1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023

71 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Tác giả Bùi Thị Thu Hà, Sồng A Phệnh, Hoàng Thúy Anh, Cao Thị Nguyệt, Phạm Ngọc Bảo
Trường học Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Mai Sơn
Chuyên ngành Y Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở
Năm xuất bản 2023
Thành phố Mai Sơn
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 6,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2. Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam và huyện Mai Sơn (13)
    • 1.2.1. Tại Việt Nam (13)
    • 1.2.2. Tại huyện Mai Sơn (13)
    • 1.2.3. Hậu quả và gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS (13)
  • 1.3. Chất lượng cuộc sống (14)
    • 1.3.1. Khái niện về chất lượng cuộc sống (0)
    • 1.3.2. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (14)
    • 1.3.3. Độ thỏa dụng về sức khỏe (15)
    • 1.3.4. Ứng dụng của đo lường chất lượng cuộc sống trong điều trị và hoạch định chính sách (15)
    • 1.3.5. Phương pháp đo lường CLCS (16)
  • 1.4. Một số yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân HIV/AIDS (17)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (22)
    • 2.3. Phương phám nghiên cứu (22)
    • 2.4. Xử lý dữ liệu (23)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (24)
    • 3.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (24)
    • 3.2. Thực trạng CLCS của bệnh nhân HIV/AIDS điểu trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, Bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn (0)
      • 3.2.1. Đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống theo từng nhóm vấn đề (27)
      • 3.2.2. Độ thỏa dụng về sức khỏe của đối tượng nghiên cứu phân theo một số đặc điểm (30)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (37)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (0)

Nội dung

Việt Nam nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của bệnh nhân HIVAIDS còn khiêm tốn, đặc biệt là việc tìm hiểu các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống còn nhiều hạn chế do HIVAIDS vẫn còn là vấn đề nhạy cảm và khó tiếp cận ở nước ta. Cùng chung thực trạng đó, chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIVAIDS hầu như chưa được quan tâm thực hiện. Mặt khác, Mai Sơn là một huyện vùng núi có tỉ lệ người nhiễm HIVAIDS còn sống và đang điều trị chiếm trên 14% toàn tỉnh. Vậy, câu hỏi đặt ra là chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIVAIDS hiện tại như thế nào, có những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của những người nhiễm HIVAIDS đang điều trị tại phòng khám ngoại trú người lớn, Bệnh viện Đa khoa huyện Mai Sơn

Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam và huyện Mai Sơn

Tại Việt Nam

Theo thống kê của Cục phòng, chống HIV/AIDS, tính đến tháng 10/2022, Việt Nam ghi nhận 220.580 trường hợp nhiễm HIV còn sống và 112.368 trường hợp tử vong, với khoảng 10.000 ca nhiễm mới mỗi năm Tại tỉnh Sơn La, đến cuối năm 2022, có 9.457 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 5.013 người còn sống và 4.396 người đang được điều trị bằng ARV.

Tại huyện Mai Sơn

Tính đến ngày 30/12/2022, huyện Mai Sơn ghi nhận tổng cộng 1.684 người nhiễm HIV, trong đó 1.048 người còn sống và 929 người đang được điều trị Số ca tử vong do AIDS lũy tích là 636 người, theo báo cáo hoạt động phòng chống HIV/AIDS năm 2022 của Trung tâm Y tế huyện Mai Sơn.

Hậu quả và gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS

Tại Việt Nam và nhiều nước đang phát triển, HIV/AIDS vẫn là nguyên nhân chính gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2022, số ca tử vong do HIV/AIDS đã vượt quá 112.360, gấp hơn 200 lần mức trung bình của các bệnh truyền nhiễm khác.

Hiện nay, Việt Nam có 478 cơ sở điều trị HIV tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó 270 cơ sở được thanh toán qua quỹ bảo hiểm y tế, phục vụ khoảng 161.000 người, với hơn 85.000 bệnh nhân điều trị ARV qua BHYT, chiếm 53% Tuy nhiên, HIV/AIDS vẫn là gánh nặng bệnh tật lớn, với hơn 10.000 ca mới nhiễm mỗi năm và khoảng 2.000 ca tử vong Điều này cho thấy HIV/AIDS không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn đến gia đình và cộng đồng xã hội Hiện tại, chưa có phương pháp điều trị khỏi HIV, do đó, việc giúp người dân sống an toàn với bệnh là rất cần thiết để giảm thiểu những hậu quả.

Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Khái niệm CLCS liên quan đến sức khỏe (HRQoL) đã được hình thành từ những năm 1980, nhằm phản ánh những khía cạnh đa dạng của chất lượng cuộc sống Ở cấp độ cá nhân, HRQoL bao gồm nhận thức về sức khỏe thể chất và tâm thần, như mức năng lượng và tâm trạng, cùng với các yếu tố như rủi ro sức khỏe, tình trạng chức năng, hỗ trợ xã hội và tình trạng kinh tế xã hội Ở cấp độ cộng đồng, HRQoL liên quan đến các tài nguyên, điều kiện, chính sách và thực tiễn có ảnh hưởng đến nhận thức về sức khỏe của người dân Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ đã xác định HRQoL là “Sức khỏe thể chất và tinh thần của một cá nhân hoặc nhóm theo thời gian” dựa trên việc tổng hợp tài liệu khoa học và tư vấn từ các đối tác y tế công cộng.

Độ thỏa dụng về sức khỏe

Độ thỏa dụng về sức khỏe được đánh giá thông qua công cụ đo lường CLCS Các công cụ này sử dụng để đo lường sức khỏe và cung cấp chỉ số tổng hợp, với giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến một mức tối đa nhất định.

Giá trị độ thỏa dụng về sức khỏe (Health Utility) là một thang đo phản ánh tình trạng sức khỏe của một cá nhân Trong đó, giá trị 1 biểu thị cho trạng thái sức khỏe hoàn hảo, trong khi giá trị 0 tương ứng với trạng thái chết.

Ứng dụng của đo lường chất lượng cuộc sống trong điều trị và hoạch định chính sách

Đo lường CLCS được ứng dụng trong quá trình đưa ra các quyết định điều trị và quá trình hoạch định chính sách.

Trong quá trình điều trị, bác sĩ dựa vào các đặc điểm cận lâm sàng và lâm sàng để đưa ra quyết định, từ việc đo nhịp tim, huyết áp đến các phân tích cao hơn như điện tim Tuy nhiên, việc kết nối bệnh nhân với bối cảnh xã hội và các vấn đề ảnh hưởng đến tâm lý và thể chất của họ vẫn còn thiếu Để cải thiện điều này, việc đo lường chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) là cần thiết, giúp xác định vấn đề ưu tiên và theo dõi sự thay đổi trong đáp ứng điều trị CLCS không chỉ hỗ trợ trong việc quản trị bệnh viện mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách Hiệu quả và chi phí của các can thiệp thông qua chỉ số CLCS là hai yếu tố quan trọng để đánh giá chi phí – hiệu quả, từ đó giúp phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các can thiệp khác nhau.

Phương pháp đo lường CLCS

Có hai loại công cụ đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS): một loại dành cho các tình trạng sức khỏe cụ thể và một loại chung cho nhiều tình huống Trên toàn cầu, đã có nhiều công cụ được phát triển để đo lường CLCS cho bệnh nhân mắc các bệnh lý cụ thể, với mục tiêu đánh giá các khía cạnh quan trọng trong cuộc sống của họ.

Công cụ đo lường chung cho nhiều tình huống được chia thành hai loại: một loại cung cấp chỉ số CLCS khái quát và loại còn lại cung cấp nhiều chỉ số phản ánh các khía cạnh của CLCS Các chỉ số tổng hợp như EQ-5D-5L và SF-6D đo lường thỏa dụng sức khỏe, là thành phần quan trọng trong tính toán số năm sống điều chỉnh theo chất lượng (QALYs) cho các đánh giá chi phí – hiệu quả và chi phí - thỏa dụng Ngược lại, các công cụ như SF-36 và WHOQOL cung cấp đo lường cho từng khía cạnh cụ thể như sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, xã hội và môi trường.

Hiện nay, việc nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sống chung với HIV tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là việc áp dụng thang đo EQ-5D và WHOQOL – BREF HIV Lựa chọn công cụ đo lường chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và phạm vi mà các nhà nghiên cứu muốn khảo sát đối với bệnh nhân điều trị ARV và các can thiệp liên quan.

Bộ công cụ WHOQOL-BREF, được phát triển bởi Tổ chức Y tế Thế giới, là bảng câu hỏi ngắn gồm 26 câu hỏi nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống, rút gọn từ bộ WHOQOL-100 WHOQOL-BREF đo lường bốn lĩnh vực chính: thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường Trong lĩnh vực thể chất, các khía cạnh được xem xét bao gồm hoạt động hàng ngày, sức lực, đau đớn và giấc ngủ Lĩnh vực tâm lý tập trung vào cảm xúc, lòng tự trọng và khả năng tư duy Về xã hội, bộ công cụ này đánh giá các mối quan hệ cá nhân và hỗ trợ xã hội Cuối cùng, lĩnh vực môi trường liên quan đến tài chính, an toàn, chăm sóc y tế và tham gia hoạt động giải trí.

Bộ công cụ EQ-5D-5L là một cải tiến so với thang đo EQ-5D-3L, vì nó cung cấp nhiều lựa chọn trả lời hơn, tăng cường tính giá trị và độ tin cậy trong việc theo dõi tiến triển sức khỏe Công cụ này hiện đang được sử dụng phổ biến để đánh giá chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) thông qua một chỉ số tổng hợp, đóng vai trò quan trọng trong các phân tích chi phí - hiệu quả Tại Việt Nam, EQ-5D-5L đã được chuẩn hóa và áp dụng trong các nghiên cứu về bệnh nhân HIV/AIDS, đồng thời cũng rất dễ thực hiện trong việc đo lường và đánh giá.

Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng bộ công cụ EQ-5D-5L để thu thập dữ liệu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân HIV/AIDS dựa trên các phân tích đã thực hiện.

Một số yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân HIV/AIDS

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống (CLS) của bệnh nhân HIV/AIDS đã được thực hiện cả trên thế giới và tại Việt Nam Các yếu tố này bao gồm giới tính, các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, xã hội, lâm sàng và điều trị, cũng như việc sử dụng chất gây nghiện và các vấn đề liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử.

Mrus và cộng sự đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nhiên lâm sàng để đánh giá sự khác biệt giới tính về chỉ số CLCS ở bệnh nhân điều trị ARV Kết quả ban đầu cho thấy nữ giới có điểm số CLCS thấp hơn nam giới ở tất cả các khía cạnh, ngoại trừ chức năng xã hội Tại các thời điểm đánh giá tiếp theo, kéo dài đến tuần thứ 40, nữ giới vẫn duy trì điểm số CLCS thấp hơn nam giới, trừ khía cạnh sức khỏe tổng quát.

Nghiên cứu cắt ngang tại Uganda của tác giả Mast và cộng sự đã chỉ ra rằng phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với những người không nhiễm HIV Cụ thể, họ gặp khó khăn hơn ở các yếu tố sức khỏe tổng quát, chức năng tâm thần, chức năng thể chất, mức độ đau đớn và chức năng xã hội.

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Ma Thị Thu Huyền thực hiện năm

Năm 2017, một nghiên cứu trên 311 bệnh nhân điều trị ARV tại Bệnh viện Thái Nguyên đã chỉ ra sự khác biệt giới tính ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân, với nam giới có CLCS cao hơn nữ giới ở các khía cạnh thể chất, môi trường và xã hội Đặc biệt, phụ nữ đã từng sinh con được ghi nhận có CLCS thấp hơn ở các khía cạnh hỗ trợ xã hội, tâm lý và môi trường so với nhóm còn lại.

* Các yếu tố nhân khẩu học – kinh tế - xã hội

Nghiên cứu của tác giả Hays và các cộng sự chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính nữ, thất nghiệp và thu nhập thấp có liên quan đến chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) thấp ở bệnh nhân Mục tiêu nghiên cứu là so sánh CLCS của bệnh nhân người lớn nhiễm HIV với dân số chung và những người mắc bệnh mãn tính khác, đồng thời xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học và mức độ nghiêm trọng của CLCS Kết quả cho thấy chức năng thể chất của người lớn nhiễm HIV không có triệu chứng tương đương với dân số tổng quát, nhưng kém hơn ở những người có triệu chứng hoặc đủ tiêu chuẩn cho các hội chứng suy giảm miễn dịch Mặc dù chức năng tinh thần không khác biệt giữa các giai đoạn bệnh, nhưng vẫn thấp hơn so với dân số chung và các bệnh nhân mãn tính khác, ngoại trừ yếu tố trầm cảm Phân tích đa biến cho thấy các triệu chứng liên quan đến HIV có liên quan chặt chẽ đến sức khỏe thể chất và tinh thần, trong khi các yếu tố như chủng tộc, giới tính, tình trạng bảo hiểm y tế, giai đoạn bệnh và CD4 có mức độ liên quan yếu hơn.

Theo nghiên cứu của Lê Minh Giang năm 2015 tại Hải Phòng, trên 320 bệnh nhân điều trị Methadon cho thấy rằng chất lượng cuộc sống thể chất cao hơn ở những người có công việc ổn định Ngoài ra, bệnh nhân trẻ và có thu nhập cao cũng có chất lượng sống tâm lý tốt hơn, trong khi bệnh nhân có thu nhập cao còn hưởng lợi từ môi trường sống tốt hơn Cuối cùng, những bệnh nhân đang kết hôn hoặc tái hôn có chất lượng cuộc sống xã hội tốt hơn.

* Các yếu tố lâm sàng và điều trị

Các yếu tố lâm sàng như giai đoạn bệnh, nhiễm trùng cơ hội, số lượng tế bào CD4, thời gian điều trị và việc tuân thủ điều trị có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV trên toàn cầu.

Nghiên cứu của Marieh Nojomi và cộng sự trên 139 bệnh nhân HIV hoặc AIDS cho thấy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sống của người nhiễm HIV bao gồm giới tính, tình trạng ly dị hoặc góa, số lượng tế bào CD4 thấp và sự xuất hiện của nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội ở giai đoạn lâm sàng cao.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có chất lượng cuộc sống (CLCS) thấp thường có tải lượng vi rút cao Một nghiên cứu của tác giả S.A Call trên 158 bệnh nhân điều trị ARV đã chỉ ra mối liên hệ tiêu cực giữa tải lượng vi rút và tất cả các khía cạnh của CLCS, bao gồm thể chất, đau đớn và tâm lý Ngoài ra, số lượng tế bào CD4 thấp cũng liên quan chặt chẽ đến CLCS thấp ở bệnh nhân.

* Các yếu tố về hành vi sử dụng chất gây nghiện

Sử dụng chất gây nghiện như ma túy, thuốc lá và rượu bia rất phổ biến ở những người sống chung với HIV/AIDS Nghiên cứu cho thấy lạm dụng các chất này có tác động tiêu cực đến hiệu quả điều trị ARV và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân HIV/AIDS.

Nghiên cứu của P Todd Korthuis đã chỉ ra rằng việc sử dụng ma túy, thuốc lá và rượu bia có liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) thấp ở bệnh nhân HIV/AIDS Trong số 951 bệnh nhân từ 14 phòng khám, 37% được xác định là lạm dụng chất gây nghiện Kết quả từ mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy lạm dụng ma túy có tác động tiêu cực đến cả sức khỏe thể chất và tâm thần của những người nhiễm HIV.

* Các yếu tố kỳ thị và phân biệt đối xử

Nghiên cứu toàn cầu cho thấy rằng kỳ thị và nỗi lo về tình trạng bệnh tật, cùng với sự phân biệt đối xử từ gia đình và cộng đồng, có liên quan đến việc tiếp cận điều trị muộn, tuân thủ điều trị kém và chất lượng cuộc sống (CLCS) thấp ở người nhiễm HIV/AIDS.

Holzemer và cộng sự đã xây dựng một khung lý thuyết về kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS, nhấn mạnh rằng kỳ thị và phân biệt đối xử là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người sống chung với HIV Sự sợ hãi về sự phán xét từ người khác làm giảm cảm nhận tích cực của họ về HIV và ảnh hưởng đến khả năng đối phó với bệnh Người nhiễm HIV/AIDS thường trải qua cảm giác tội lỗi, tự trách và xấu hổ, dẫn đến việc khó tiếp cận điều trị và tuân thủ phác đồ điều trị Ngoài ra, họ cũng phải đối mặt với lo âu và trầm cảm, gây cản trở khả năng làm việc và hòa nhập xã hội Do đó, kỳ thị tác động tiêu cực đến tất cả các khía cạnh của CLCS, bao gồm thể chất, tâm thần và xã hội.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ngoại trú tại Phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện Đa khoa huyện Mai Sơn.

* Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu

- Bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đồng ý tham gia nghiên cứu từ 18 tuổi trở lên, đến khám và lĩnh thuốc ARV trong thời gian nghiên cứu.

- Người bệnh đủ khả năng nghe, nói hiểu tiếng việt.

- Người bệnh quá yếu, không đủ khả năng hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn.

- Người bệnh không hợp tác và từ chối trả lời.

- Bệnh nhân có vấn đề về tâm thần kinh, không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 đến ngày 01 tháng 10 năm 2023.

Tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện Đa khoa huyện Mai Sơn.

Phương phám nghiên cứu

* Thiết kế nghiên cứu: Điều tra mô tả cắt ngang.

* Công cụ nghiên cứu: Qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp theo bộ công cụ EQ -5L-5D đo lường CLCS phiên bản Việt Nam năm 2018 gồm 3 phần:

Thông tin chung về cá nhân bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, nghề nghiệp, thu nhập, mối quan hệ gia đình, cũng như tình trạng sử dụng chất gây nghiện và trải nghiệm bị kỳ thị, phân biệt đối xử.

- Đặc điểm điều trị: Tình trạng nhiễm trùng cơ hội, tình trạng miễn dịch, thời gian điều trị ARV và tuân thủ điều trị.

EQ-5D-5L là thang đo chất lượng cuộc sống với 5 khía cạnh: vận động, tự chăm sóc, các hoạt động thông thường, đau/khó chịu và lo lắng/buồn phiền Mỗi khía cạnh được đánh giá qua một câu hỏi với các lựa chọn từ 1 đến 5 Kết quả được tổng hợp và chuyển đổi theo phương trình tham chiếu của Việt Nam để tính toán độ thỏa dụng về sức khỏe.

Chúng tôi sử dụng thang VAS đo trực quan với điểm số từ 0 đến 100 để tham khảo độ thỏa dụng về sức khỏe, được đo bằng EQ-5D Bệnh nhân tự đánh giá tình trạng sức khỏe của mình, trong đó 0 điểm tương ứng với sức khỏe kém nhất và 100 điểm tương ứng với sức khỏe tốt nhất mà họ có thể tưởng tượng So sánh độ thỏa dụng về sức khỏe được quy đổi từ thang điểm 0-1 sang thang điểm 0-100.

Nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn trực tiếp với bệnh nhân tại phòng khám ngoại trú người lớn, sử dụng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.

Trước khi tiến hành phỏng vấn, cần giải thích rõ ràng cho bệnh nhân về mục đích của cuộc điều tra Đồng thời, thông tin thu thập sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và hoàn toàn được bảo mật.

- Thu thập thông tin điều trị trong hồ sơ bệnh án.

Xử lý dữ liệu

- Thống kê y học thông thường

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu

Thông tin của đối tượng Số lượng

Cán bộ/ Công chức/ viên chức 9 2,8

Cao đẳng, đại học trở lên 12 3,7

Nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới từ 40-49 tuổi, chiếm 53,4%, với 84,3% cư trú ở nông thôn và 56,8% là lao động tự do Về trình độ học vấn, 37,7% có bằng trung học cơ sở và 31,8% có bằng trung học phổ thông.

Bảng 3.2 Thông tin kinh tế - Xã Hội của đối tượng nghiên cứu

Thông tin của đối tượng Số lượng

Khả năng tài Hoàn toàn tự chủ 255 78,7 chính của bản thân

Một phần tự chủ được 63 19,4

Sử dụng chất gây nghiện

Bị kì thị và phân biệt đối xử

Khả năng tài chính của đối tượng nghiên cứu cho thấy 78,7% hoàn toàn tự chủ về tài chính Chỉ có 4,9% trong nhóm đối tượng gặp phải kỳ thị và phân biệt đối xử Đáng chú ý, 46% số đối tượng được khảo sát có sử dụng chất gây nghiện.

Bảng 3.3 Mối quan hệ gia đình của nhóm đối tượng nghiên cứu Đặc điểm gia đình của bệnh nhân Số lượng

Tình trạng hôn nhân Độc thân 18 5,6

Nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người đã có gia đình, chiếm 75,6% tổng số Trong đó, 61,1% có từ 2 con trở xuống, và 85,2% trong số họ sống trong gia đình có 2 thế hệ.

Bảng 3.4 Lý do nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu

Lý do nhiễm HIV Số lượng

Quan hệ tình dục không an toàn 170 52,5

Đối tượng nghiên cứu về nhiễm HIV chủ yếu do quan hệ tình dục không an toàn, chiếm 52,5% tổng số ca nhiễm Thứ hai là do tiêm chích ma túy, chiếm 46% tổng số trường hợp nhiễm HIV.

Bảng 3.5 trình bày các đặc điểm liên quan đến tình trạng bệnh tật và phương pháp điều trị của đối tượng nghiên cứu, kèm theo số lượng cụ thể.

Tỷ lệ bệnh nhân không bị nhiễm trùng cơ hội mắc phải:

Phân bố một số loại nhiễm trùng (nếu có)

Lao (màng não, phổi, xương khớp) 1 0,3

Viêm gan (B,C, hoặc đồng nhiễm) 37 11,4

Thời gian đã điều trị

Chưa điều trị bao giờ 0

Tuân thủ điều trị Có 312 96,3

Thực trạng CLCS của bệnh nhân HIV/AIDS điểu trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, Bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn

Gan là nguyên nhân gây ra 11,4% tổng số trường hợp nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV Trong số này, 49,1% bệnh nhân có số lượng CD4 ≤ 500 Đáng chú ý, 98,1% bệnh nhân đã điều trị ARV trên 24 tháng và 96,3% trong số họ tuân thủ điều trị một cách nghiêm ngặt.

3.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân HIV/AIDS điểu trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, Bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn.

3.2.1 Đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống theo từng nhóm vấn đề

100 không khó khăn Một chút khó khăn Khó khăn mức vừa phải Gặp nhiều khó khăn i Không thực hiện được

Biểu đồ 3.1 Tình hình về sự đi lại của đối tượng nghiên cứu(n= 324)

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân đều không gặp phải khó khăn về đi lại(95,7%)

Khó khăn mức vừa phải

Biểu đồ 3.2 Tình hình về tự chăm sóc bản thân của đối tượng nghiên cứu (n324)

Nhận xét: Về vấn đề tự chăm sóc bản thân hầu hết bệnh nhân không gặp phải khó khăn khi tự chăm sóc bản thân chiếm tới 98,1%.

Khó khăn mức vừa phải

Biểu đồ 3.3 Tình trạng về sinh hoạt thường ngày của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Hầu hết đối tượng nghiên cứu không gặp phải khó khăn về sinh hoạt thường ngày, chiếm 97,8%

Biểu đồ 3.4 Tình trạng đau và khó chịu của đối tượng nghiên cứu (n= 324)

Theo khảo sát, 89,8% bệnh nhân cho biết họ không trải qua đau hoặc khó chịu, trong khi chỉ có 9,3% bệnh nhân cảm thấy đau hoặc khó chịu một chút.

Biểu đồ 3.5 Tình trạng về sự lo lắng / u sầu của đối tượng nghiên cứu (n 324)

Tỷ lệ bệnh nhân không cảm thấy lo lắng hoặc u sầu đạt 74,7% Tuy nhiên, có 22,2% bệnh nhân chỉ cảm thấy lo lắng hoặc u sầu một chút, trong khi 2,2% bệnh nhân gặp phải tình trạng lo lắng hoặc u sầu nhiều và 0,9% bệnh nhân ở mức độ vừa phải.

3.2.2 Độ thỏa dụng về sức khỏe của đối tượng nghiên cứu phân theo một số đặc điểm

Bảng 3.6 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe của đối tượng nghiên cứu (n= 324)

Trung bình 0,96 89,36 Độ lệch chuẩn 0,09 6,5

Nhận xét: Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe của nhóm đối tượng nghiên cứu là 0,96 ± 0,09 cao hơn so với giá trị VAS là 89,36 ± 6,5điểm.

Bảng 3.7 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Nhìn chung, các nhóm tuổi đều đạt chỉ số thỏa mãn về sức khỏe cao, với sự khác biệt không lớn giữa các nhóm Đặc biệt, nhóm tuổi 30-39 có điểm số thỏa dụng về sức khỏe cao nhất, đạt 0,97± 0,08, trong khi nhóm tuổi 18-29 có mức độ thỏa dụng thấp nhất là 0,91 ± 0,23.

Bảng 3.8 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo giới tính của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Ở nhóm đối tượng nam giới có giá trị độ thỏa dụng về sức khỏe thấp hơn so với nữ giới( nữ giới là 0,97 ± 0,08 còn nam giới là 0,96 ±0,09).

Bảng 3.9 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Học vấn Kết quả theo thang EQ-5D

Cao đẳng, đại học trở lên 0,91±0,10

Nhận xét: Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân có trình độ trung học phổ thông là cao nhất (0,97 ± 0,06)

Bảng 3.10 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nơi ở của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Nơi ở Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Nhóm đối tượng sống ở nông thôn có giá trị độ thỏa dụng về sức khỏe cao hơn nhóm sống ở thành thị (0,96 ± 0,08 so với 0,93 ± 0,12).

Bảng 3.11 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Nghề nghiệp Kết quả theo thang EQ-5D

Cán bộ/ công chức/ viên chức 0,95±0,06

Nhận xét: Đối tượng không có nghề nghiệp có độ thỏa dụng về sức khỏe thấp hơn so với các nhóm bệnh nhân có việc làm khác.

Bảng 3.12 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo khả năng tài chính của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Một phần tự chủ được 0,93±0,11

Nhận xét: Những bệnh nhân hoàn toàn tự chủ về mặt tài chính có điểm chất lượng cuộc sống cao nhất (0,97 ± 0,05).

Bảng 3.13 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Sử dụng chất gây nghiện

Kết quả theo thang EQ-5D

Những bệnh nhân sử dụng chất gây nghiện có điểm trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe cao hơn so với những bệnh nhân không sử dụng, với giá trị lần lượt là 0,97 ± 0,05 và 0,95 ± 0,11.

Bảng 3.14 trình bày điểm số trung bình về độ thỏa dụng sức khỏe liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử của đối tượng nghiên cứu Điều này cho thấy mối liên hệ giữa các yếu tố xã hội và cảm nhận về sức khỏe của người tham gia.

Bị kỳ thị và phân biệt đối xử

Kết quả theo thang EQ-5D

Những bệnh nhân không bị kỳ thị và phân biệt đối xử có mức độ thỏa dụng về sức khỏe cao hơn, với giá trị thỏa dụng đạt 0,96 ± 0,08.

Bảng 3.15 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Hôn nhân Kết quả theo thang EQ-5D

Theo tình trạng hôn nhân, nhóm bệnh nhân đã ly hôn hoặc góa có mức độ thỏa dụng trung bình thấp hơn so với các nhóm khác.

Bảng 3.16 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo số lượng con cái của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Con cái Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Những bệnh nhân không có con cái có điểm trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe thấp nhất(0,93 ± 0,12).

Bảng 3.17 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo người sống cùng của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Gia đình nhiều thế hệ 0,94±0,11

Nhận xét: Những bệnh nhân gia đình 2 thế hệ có điểm trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe cao nhất (0,96 ± 0,09)

Bảng 3.18 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo thời gian điều trị ARV của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Thời gian điều trị ARV

Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Theo đặc điểm điều trị ARV những bệnh nhân có thời gian điều trị từ 6 - 24 tháng có điểm trung bình độ thỏa dụng cao nhất với 0,96 ± 0,09.

Bảng 3.19 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo mức độ suy giảm miễn dịch của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Những đối tượng có tế bào TCD4 ≥ 500 có điểm trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe cao nhất với 0,98 ± 0,05.

Bảng 3.20 Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo mức độ tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu. Độ thỏa dụng về sức khỏe

Kết quả theo thang EQ-5D

Nhận xét: Những đối tượng tuân thủ điều trị có điểm trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe cao hơn những đối tượng không tuân thủ điều trị (0,96 ±

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 28/10/2023, 20:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thông tin nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.1. Thông tin nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.4. Lý do nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.4. Lý do nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.3. Mối quan hệ gia đình của nhóm đối tượng nghiên cứu - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.3. Mối quan hệ gia đình của nhóm đối tượng nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.5. Đặc điểm về tình trạng bệnh tật và điều trị của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.5. Đặc điểm về tình trạng bệnh tật và điều trị của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu (Trang 26)
Bảng 3.6. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe của đối tượng nghiên - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.6. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe của đối tượng nghiên (Trang 30)
Bảng 3.15. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo tình trạng hôn - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.15. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo tình trạng hôn (Trang 34)
Bảng 3.16. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo số lượng con - Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hivaids điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú người lớn, bệnh viện đa khoa huyện mai sơn năm 2023
Bảng 3.16. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo số lượng con (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w