1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 4 ngoại tác và chính sách của chính phủ

35 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngoại Tác Và Chính Sách Của Chính Phủ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại Học phần
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 737,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi phí tư nhân biên tế thể hiện các khoản chi trả của Bart cho các yếu tố đầu vào và được giả sử rằng chúng sẽ tăng cùng với sản lượng đầu ra... Phản ứng của tư nhân với ngoại tác4.4.1

Trang 1

CHƯƠNG 4: NGOẠI TÁC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ.

Chương này sẽ cung cấp cho chúng ta: Định nghĩa hay khái niệm về ngoại tác; Bản

chất của ngoại tác; Phân tích đồ thị ngoại tác; Phản ứng tư nhân đối với ngoại tác, Định lý

Coase và ý nghĩa của nó; Chính sách của Chính phủ về ngoại tác

Trang 2

4.1 Khái niệm ngoại tác.

Khi hoạt động của một thực thể (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp tác động đến lợi ích củathực thể khác theo cách không thông qua giá thị trường, các nhà kinh tế gọi sự tác động đó là ngoạitác (externality) Khác với các tác động thông qua giá cả thị trường, ngoại tác ảnh hưởng ngượcchiều với hiệu quả kinh tế Trong chương này chúng ta phân tích tình trạng không hiệu quả đó vàkhả năng khắc phục ngoại tác Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của lý thuyết ngoại tác

là thảo luận về chất lượng môi trường

Trang 3

4.1 Khái niệm ngoại tác.

Trang 4

4.1 Khái niệm ngoại tác.

Các ví dụ về ngoại tác:

Vào năm 1997, đại diện trên 170 quốc gia gặp nhau tại thành phố Tokyo, Nhật Bản, với nỗ lực đưa

ra cam kết quốc tế về giới hạn chất thải cacbon trên toàn thế giới

Cho dù dự báo đầy thảm khốc này, nhưng hội nghị Kyoto lại đương đầu một nhiệm vụ đầy khókhăn Chi phí để cắt giảm sử dụng nhiên liệu, khí đốt, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp là rấtlớn Việc thay thế nhiên liệu bằng các chất liệu khác làm gia tăng chi phí cuộc sống của các quốcgia công nghiệp

Trang 5

4.1 Khái niệm ngoại tác.

Khí hậu nóng dần lên do bởi sử dụng nhiên liệu là một ví dụ điển hình mà các nhà kinh tế khác gọi

là ngoại tác Một ngoại tác xảy ra bất cứ lúc nào khi hành động của một đối tác làm cho đối táckhác tốt hơn hay xấu đi, mà đối tác ban đầu vừa không phải gánh chịu chi phí, vừa không nhận lợiích từ hành động đó

Trang 6

4.1 Khái niệm ngoại tác.

Ngoại tác có thể xảy ra trong nhiều tương tác hàng ngày với những mức độ và phạm vi khác nhau.Ngoại tác xảy ra ở mức độ nhỏ, như là bạn mở radio quá lớn, làm cho người bạn cùng phòng họckhông được Ngoại tác xảy ra ở mức độ lớn như là mưa axit hoặc trái đất nóng dần lên Các nhàmáy nhiệt điện sử dụng than đá để sản xuất Sản phẩm phụ của nó là thải ra chất nitơ và điôxitsunfơtạo ra axit nitơrit và sunfơrit Những loại axit này tạo ra mưa axit, làm phá hoại mùa màng và giatăng bệnh hô hấp trong công chúng Nếu không có can thiệp của chính phủ thì những nhà máynhiệt điện không gánh chịu bất kỳ khoản chi phí nào từ hoạt động sản xuất của nó gây ảnh hưởngđến ô nhiễm môi trường

Trang 7

4.2 Bản chất của ngoại tác.

Giả sử anh Bart đang điều hành một nhà máy và thải chất bẩn vào một con sông (không có

ai là chủ sở hữu) Cô Lisa sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông

Hoạt động của anh Bart trực tiếp làm cho cô Lisa thiệt hại

Do vậy, tính hiệu quả đòi hỏi anh Bart phải chi trả mức giá thể hiện giá trị của nước nhưnguồn lực khan hiếm có thể sử dụng cho các hoạt động khác

Trang 8

4.2 Bản chất của ngoại tác.

Giả sử anh Bart đang điều hành một nhà máy và thải chất bẩn vào một con sông (không có

ai là chủ sở hữu) Cô Lisa sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông

Giả sử chị Lisa là chủ sở hữu của dòng sông, Lisa có thể buộc anh Bart phải đóng phí cho

sự làm bẩn môi trường làm thiệt hại việc câu cá của mình Bart có thể tính khoản phí này trong

quyết định sản xuất và sử dụng nguồn nước hiệu quả hơn Mặt khác, nếu anh Bart là chủ dòng

nước, anh ta có thể kiếm tiền được bằng cách buộc chị Lisa trả tiền cho quyền được câu cá Số

tiền cho quyền câu cá trên sông (mà chị Lisa sẵn sàng trả cho Bart) còn phụ thuộc vào mức độ ô

nhiễm dòng nước Do vậy, anh Bart sẽ có động cơ không làm bẩn dòng nước nữa Nếu không,

anh Bart sẽ không kiếm được nhiều tiền từ chị Liza

Trang 9

4.2 Bản chất của ngoại tác.

Mở rộng ra, chúng ta chú ý các tính chất sau của ngoại tác:

- Ngoại tác có thể được tạo ra bởi người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất

- Ngoại tác có bản chất tương hỗ Trong ví dụ của chúng ta, dường như chắc chắn rằng Bart là một người gây ô nhiễm môi trường Dù vậy, ta có thể cho rằng chị Lisa câu cá trên dòng sông mà làm tăng chi phí

xã hội của quá trình sản xuất trong nhà máy của anh Bart

- Ngoại tác có thể là tích cực: Ví dụ như tôi sử dụng công nghệ định vị xe máy, khi xe bị mất trộm thì

cảnh sát rất dễ dàng tìm ra xe và bắt kẻ trộm Các chủ xe khác có thể hưởng lợi từ việc này mặc du không mua hệ thống định vị nhưng kẻ trộm rất e dè vì không biết xe nào có lắp hay không lắp định vị

- Hàng hoá công có thể xem như một dạng đặc biệt của ngoại tác Giả sử tôi lắp ở sân nhà một chiếc máy diệt muỗi bằng sóng điện Nếu tôi diệt được toàn bộ họ hàng nhà muỗi thì tôi đã tạo ra một hàng hoá

công thuần tuý do có những người hàng xóm có được ảnh hưởng của máy điệt muỗi thì đây là ngoại tác

Trang 10

4.3 Phân tích ngoại tác bằng đồ thị.

Phân tích ví dụ về anh Bart – chị Lisa đã được mô tả ở trên

Trục hoành thể hiện quy mô đầu ra Q do nhà máy anh Bart sản

xuất, trục tung đo số đôla Đường MB cho thấy lợi ích biên tế

của Bart đối với mỗi mức sản xuất đầu ra (giả sử lợi ích biên tế

giảm dần khi sản phẩm đầu ra tăng)

Cũng liên quan đến mỗi mức sản lượng đầu ra là chi phí tư

nhân biên tế nào đó– MPC mà anh Bart phải chi ra cho việc sản

xuất Chi phí tư nhân biên tế thể hiện các khoản chi trả của Bart

cho các yếu tố đầu vào và được giả sử rằng chúng sẽ tăng cùng

với sản lượng đầu ra

Trang 11

4.3 Phân tích ngoại tác bằng đồ thị.

Giả sử khi sản lượng đầu ra của nhà máy tăng lên thì quy mô

ô nhiễm nó tạo ra cũng tăng MD biểu diễn thiệt hại biên tế của chị

Lisa do ô nhiễm với mỗi mức sản xuất đầu ra MD được vẽ hướng đi

lên thể hiện giả thiết chị Lisa là người phải chịu phụ thuộc vào sự ô

nhiễm phát sinh thêm: nghĩa là chị Lisa sẽ thiệt hại hơn với tỉ lệ gia

tăng

Nếu Bart muốn tối đa hoá lợi nhuận, anh ta sẽ sản xuất bao nhiêu sản phẩm đầu ra? Bart sẽ quyết định sản xuất khi lợi ích biên tế đối với anh ta vượt quá chi phí biên tế đối với anh ta Trong đồ thị trên, Bart sản xuất toàn bộ mức sản lượng của mình để MB vượt MPC nhưng sẽ không sản xuất khi MPC vượt quá

MB Do đó, anh ta sản xuất đến mức Q1 là nơi MPC cắt MB

Trang 12

4.3 Phân tích ngoại tác bằng đồ thị.

Từ quan điểm của xã hội, nên tiến hành sản xuất khi lợi ích

biên tế đối với xã hội vượt quá chi phí biên tế đối với xã hội Chi

phí biên tế đối với xã hội có hai thành phần: Thứ nhất là các yếu

tố đầu vào do anh Bart mua Giá trị của chúng thể hiện trong

MPC; Thứ hai là thiệt hại biên tế đối với Lisa thể hiện trong MD

Do vậy, chi phí xã hội biên tế là MPC cộng với MD Trên phương

diện hình học, đồ thị chi phí xã hội biên tế MSC được xác định

bằng cách cộng lại chiều cao của MPC và MD tại mỗi mức sản

xuất đầu ra Chú ý rằng, theo cấu trúc thì khoảng cách thẳng đứng

giữa MSC và MPC là MD (bởi vì MSC = MPC+MD, do đó MSC

– MPC =MD)

Tính hiệu quả từ quan điểm xã hội đòi hỏi chỉ sản xuất các đơn vị sản phẩm đầu ra mà MB lớn hơn MSC Do đó đầu

ra nên là Q*, là nơi hai đồ thị cắt nhau.

Trang 13

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.1 Mặc cả thương lượng và Định Lý Coase

Với sự hiện diện của ngoại tác, vấn đề phân bố nguồn lực

không hiệu quả sẽ nổi lên nếu ta không có biện pháp tác động Phần

này sẽ bàn về các trường hợp trong đó các cá nhân, khi hoạt động

dựa trên quyền lợi của mình, có thể tránh được ngoại tác xảy ra

Giả sử quyền chủ sở hữu dòng sông được chỉ định cho anh

Bart Ta giả sử rằng việc chị Lisa và anh Bart mặc cả thương lượng

với nhau là không tốn kém chi phí hành chính Vậy hai bên có thể

đạt được một thoả thuận trao đổi làm cho sản xuất đầu ra giảm

xuống từ Q1 hay không?

Trang 14

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.1 Mặc cả thương lượng và Định Lý Coase

Anh Bart sẽ sẵn sàng không sản xuất một số đơn vị sản phẩm

đầu ra chỉ khi nào nhận được khoản tiền lớn hơn khoản thu gia tăng

thuần từ sản xuất đơn vị sản phẩm đó: (MB – MPC) Mặt khác, chị

Lisa sẵn lòng chi trả cho anh Bart để anh này không sản xuất số đơn

vị sản phẩm khi khoản chi trả này bé hơn thiệt hại biên tế đối với

chị Lisa MD Khi khoản tiền chị Lisa trả cho anh Bart lớn hơn chi

phí (để anh Bart không sản xuất nữa), cơ hội thực hiện các cuộc

thương lượng trao đổi sẽ xuất hiện

Trang 15

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.1 Mặc cả thương lượng và Định Lý Coase

Thể hiện bằng đồ thị trên, yêu cầu đặt ra là MD>(MB-MPC),

cho thấy rằng tại điểm sản xuất đầu ra Q1, (MB – MPC) là bằng

không trong khi MD là dương Do đó, MD vượt quá (MB –MPC),

và đây là phạm vi của một cuộc thương lượng Lý lẽ tương tự cho

thấy khoản tiền chị Lisa sẵn sàng chi trả là lớn hơn MB – MPC tại

mọi mức sản lượng đầu ra phía bên phải của Q* Do vậy, Lisa trả

tiền cho Bart giảm sản xuất đến mức Q* là mức hiệu quả

Trang 16

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.1 Mặc cả thương lượng và Định Lý Coase

Trong phân tích trên ta có hai giả thiết quan trọng: (1).Chi phí để

thương lượng đối với cả hai bên là thấp; (2).Chủ sở hữu của các nguồn

lực có thể xác định nguồn gây thiệt hại cho tài sản của họ và có thể

ngăn chặn một cách hợp pháp

Một cách tóm lược ý nghĩa của các gợi ý xung quanh phân tích

trên là, với các điều kiện giả thiết trên, giải pháp hiệu quả sẽ đạt được

không phụ thuộc vào việc ai là người được chỉ định quyền chủ sở hữu

(miễn là một người nào đó được chỉ định các quyền chủ sở hữu trên)

Kết quả này còn được gọi là Định Lý Coase (theo tên người được giải thưởng Nobel là Ronald Coase) nghĩa là một khi quyền chủ sở hữu được thiết lập, chính phủ không cần can thiệp để đối phó các ngoại tác (Coase, 1960).

Trang 17

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.1 Mặc cả thương lượng và Định Lý Coase

Phần I của định lý Coase: Khi quyền tài sản được xác định rõ ràng và sự mặc cả không tốn kém chiphí, thì sự thương lượng giữa bên đối tác tạo ra ngoại tác và đối tác bị ảnh hưởng bởi ngoại tác có thể dẫnđến số lượng thị trường tối ưu xã hội Định lý này cho rằng, ngoại tác không nhất thiết tạo ra thất bại thịtrường, bởi vì sự thương lượng giữa các bên đối tác có thể hướng người sản xuất (hoặc người tiêu dùng)gây ra vi phạm nội hóa ngoại tác hoặc quan tâm đến những ảnh hưởng bên ngoài trong quá trình sản xuấthoặc tiêu dùng của họ

Định lý Coase đưa ra ý tưởng sự giới hạn vai trò rất đặc biệt của chính phủ trong quá trình giải quyếtngoại tác, đó là: tạo lập quyền sở hữu hợp lý Theo quan điểm của Coase, giới hạn cơ bản để thực hiện giảiquyết vấn đề ngoại tác của khu vực là sự thiết lập quyền tài sản yếu kém Nếu như chính phủ có thể thiết lập

và tăng cường quyền tài sản hợp lý thì khu vực tư sẽ giải quyết tốt vấn đề còn lại

Trang 18

4.4.2 Liên kết

Để đối phó với ngoại tác là”nội bộ hoá” nó bằng cách kết hợp lại các bên có liên Quan Nói cáchkhác, nếu Bart và Lisa cùng kết hợp hoạt động của họ lại thì lợi nhuận từ doanh nghiệp liên kết củahai người sẽ cao hơn tổng lợi nhuận của từng cá nhân khi họ không có sự kết hợp Chẵng hạn như chiLisa có cổ phần trong nhà máy của anh Part và ngược lại, hoặc có người mua cả nhà máy và thuyềnđánh cá, thì lúc này ngoại tác có thể không tồn tại và thị trường hiệu quả

Trang 19

4.4 Phản ứng của tư nhân với ngoại tác

4.4.3 Các quy ước xã hội

Các quy ước xã hội có thể được xem như nỗ lực buộc mọi người quan tâm đến ngoại tác do họ gây

ra Trước khi hành động, hãy nghĩ ngay đến chi phí và lợi ích biên tế xã hội của hành động đó Nhữnggiáo huấn quy tắc đạo đức làm cho con người thông cảm người khác và nội bộ hóa ngoại tác Quy tắcđạo đức góp phần điều chỉnh lại các khuyết điểm của thị trường

Trang 20

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

Trong trường hợp các cá nhân hành động với lợi ích riêng của mình không thể đạt được

giải pháp hiệu quả, có một số phương cách theo đó chính phủ có thể can thiệp vào:

Trang 21

4.5.1 Thuế

Anh Bart sản xuất không hiệu quả bởi vì mức giá trả cho các yếu tố đầu vào không thể hiện đúng chiphí xã hội Cụ thể, bởi vì giá đầu vào thấp, cho nên giá sản xuất đầu ra thấp Nhà kinh tế học người AnhA.C Pigou năm 1930 đề xuất giải pháp áp một loại thuế lên người gây ô nhiễm để bù lại các yếu tố đầuvào sản xuất của anh ta có giá quá thấp

Thuế Pigou là loại thuế áp lên mỗi đơn vị sản xuất đầu ra của người gây ô nhiễm với quy mô bằngthiệt hại biên tế mà nó tạo ra tại mức sản xuất đầu ra hiệu quả

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

Trang 22

4.5.1 Thuế

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

Hình trên thể hiện lại thông tin việc đánh thuế

Trong trường hợp này, thiệt hại biên tế tại mức đầu

ra hiệu quả Q* là khoảng cd Đây là thuế Pigou

(nhớ rằng khoảng cách thẳng đứng giữa MPC và

MSC là MD) Anh Bart phản ứng như thế nào nếu

bị áp thuế cd đô la trên mỗi đơn vị sản phẩm đầu

ra?

Trang 23

4.5.1 Thuế

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

Thuế làm tăng chi phí biên tế hiệu quả cuả Bart, đối với mỗi

đơn vị sản phẩm, anh ta phải chi trả cho các nhà cung cấp đầu

vào (được đo bằng MPC) và cho người thu thuế (được đo là

cd) Xét trên phương diện hình học, đồ thị chi phí biên tế của

Bart được xác định bằng cách cộng thêm cd vào MPC tại mỗi

mức sản lượng đầu ra Điều này làm dịch chuyển MPC lên

theo khoảng cách thẳng đứng bằng cd Tối đa hoá lợi nhuận

đòi hỏi anh Bart sản xuất tại điểm mà chi phí biên tế bằng lợi

ích biên tế là điểm giao nhau giữa MB và MPC+cd, đây là

mức sản lượng đầu ra hiệu quả Q*

Trang 24

4.5.1 Thuế

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

Lưu ý là thuế tạo ra số thu cd đô la trên mỗi đơn vị của id

sản phẩm sản xuất ra (id=OQ*) Do đó, số thu thuế huy động

là cd × id, là bằng diện tích của hình chữ nhật ijcd trong hình

Chính phủ có thể sử dụng nguồn thu này để trợ cấp cho chị

Lisa, tuy nhiên cần cẩn trọng vấn đề này do có khả năng bị

lạm dụng

Việc áp dụng thuế suất này rất khó trong thực tế do việc

xác định ngoại tác tiêu cực là phức tạp, nên chính phủ có

những thỏa hiệp để cải thiện Hiện nay có thể áp dụng khoa

học kỹ thuật để xác định ngoại tác tiêu cực

Trang 25

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

4.5.2 Trợ cấp

Giả sử chính phủ công bố sẽ chi cho anh Bart một

khoản trợ cấp là cd cho mỗi đơn vị sản phẩm anh Bart

không sản xuất Anh Bart sẽ làm gì? Trong hình sau, lợi

ích biên tế tại mức sản xuất Q1 là khoảng cách giữa MB

và trục hoành là ge Chi phí biên tế tại Q1 là tổng số tiền

anh Bart chi trả cho các đầu vào (mà ta thể hiện bằng

đường MPC) và khoản chi trợ cấp cd của chính phủ để

anh Bart từ bỏ sản xuất (khoảng nhận trợ cấp này xem

như là chi phí mà anh Bart từ bỏ sản xuất) Một lần nữa,

đồ thị chi phí biên tế nhận là MPC+cd

Trang 26

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

4.5.2 Trợ cấp

Tại điểm đầu ra Q1 là khoảng ek (=eg+gk) Nhưng

ek vượt quá lợi ích biên tế ge Khi mà chi phí biên tế vượt

quá lợi ích biên tế tại Q1 thì việc sản xuất thêm một đơn

vị sản phẩm cuối cùng không có ý nghĩa lợi ích cho anh

Bart Thay vào đó, Bart có thể ngưng sản xuất và nhận trợ

cấp Thay vì phải trả thuế idcj, anh Bart nhận được khoản

tiền bằng số đơn vị anh từ bỏ không sản xuất là ch nhân

với trợ cấp trên mỗi đơn vị là cd bằng diện tích hình chữ

nhật dfhc trong hình

Trang 27

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

4.5.2 Trợ cấp

Tuy nhiên, việc trợ cấp cũng dễ xảy ra vấn đề

lạm dụng khi mà nhiều công ty như anh Bart muốn

được nhận trợ cấp để có lợi nhuận hơn, do vậy xây

nhiều nhà máy dọc sông Thứ hai, xét trên gốc độ

đạo đức, người ta không mong muốn nhận trợ cấp

Trang 28

4.5 Phản ứng của công cộng với ngoại tác

4.5.3 Tạo ra thị trường.

Đánh thuế, trợ cấp là các công cụ giải quyết vấn đề ngoại tác theo cơ chế giá Tuy nhiên, việcđánh thuế hay trợ cấp đối với người gây ô nhiễm không mang tính ổn định, hay giảm bớt thiệt hại môitrường Có thể nhu cầu hàng hàng hóa cao, người ta có thể chấp nhận đóng thuế để gây ô nhiễm, hoặckhông nhận trợ cấp…

Điều này đã đề xuất một phương cách khác để nâng cao tính hiệu quả: Bán cho người sản xuất quyền gây ô nhiễm Bằng cách này, thực tế chính phủ tạo ra một thị trường không khí sạch hay nước sạch mà nếu không làm như vậy thì các thị trường này không bao giờ xuất hiện

Ngày đăng: 29/10/2023, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên thể hiện lại thông tin việc đánh thuế. - Chương 4 ngoại tác và chính sách của chính phủ
Hình tr ên thể hiện lại thông tin việc đánh thuế (Trang 22)
Đồ thị chi phí biên tế nhận là MPC+cd. - Chương 4 ngoại tác và chính sách của chính phủ
th ị chi phí biên tế nhận là MPC+cd (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w