáo quy hoạch của huyện Phú Bình.
2020 của UBND huyện Phú Bình; Báo cáo của các đơn vị/địa phương: Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với các cơ quan như Cục thuế, Sở Tài chính, Sở Văn hóa thể thao và du lịch, và Phòng Nông nghiệp huyện Phú Bình, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương Thông tin từ các trang web báo điện tử của các tỉnh, thành phố trên toàn quốc cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nông nghiệp và các chính sách hỗ trợ.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, sử dụng điều tra thống kê qua phỏng vấn trực tiếp các tổ hợp sản xuất, cơ sở sản xuất tư nhân, hộ nông dân và hộ kinh doanh Mẫu điều tra gồm 150 hộ đại diện cho ba nhóm ngành: nông nghiệp (100 hộ), công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (25 hộ) và thương mại - dịch vụ (25 hộ).
Sử dụng phiếu khảo sát để thu thập thông tin về thực trạng các hộ gia đình, bao gồm: thông tin chung, lao động trong ngành, sản phẩm, tình hình thị trường, công nghệ sản xuất, môi trường đầu tư và chính sách của Nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng bao gồm phỏng vấn trực tiếp các cán bộ có trách nhiệm tại các sở, ban ngành của tỉnh và địa phương Bên cạnh đó, ý kiến từ các chuyên gia thuộc sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, và sở Tài chính cũng được thu thập Ngoài ra, số liệu trực tiếp được lấy từ các báo cáo của các huyện để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin.
1.2.2.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Phương pháp điều tra được áp dụng là điều tra chọn mẫu hộ gia đình, trong đó số liệu được thu thập thông qua việc phát phiếu đến các hộ gia đình thuộc các xã nghiên cứu Các thông tin thu thập bao gồm tình hình sản xuất, thông tin thị trường, thông tin sản phẩm và thông tin về vốn.
Phương pháp thống kê mô tả là một công cụ quan trọng để phân tích và đánh giá mức độ biến động cũng như mối quan hệ giữa các hiện tượng Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu như số bình quân, số tuyệt đối và số tương đối để cung cấp cái nhìn tổng quan về dữ liệu.
Phương pháp thống kê so sánh được sử dụng để đánh giá và kết luận về mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng theo thời gian thông qua việc so sánh số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân.
Phương pháp đối chiếu giúp đánh giá thực trạng khó khăn và thuận lợi trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Phú Bình Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho khu vực này.
30 THỰC TRẠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Phú Bình là huyện trung du thuộc tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía nam tỉnh, cách thành phố Thái Nguyên 26 km và thị xã Bắc Ninh 50 km Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 249,36 km², với dân số năm 2008 đạt 146.086 người, tương ứng mật độ dân số 586 người/km².
Phía bắc giáp với huyện Đồng Hỷ
Phía tây giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên
Phía đông và nam giáp tỉnh Bắc Giang (các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên và Yên Thế)
Tọa độ địa lý của huyện: 21 o 23 33’ - 21 o 35 22’ vĩ Bắc; 105 o 51 - 106 o 02 kinh độ Đông
2.1.2 Địa hình, khí hậu thuỷ văn, thổ nhƣỡng
2.1.2.1 Địa hình Địa hình của Phú Bình thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với độ cao địa hình 10-15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân bố dọc sông Cầu
Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi của Phú Bình thuộc loại gò đồi thấp và trung bình, với hình dạng bát úp và độ cao tuyệt đối từ 50 đến 70 mét.
2.1.2.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn
Khí hậu Phú Bình có đặc trưng của miền núi trung du Bắc Bộ, thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vào mùa hè, gió Đông Nam mang đến không khí ẩm ướt, trong khi mùa đông có gió mùa Đông Bắc, khiến thời tiết trở nên lạnh và khô.
Theo Tổng cục Khí tượng Thủy văn, huyện có nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 23,1°C đến 23,7°C, với sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất (tháng 6 - 28,7°C) và tháng lạnh nhất (tháng 1 - 16,1°C) lên tới 12,6°C Tổng tích ôn đạt hơn 8.000°C, trong khi tổng giờ nắng trong năm dao động từ 1.206 đến 1.570 giờ, với lượng bức xạ là 155 Kcal/cm².
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 144 đến 145 mm, với mức cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Độ ẩm trung bình hàng năm đạt khoảng 81-82%, trong đó độ ẩm cao nhất rơi vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào tháng 11, 12.
Điều kiện khí hậu và thủy văn của Phú Bình rất thuận lợi cho sự phát triển nông, lâm nghiệp, với nhiều loại cây trồng và vật nuôi phù hợp với vùng trung du.
Số liệu chi tiết tại bảng số liệu 2.1 sau:
BẢNG 2.1: NHIỆT ĐỘ, ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ, LƢỢNG MƢA,
SỐ GIỜ NĂNG CÁC THÁNG TỪ NĂM 2005 - 2010
TB (MM) ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ TB (%)
[Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 tỉnh Thái Nguyên]
Bảng 2.2: Tình hình đất đai của huyện Phú Bình từ năm 2005 - 2010
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % BQ
A Tổng diện tích đất tự nhiên Ha 24 936.11 100 24 936.11 100 24 936.11 100.00 24 936.11 100.00 24 936.11 100.00 24 936.11 100.00 24 936.11 100.00
1 Đất trồng cây hàng năm Ha 10 088.25 72.90 10 171.47 72.63 10 148.51 72.59 10 148.28 72.50 10 153.45 72.46 10 134.50 72.52 10 047.23 72.53 99.76 a Đất ruộng lúa, lúa mầu Ha 7 705.25 76.40 7 478.26 73.52 7 455.97 73.47 7 463.28 73.54 7 471.45 73.59 7 452.50 73.54 7 347.23 73.13 99.65
- Ruộng 2 vụ (2 lúa) Ha 7 680.00 99.70 7 470.00 99.89 7 450.00 99.92 7 458.00 99.93 7 468.00 99.95 7 448.00 99.94 7 340.23 99.90 99.65 b Đất trồng cây hàng năm khác Ha 2 383.00 23.60 2 693.21 26.48 2 692.54 26.53 2 685.00 26.46 2 682.00 19.14 2 682.00 26.46 2 700.00 26.87 100.05
3 Đất có mặt nước nuôi trồng TS Ha 400.00 2.86 401.00 2.87 420.00 3.00 431.00 3.08 440.00 3.15 465.00 3.36 103.08
II Đất lâm nghiệp Ha 6 332.68 25.40 6 222.50 24.95 6 221.22 24.95 6 218.34 24.94 6 218.34 24.94 6 218.00 24.94 6 203.00 24.88 99.94 III Đất chuyên dùng Ha 2 463.27 9.90 2 924.88 11.73 3 000.38 12.03 3 075.32 12.33 3 169.36 12.71 3 556.81 14.26 3 728.00 14.95 105.03
IV Đất thổ cƣ (đất ở) Ha 908.36 3.60 1 073.20 4.30 1 073.20 4.30 1 074.00 4.31 1 074.40 4.31 1 075.80 4.31 1 075.88 4.31 100.05
V Đất chƣa sử dụng Ha 1 385.87 5.60 711.20 2.85 661.20 2.65 570.56 2.29 460.56 1.85 111.00 45 77.00 31 70.69
1 Đất bằng chƣa sử dụng Ha 170.03 12.20 32.32 4.54 32.32 4.89 32.21 5.65 32.21 6.99 32.00 28.83 31.00 40.26 99.18
2 Đất núi chƣa sử dụng Ha 413.84 29.90 78.88 11.09 78.88 11.93 78.35 13.73 78.35 17.01 79.00 71.17 46.00 59.74 91.68
3 Đất có mặt nước chưa sử dụng Ha 802.00 57.90 600.00 84.36 550.00 83.18 460.00 80.62 350.00 75.99
Theo số liệu thống kê từ Phòng Thống kê huyện Phú Bình, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 24.936,11 ha Trong đó, năm 2005, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 56,16% (14.004,33 ha), đất lâm nghiệp 24,95% (6.222,5 ha), đất chuyên dùng 11,73% (2.924,88 ha), đất thổ cư 4,3% (1.073,2 ha), và đất chưa sử dụng 2,85% (711,2 ha) Đến năm 2007, đất nông nghiệp giảm nhẹ xuống còn 56,14% (13.997,89 ha), trong khi đất nuôi trồng thủy sản chiếm 3% (420 ha) Đến năm 2010, tỷ lệ đất nông nghiệp còn 55,55% (13.852,23 ha), đất lâm nghiệp 24,88% (6.203 ha), và đất chuyên dùng tăng lên 14,95% (3.728 ha) Điều này cho thấy nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu của huyện, với tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 55%.
Trong năm 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp là 14.004,33 ha, trong đó có 7.478,26 ha trồng lúa, chiếm 73,52%, và 2.693,21 ha trồng cây hàng năm khác, chiếm 26,48% Đến năm 2010, tổng diện tích giảm xuống còn 13.852,23 ha, với 7.347,23 ha trồng lúa (73,13%) và 2.700 ha trồng cây hàng năm khác (26,87%) Trung bình trong 5 năm, diện tích đất nông nghiệp giảm 0,22%.
Tại huyện trung du, đất chuyên dùng tăng 5,03% và đất thổ cư tăng 0,05%, trong khi đất chưa sử dụng giảm 30% Mặc dù có sự gia tăng về diện tích đất, cây trồng chủ đạo vẫn là lúa, trong khi cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả chưa phát huy được thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của huyện.
Tài nguyên đất đai của Phú Bình đa dạng nhưng phân bố không đồng đều, với chất lượng đất kém, nghèo dinh dưỡng và khả năng giữ nước thấp Độ mùn tổng số chỉ đạt từ 0,5% đến 0,7%, trong khi độ pH cao từ 4 đến 5 ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc sử dụng đất từ các khu vực này cho xây dựng khu công nghiệp có chi phí bồi thường thấp hơn so với các vùng đồng bằng màu mỡ, đồng thời ít tác động đến an ninh lương thực quốc gia.
Huyện hiện không còn rừng tự nhiên trong diện tích đất lâm nghiệp, với toàn bộ 6.203 ha rừng vào năm 2010 đều là rừng trồng, chủ yếu là cây keo.
Diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp của huyện đã giảm nhẹ trong thời gian qua, nhưng không có sự biến động lớn Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp vẫn giữ ổn định và không có nhiều thay đổi.
Diện tích đất phi nông nghiệp đã tăng nhưng không đáng kể, trong khi diện tích đất ở vẫn ổn định Sự gia tăng này chủ yếu đến từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp và công trình công cộng Tính đến năm 2010, diện tích đất chưa sử dụng của huyện chỉ chiếm 0,31% tổng diện tích tự nhiên, cho thấy quỹ đất của huyện đã được khai thác gần như triệt để.
2.1.3 Tình hình dân số và lao động
Bảng 2.3 Tình hình dân số và lao động huyện Phú Bình từ năm 2005-2010
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
II Tổng nhân khẩu Khẩu 135 521 100.00 134 385 100.00 134 860 100.00 134 103 100.00 133 739 100.00 133 933 100.00 134 336 100.00 99.99
2 Khẩu phi nông nghiệp 2 555 1.89 7 130 5.31 7 147 5.30 7 363 5.49 7 440 5.56 7 385 5.51 7 620 5.67 101.35 III Tổng số lao động Người 58 420 100.00 78 688 100.00 80 753 100.00 82 378 100.00 86 641 100.00 86 641 100.00 88 569 100.00 102.41
1 Lao động làm dịch vụ 8 210 14.05 13 056 16.59 15 283 18.93 17 088 20.74 19 100 22.04 19 100 22.04 21 739 24.54 110.89
IV Các chỉ tiêu tính toán
2 Bình quân khẩu NN/hộ NN 4.71 4.30 4.42 4.48 4.41 4.38 4.42 100.55
3 Bình quân lao động/hộ 1.80 2.26 2.32 2.39 2.48 2.48 2.51 102.07
[Nguồn số liệu Phòng thống kê huyện Phú Bình]
Tại bảng số liệu 2.3 Số liệu do Phòng Thống kê và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Phú Bình cung cấp,
Qua 5 năm bình quân tổng số hộ tăng 0,33%, trong đó hộ nông nghiệp giảm 0,61%, hộ TTCN tăng 5,28%, hộ TMDV tăng 5,31%, hộ khác tăng 6,71% Tổng số nhân khẩu năm 2006 là 134.860 người, tăng 0.35% so với năm 2005 là 134.385 người; năm 2007 là 134.103 người giảm 0,56% so với năm 2006; năm 2008 là 133,739 người giảm 0,27% so với năm 2007; năm
2009 là 133.933 người tăng 0,15% so với năm 2008; năm 2010 là 134.336 người tăng 0,3% so với năm 2009 Bình quân qua 5 năm giảm 0,01%
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Phú Bình qua các năm từ 2005 - 2010
2.2.1.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Phú Bình giai đoạn 2005 - 2010
Biểu 2.4 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu huyện Phú Bình từ năm 2005 - 2010
STT CHỈ TIÊU ĐVT 2005 2006 2007 2008 2009 2010 BQ
1 Giá trị sản xuất (GO) (giá thực tế) Tr Đồng 1 155 089 1 225 200 1 422 921 1 820 539 2 114 885 2 432 770 116.27 a Công nghiệp xây dựng Tr Đồng 351 180 421 330 456 021 500 871 660 916 827 250 119.03
- Công nghiệp - TTCN Tr Đồng 31 980 34 130 42 021 65 320 52 900 80 000 123.50
- Xây dựng Tr Đồng 319 200 387 200 414 000 435 551 608 016 747 250 119.19 b Nông, lâm, ngƣ nghiệp Tr Đồng 536 320 496 312 615 369 889 624 961 300 1 004 500 114.73
- Ngƣ nghiệp Tr Đồng 5 363 4 963 12 307 38 432 48 065 60 270 180.65 c Dịch vụ Tr Đồng 267 589 307 558 351 531 430 044 492 669 601 020 117.62
2 Tổng giá trị gia tăng hiện hành Tr Đồng 589 782 652 272 724 419 907 141 1 002 148 1 117 691 113.78
- Công nghiệp - xây dựng Tr Đồng 93 682 120 380 130 292 172 714 194 387 243 309 121.40
- Nông lâm nghiệp Tr Đồng 322 255 330 875 359 773 495 513 534 056 558 056 112.28
3 Cơ cấu tổng giá trị gia tăng theo ngành % 100 100 100 100 100
STT CHỈ TIÊU ĐVT 2005 2006 2007 2008 2009 2010 BQ kinh tế (giá hiện hành)
4 Thu nhập bình quân đầu người Triệu đồng 4 151 4 528 4 976 6 164 6 736 28 90.51
Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội Triệu đồng 142 700 148 700 177 600 208 100 255 550 7 430 93.30
6 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Triệu đồng 4 174 6 027 8 637 9 090 9 105 281 100 716.08 Trđó: - Thu từ cấp quyền sử dụng đất Triệu đồng 960 1 707 2 872 2 640 2 600 4 000 138.06
- Thu ngoài quốc doanh Triệu đồng 920 1 515 1 779 2 287 2 400 2 900 127.29
7 Thu bổ sung từ ngân sách Tỉnh Triệu đồng 54 755 61 563 83 301 119 875 125 000 129 547 119.91
8 Tổng thu ngân sách địa phương Triệu đồng 77 356 86 061 93 213 116 313 143 900 153 990 115.02 a Chi ĐTPT do địa bàn quản lý Triệu đồng 1 087 1 533 3 920 5 122 16 500 11 500 183.85
+ Vốn cân đối Ngân sách địa phương Triệu đồng 1 134 2 407 1 944 15 400 10 000 230.03
Trong đó: Đầu tƣ từ nguốn sử dụng đất Triệu đồng 814 2 407 1 944 5 000 4000 142.73
+ Chương trình mục tiêu quốc gia Triệu đồng 1 087 399 1 513 3 178 1 100 1500 159.39
+ Nguồn Ngân sách khác Triệu đồng b Chi thường xuyên Triệu đồng 57 172 64 377 85 750 114 369 127 400 140 490 120.17
[Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Phú Bình]
Hình 2.1 Cơ cấu ngành kinh tế hyện Phú Bình năm 2005-2010
Kỳ họp thứ 5 HĐND huyện khoá 16 đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng năm 2010 Sau một năm thực hiện, huyện đã phát huy kết quả đạt được, bám sát yêu cầu và triển khai nghị quyết đại hội Đảng vào thực tiễn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt nhiều kết quả quan trọng trong lĩnh vực kinh tế.
Năm 2008, huyện ghi nhận tăng trưởng kinh tế đạt 1,6% so với năm 2007 và kế hoạch đề ra Thu nhập bình quân đầu người đạt 6.164.000 đồng/năm, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
+ Tiểu thủ công nghiệp - TMDV chiếm 26 %
Năm 2010, cán bộ và nhân dân huyện đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Cây công nghiệp - Xây dựng Nông lâm nghiệp
Dịch vụ đa lĩnh vực, đặc biệt trong kinh tế, đã được HĐND huyện thực hiện đồng bộ với nhiều kết quả nổi bật Sản xuất kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện Các chỉ tiêu chủ yếu như sản lượng lương thực, sản phẩm chăn nuôi và dịch vụ thương mại đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
+ Sản xuất nông nghiệp chiếm 50%
Năm 2007 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong kế hoạch 5 năm (2005 - 2010) với nhiều nghị quyết và chính sách đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn được triển khai, tạo sự phấn khởi cho cán bộ và nhân dân huyện Phú Bình Trong những năm qua, huyện đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, với kinh tế liên tục tăng trưởng và đời sống người dân được cải thiện Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhờ vào quyết tâm đầu tư mạnh mẽ, đưa cây mới và ngành nghề mới vào sản xuất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quý giá Đặc biệt, sự đầu tư vào kết cấu hạ tầng như điện, đường, trường, trạm đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất của nhân dân.
Mặc dù Phú Bình có nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn như thiên nhiên thời tiết, dịch bệnh và cơ chế thị trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Cụ thể, rét đầu vụ đã làm thiệt hại 10% giống mạ và giảm diện tích gieo cấy lúa lai trong vụ chiêm Ngoài ra, tư tưởng sản xuất manh mún và độc canh của một số bộ phận dân cư, cùng với khả năng thích ứng hạn chế với cơ chế thị trường và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đã cản trở quá trình đầu tư sản xuất theo các chương trình kinh tế xã hội đã đề ra.
+ Nông lâm ngƣ nghiệp (giá trị sản xuất giá thực tế) đạt 615.369 triệu đồng chiếm 50%
+ CN - TTCN đạt 456.021 triệu đồng chiếm 17,99%
+ TM- DV đạt 351.531 triệu đồng chiếm 32,01%
Thu nhập bình quân đầu người tại huyện Phú Bình đạt 4.976.000 đồng/năm Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững, huyện cần khắc phục những hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, đồng thời đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế, góp phần thực hiện chương trình đổi mới đất nước.
2.2.1.2 Cơ cấu kinh tế chung của huyện trong giai đoạn 2005- 2010
Cơ cấu kinh tế của huyện Phú Bình từ năm 2005 đến 2010 được phân chia thành ba thành phần chính: nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, và thương mại dịch vụ.
Bảng 2.5: Cơ cấu kinh tế chung của huyện Phú Bình từ năm 2005 - 2010
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
% SL CC % SL CC % SL CC
I Giá trị sản xuất (GO)
1 Công nghiệp - TTCN - xây dựng Trđ 171 180 16.47 201 330 19.26 210 021 18.42 285 871 20.16 340 916 20.37 348 250 21.71 115.89
2 Nông, lâm, ngƣ nghiệp Trđ 570 320 54.89 536 311 51.31 578 368 50.74 779 624 54.98 881 300 52.65 804 500 50.15 108.20
3 Thương mại - dịch vụ Trđ 297 589 28.64 307 558 29.43 351 531 30.84 352 531 24.86 451 531 26.98 451 531 28.15 109.20
II Chỉ tiêu bình quân
1 Tổng giá trị sản xuất/ hộ Trđ 29.89 30.06 33.04 40.57 47.86 45.40 109.22
2 Tổng giá trị sản xuất/khẩu Trđ 7.73 7.75 8.50 10.60 12.50 11.94 109.61
3 GTSX ngành NN/hộ Trđ 19.29 15.43 16.76 22.31 25.20 22.77 105.00
4 GTSX ngành NN/khẩu Trđ 4.24 3.98 4.31 5.83 6.58 5.99 108.24
Theo bảng số liệu 2.5, tổng giá trị sản xuất của toàn huyện đã liên tục tăng qua các năm Cụ thể, năm 2005 đạt 1.039 tỷ đồng, năm 2006 đạt 1.045 tỷ đồng, năm 2007 đạt 1.139 tỷ đồng và năm 2008 đạt 1.418 tỷ đồng.
2009 đạt 1.673 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1.604 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng của năm 2006 so với năm 2005 tăng 9.59%, năm
Từ năm 2005 đến 2010, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp và thương mại dịch vụ tăng bình quân 9.59% hàng năm Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) ghi nhận giá trị sản xuất đạt 171.180 triệu đồng vào năm 2005, với mức tăng 8,9% vào năm 2006 và 13,41% vào năm 2007 Tuy nhiên, sự giảm sút trong một số lĩnh vực là do việc sắp xếp lại vùng sản xuất gạch và cát theo quy định của nhà nước.
Từ năm 2005 đến 2010, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tại huyện đã có sự biến động rõ rệt, với 514.867 triệu đồng vào năm 2005 (chiếm 90,28% tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp), giảm xuống 471.496 triệu đồng vào năm 2006 (chiếm 88%), và đạt 653.825 triệu đồng vào năm 2010 (chiếm 81%) Mặc dù diện tích đất trồng trọt giảm do chuyển đổi sang xây dựng cơ bản và ảnh hưởng của hạn hán, nhưng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn tăng trưởng liên tục, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đã có sự tăng trưởng đáng kể từ năm 2005 với giá trị sản xuất đạt 171.180 triệu đồng, chiếm 16,47% tổng giá trị sản xuất toàn huyện Đến năm 2008, giá trị này tăng lên 285.871 triệu đồng, tương đương 20,16% Năm 2010, ngành này ghi nhận mức cao nhất trong 5 năm gần đây với 348.250 triệu đồng, chiếm gần 22% tổng giá trị sản xuất Tốc độ phát triển bình quân trong 5 năm đạt 9,20%, tuy nhiên, tỷ trọng của ngành CN - TTCN vẫn còn thấp trong cơ cấu kinh tế huyện do chưa khai thác hết tiềm năng Trong tương lai, ngành này dự kiến sẽ phát triển mạnh mẽ nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Ngành thương mại - dịch vụ tại huyện Phú Bình đứng thứ 3 về giá trị sản xuất, chỉ sau nông nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đóng góp đáng kể vào tổng giá trị sản xuất của huyện Trong 5 năm qua, giá trị sản xuất của ngành này luôn tăng trưởng, đặc biệt tại thị trấn Hương Sơn, nơi có 95% hộ dân hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Năm 2005, giá trị ngành đạt 287.589 triệu đồng, chiếm gần 28% tổng giá trị sản xuất toàn huyện Đến năm 2009, giá trị sản xuất tăng lên 451.531 triệu đồng, vẫn giữ tỷ lệ 28%, với tốc độ phát triển 78% so với năm 2008 Trung bình, tốc độ phát triển của ngành thương mại - dịch vụ trong 5 năm đạt 109,7%.
Kết quả sản xuất của huyện cho thấy sự tăng trưởng ổn định, chủ yếu nhờ vào ngành nông nghiệp Dù ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, nhưng vẫn đóng góp một phần nhỏ hơn nhiều so với ngành nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của huyện.
Theo biểu 2.5, GTSX/khẩu toàn huyện đã tăng trưởng qua 5 năm, cụ thể: năm 2005 đạt 7,73 triệu đồng, năm 2006 là 7,75 triệu đồng, và năm 2009 đạt 12,50 triệu đồng Tốc độ phát triển bình quân trong 5 năm là 9,65%.