1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Mùa xuân chín dạy thêm 10 kntt nâng cao

14 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mùa xuân chín
Tác giả Hàn Mặc Tử
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Phân tích
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 47,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật trữ tình: - Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả, ban đầu ẩn đi nhưng đến khổ cuối được thể hiện qua hình ảnh “khách xa”, không chỉ là một người nhạy cảm với sự sốn

Trang 1

MÙA XUÂN CHÍN

-Hàn Mặc Tử-Phân tích bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử theo đặc trưng thể loại:

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

II THÂN BÀI

1 Khái quát

a Đề tài: Mùa xuân

b Nhan đề: Nhan đề bài thơ Mùa xuân chín được cấu tạo bởi những từ thuộc loại từ:

Danh từ + Động từ hoặc có thể là Danh từ + Tính từ Nhìn chung, dù “chín” là động từ hay tính từ thì “Mùa xuân chín” vẫn mang đến một cảm giác hoàn toàn mới lạ, một không gian tràn đầy sức sống của cảnh xuân và tình xuân, tạo nên một mùa xuân tràn đầy sức sống, viên mãn và tròn đầy Mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, rạng rỡ nhất, căng tràn nhựa sống nhất

c Mạch thơ:

Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt

+ Về thời gian: Tác giả đang say đắm trong thời khắc hiện tại với cảnh xuân tươi đẹp phô

bày trước mắt, bỗng sực nhớ về quá khứ xa xăm với khung cảnh làng quê thân thương

+ Về cảnh sắc: Bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh (mái nhà tranh, giàn thiên lí, sóng cỏ

xanh tươi, ) thoắt biến thành tâm cảnh ( người con gái dánh thóc dọc bờ sông trắng)

+ Về cảm xúc: Hàn Mặc Tử đã bày tỏ dòng tâm tư của bản thân với nhiều bước ngoặt: từ

niềm say mê, rạo rực đến trạng thái bâng khuâng, xao xuyến rồi buồn thương da diết

=> Có thể thấy, mạch thơ không đi theo một chiều mà luôn vận động vô cùng linh hoạt, phong phú Đó chính là phong cách thơ độc đáo của chàng thi sĩ họ Hàn

d Nhân vật trữ tình:

- Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả, ban đầu ẩn đi nhưng đến khổ cuối được thể hiện qua hình ảnh “khách xa”, không chỉ là một người nhạy cảm với sự sống, giao cảm với cuộc đời mà còn là một chủ thể giàu ưu tư, trăn trở Là người thiết tha yêu cuộc sống, nhưng cũng đầy đau khổ nuối tiếc khi phải đứng ngoài cuộc chơi Cận kề cái chết nhưng vẫn hướng về cuộc đời

Cả bài thơ thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình, từ chỗ thể hiện tình yêu cuộc sống thiết tha mãnh liệt sau đó là sự nuối tiếc, xót xa Từ miền thực tại đi vào miền hồi ức gợi cảm giác tất cả xuân sắc, xuân đẹp huy hoàng ấy chỉ là một ánh chớp kỷ niệm thoáng qua mà thôi Cho nên, ở hiện tại, người khách xa sực nhớ cũng là để ngậm ngùi, tiếc thương

Trang 2

2 Khổ 1:

a Hình ảnh thơ

- làn nắng ửng: ánh nắng nhẹ, tươi tắn của mùa xuân

- khói mơ tan: làn khói nhẹ, mơ màng

- đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng: hình ảnh những mái nhà tranh với sắc vàng lấm tấm

- tà áo biếc: tà áo màu xanh biếc hay chính là màu xanh của thiên nhiên như tấm áo ôm trọn đất trời?

- giàn thiên lí: mùa xuân đã đến cùng giàn thiên lí thắm tươi

=> Nhà thơ đã diễn tả toàn vẹn bức tranh xuân với diện mạo thật tươi tắn Màu sắc được sắc thái hóa một cách rất cụ thể Các sự vật trong bức tranh xuân sống động vô cùng Thiên nhiên mùa xuân được miêu tả như một người thiếu nữ ngập tràn tình xuân rạo rực

b Ngôn ngữ thơ

- Các kết hợp từ làn nắng ửng; khói mơ tan; mái nhà tranh lấm tấm vàng; tà áo biếc là những kết hợp danh từ, tính từ ít gặp, hệ thống các tính từ đặc sắc đã miêu tả sắc xuân thật sinh động, phong phú

- Các yếu tố từ, câu:

+ Từ láy: lấm tấm, sột soạt

=> gợi hình, tạo liên tưởng cho người đọc về một mùa xuân sinh động

+ Câu đặc biệt: Trên giàn thiên lí => không phải là trạng ngữ chỉ nơi chốn, giàn thiên lí là một sự vật hiện hiện trong mỗi bước xuân sang

c Các yếu tố nghệ thuật thơ

- Nhịp điệu, cách gieo vần:

+ Đoạn thơ ngắt theo nhịp 4/3, tác giả tạo điểm nhấn cho nhịp điệu bằng dấu cú pháp (dấu chấm) trong câu thơ: Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang

+ Nhà thơ gieo vần chân, vần lưng linh động, tự do tạo không khí phóng khoáng cho bức tranh thiên nhiên rạo rực sắc xuân

- Các biện pháp tu từ:

+ Biện pháp tu từ nhân hóa: gió trêu - gió được nhân hóa như một con người (có lẽ gió là một chàng trai đa tình?)

+ Nghệ thuật đảo ngữ: sột soạt gió trêu tà áo biếc

=> nhấn mạnh vào âm thanh sống động của sự vật

+ Hoán dụ tà áo biếc - hình ảnh con người (có thể là màu áo của người thiếu nữ)

d Cái tôi trữ tình

Cái tôi trữ tình trong đoạn thơ hiện diện qua cái nhìn, qua tình cảm trước tạo vật Đó là một tâm hồn tha thiết với thiên nhiên, mãnh liệt với cuộc đời

3 Khổ 2:

a Hình ảnh thơ

Trang 3

- Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời: cỏ mùa xuân tươi tắn như chuyển động thành những làn sóng trải rộng trong không gian, mở biên độ đến chân trời

- Bao cô thôn nữ bát trên đồi: hình ảnh những cô thôn nữ xuất hiện trực tiếp hơn so với sự xuất hiện ban đầu (khổ thơ thứ nhất trong hoán dụ tà áo biếc) Đó là những người thôn

nữ đang độ tuổi xuân thì phơi phới, yêu đời, yêu cuộc sống Họ tặng cho cuộc đời những

âm thanh (tiếng hát) của tuổi trẻ đầy hi vọng

- đám xuân xanh: những con người tuổi xuân thì trẻ trung

- kẻ theo chồng: những người thiếu nữ lấy chồng

=> Hình ảnh thiên nhiên và con người trong khổ thơ thứ hai xuất hiện mang vẻ đẹp của

độ xuân thì rạo rực, căng tràn sức sống Nhưng thiên nhiên cùng con người không nằm ngoài dòng chảy của thời gian và những quy luật của cuộc đời, hình ảnh thơ vận động từ những cô thôn nữ (hiện tại) theo thời gian trở thành người phụ nữ theo chồng (ngày mai)

b Ngôn ngữ thơ

- Kết hợp hai danh từ sóng và cỏ tạo nên hình ảnh thật sống động Nó không chỉ gợi hình

mà còn gợi sự vận động của thiên nhiên, kích thích những tưởng tượng thị giác

=> Sóng cỏ - đó là tình xuân chất chứa bên trong sự vật và ứa tràn ra bên ngoài thành những chuyển động đến tận chân trời

c Các yếu tố nghệ thuật thơ

Nhịp điệu, cách gieo vần: Đoạn thơ chủ yếu ngắt nhịp 4/3 (cầu 1, 2, 4) của đoạn thơ, xen lẫn cách ngắt nhịp 2/2/3 (câu 3) của đoạn thơ Cách ngắt nhịp được dẫn dắt bởi cảm xúc (đi từ xao xuyến trước thiên nhiên sống động và lời hát yêu đời của những cô thôn nữ rồi bỗng như ngập ngừng, băn khoăn nghĩ đến ngày mai những cô thôn nữ theo chồng bỏ cuộc chơi) nên rất linh hoạt

d.Cái tôi trữ tình

Nhân vật trữ tình vẫn mang trong mình một niềm yêu rạo rực trước mùa xuân, tình xuân Nhưng đã bộc bạch cảm giác hụt hẫng, buồn tiếc khi nghĩ về tương lai

4 Khổ 3

a Hình ảnh thơ

- Các hình ảnh xuất hiện trong khổ thơ thứ ba gợi ra nhiều liên tưởng về âm thanh của

“tiếng ca”:

+ Tiếng ca vất vẻo lưng chừng núi

+ Hổn hển như lời của nước mây

+ Thì thầm với ai ngồi dưới trúc

b Ngôn ngữ thơ

- Các yếu tố từ, câu:

+ vất vẻo, hổn hển là những từ láy tượng hình được dùng để diễn tả sống động trạng thái vận động của tâm hồn con người

Trang 4

+ thầm thĩ: từ láy tượng thanh vừa diễn tả âm thanh thầm thì vừa biểu hiện cảm xúc tha thiết

+ kết hợp từ độc đáo tiếng ca với vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ

+ Đại từ ai phiếm chỉ, bí ẩn

+ Khổ thơ thứ 3 như một câu văn dài miêu tả là tiếng hát (chủ ngữ) và các đặc điểm của chủ thể được miêu tả bởi các vị ngữ gợi nhiều liên tưởng cả về hình ảnh và thanh âm

c Các yếu tố nghệ thuật thơ

- Nhịp điệu, cách gieo vần:Đoạn thơ được ngắt nhịp 4/3 (câu thơ 1, 4 của đoạn) xen lẫn 2/2/3 (câu thơ thứ 2, 3 của đoạn) tạo sự linh hoạt, trầm bổng như âm thanh của lời ca

- Biện pháp tu từ:

+ Ân dụ chuyển đổi cảm giác: tiếng ca vắt vẻo, âm thanh được gợi tả qua hình ảnh vắt vẻo - trạng thái của sự vật ở vị trí trên cao nhưng không có chỗ dựa vững chắc, chỉ được vắt ngang qua cái gì đó hoặc sự vật ở trạng thái buông thõng từ trên cao xuống, đung đưa, mềm mại tiếng hát như đung đưa, vắt qua đồi núi, lan trong không gian

- Phép so sánh tiếng ca hổn hển như lời của nước mây thể hiện tiếng hát rạo rực đến mức hổn hển, vút cao bay lên thành lời của nước mây

=> Tình xuân bên trong sắc xuân càng lúc càng trở nên mãnh liệt qua tiếng hát của những

cô thôn nữ, của thiên nhiên đất trời Sắc xuân và tình xuân đã vào độ chín

d Cái tôi trữ tình

Nhân vật trữ tình dường như là người lắng nghe và thu nhận tất cả những thanh âm (tiếng hát) của sắc xuân, tình xuân với một niềm nâng niu, trân trọng tha thiết

5 Khổ 4

a Hình ảnh thơ

- khách xa: là người lữ khách từ xa đến, đi ngang qua, có thể chính là nhà thơ

- mùa xuân chín: là mùa xuân đang ở độ tươi đẹp, viên mãn nhất, nhưng cũng đồng nghĩa

là mùa xuân đang và sẽ trôi qua, cái đẹp không tồn tại vĩnh viễn

- Chị ấy năm nay còn gánh thóc: Hình ảnh người chị nhọc nhằn, lam lũ hiện lên trong tâm tưởng nhân vật trữ tình

- bờ sông trắng nắng chang chang: hình ảnh cái nắng đánh dấu sự vượt ra ngoài cõi xuân

- xuân đã tàn

=> Những hình ảnh trong khổ thơ cuối như cuốn phim kí ức được bật lên trong một thời điểm - mùa xuân chín, khiến người khách xa sực nhớ về quá khứ với niềm khát khao đầy nuối tiếc

b Ngôn ngữ thơ

- bâng khuâng sực nhớ: hai tính từ cùng miêu tả trạng thái của nỗi nhớ đặt liền nhau đã nhấn sâu tâm trạng nhổ nhung, luyến lưu một điểu gì đến ngẩn ngơ của con người

Trang 5

+ Kết hợp từ lòng trí: hai danh từ miêu tả hai khía cạnh của phần tinh thần con người (cảm xúc và lí trí) đi liền nhau như biểu hiện sự đồng điệu hoàn toàn của trái tim và lí trí khi suy tư

- bờ sông trắng: phần tính từ phụ sau trắng miêu tả cho phần danh từ trung tâm bờ sông thật mới mẻ Ta hay nói sông xanh, sông đỏ nhưng tác giả viết sông trắng gợi nhiều liên tưởng: trắng của bờ cát ven sông hay nắng chói chang làm trắng cả cảnh vật?

- nắng chang chang: từ láy “chang chang” nhấn mạnh cái nắng gắt mùa hè

c Các yếu tố nghệ thuật thơ

- Nhịp điệu, cách gieo vần:

+ Khổ thơ chủ yếu được ngắt theo nhịp 2/2/3 (câu 1, 2, 3) và đổi thành nhịp 4/3 (câu cuối) Nhà thơ còn sử dụng dấu ngữ pháp (dấu phảy) trong câu 1, 3 của khổ thơ để tạo điệu nhấn cho nhịp điệu, và dường như tách biệt, nhấn mạnh vào đối tượng được nói tới: khách xa và chị ấy

+ Các cặp vần trắng - nắng cùng vần “ang” kết hợp năm phụ âm “ng” ở mỗi từ trong dòng thơ cuối “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” làm câu thơ kéo dài ngân nga mãi

- Biện pháp tu từ:

Câu hỏi tu từ: Chị ấy năm này còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang changỉ bộc lộc những xúc cảm băn khoăn, nỗi lo âu cho hiện tại, cho sự phôi phai theo thời gian

d Cái tôi trữ tình

Nhân vật trữ tình được khách thể hóa thành hình ảnh khách xa với nỗi niềm bâng khuâng, nhớ thương hoài niệm và tấm lòng ưu tư, trắc ẩn cùng niềm thương cảm hay đó

là một niềm khao khát có thể giữ mãi được những kí ức tươi đẹp

III KẾT LUẬN

Thơ Hàn Mặc Tử bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng Đọc “mùa xuân chín”, ta thấy Hàn Mặc Tử đã mượn bức tranh xuân tươi đẹp, rạo rực, tràn đầy sức sống để bày tỏ cái “xuân chín” trong lòng người “Chín” trong tình thương, “chín” trong nỗi nhớ về con người, cuộc đời và quê hương Nổi bật hơn hết là một tấm lòng khát khao giao cảm với cuộc đời, trân trọng cái đẹp và ý thức nâng niu, giữ gìn những gì tinh tuý, đẹp đẽ của cuộc đời Khao khát ấy trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử, tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc, để tư tưởng trong những dòng thơ còn âm vang mãi cho đến hiện tại

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử.

I MỞ BÀI

Nếu nhân loại không còn khao khát nữa

Và nhà thơ – nghề chẳng kẻ nào yêu

Trang 6

Người – Thi sĩ – cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử Vẫn hiện lên ở đáy vực đợi chờ

(Trần Ninh Hồ) Trên bầu trời rực rỡ các vì sao của phong trào thơ mới 1930 - 1945, Hàn Mặc Tử tựa hồ như một ngôi sao chói lọi và là nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất Thơ Hàn có một diện mạo hết sức phức tạp, đầy bí ẩn, không thôi ám ảnh những ai yêu thơ Hàn, đọc thơ Hàn Nhưng dù vậy, thơ ông vẫn thấm đượm một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế, vẫn nở ra những bông hoa trong sáng tinh khôi, còn vương bao hương sắc ở đời Một trong những bông hoa thơ ca ấy được thi sĩ đặt tên là "Mùa xuân chín” Bài thơ

ra đời khi Hàn Mặc Tử ở trại phong Quy Hòa, được xếp ở phần Hương thơm trong

tập thơ Đau thương (Thơ Điên) xuất bản năm 1938 Cùng với Đây thôn Vĩ Dạ,

Tình quê,… đây là những thi phẩm đầy thơ mộng viết về cảnh quê, tình quê của

Hàn Mặc Tử

II THÂN BÀI

1 Khái quát

a Đề tài:

Từ xưa đến nay, mùa xuân luôn được thi ca nghệ thuật ưu ái, trở thành nguồn đề tài bất tận cho những người nghệ sĩ ở mọi quốc gia, dân tộc Viết về mùa xuân đã có biết bao nhiêu tác giả, bao nhiêu áng thơ ca nổi tiếng Hàn Mặc Tử cũng là nhà thơ có rất

nhiều thi phẩm viết về mùa xuân Say mê vẻ xuân, Hàn đã có hẳn một tập Xuân như ý với

những bài xuân tràn đầy thánh ý: Xuân gấm, Xuân hôn phối, Xuân trẻ, Xuân non, Xuân lịch sự Thơ xuân rất nhiều nên việc viết về mùa xuân hay vẽ nên một bức tranh xuân thú vị vẫn chưa phải là điều thật độc đáo Nhưng với “Mùa xuân chín” thi sĩ họ Hàn đã tạo nên một bài thơ trác tuyệt Cái độc đáo của bài thơ xuân này nằm ở chữ “chín” chứa đựng một quan niệm rất riêng của thi sĩ

b Nhan đề:

- Nhan đề bài thơ Mùa xuân chín được cấu tạo bởi những từ thuộc loại từ: Danh từ + Động từ hoặc có thể là Danh từ + Tính từ Động tự “chín” thể hiện sự vận động sang trạng thái chín Nhan đề cấu tạo bởi từ loại là Danh từ + Động từ: Gợi cảm giác mùa xuân đang đi vào độ căng mọng và tươi đẹp nhất Tính từ “chín” vốn là tính từ để chỉ trạng thái của quả cây khi đã đến giai đoạn thu hoạch, ngọt ngào, căng mọng và thơm mát Nhan đề cấu tạo bởi từ loại là Danh từ +Tính từ: Gợi cảm giác mùa xuân đã đến độ tròn đầy rồi Nhìn chung, dù “chín” là động từ hay tính từ thì “Mùa xuân chín” vẫn mang đến một cảm giác hoàn toàn mới lạ, một không gian tràn đầy sức sống của cảnh xuân và tình xuân, tạo nên một mùa xuân tràn đầy sức sống, viên mãn và tròn đầy Mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, rạng rỡ nhất, căng tràn nhựa sống nhất

c Mạch thơ:

Trang 7

Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt

+ Về thời gian: Tác giả đang say đắm trong thời khắc hiện tại với cảnh xuân tươi đẹp phô

bày trước mắt, bỗng sực nhớ về quá khứ xa xăm với khung cảnh làng quê thân thương

+ Về cảnh sắc: Bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh (mái nhà tranh, giàn thiên lí, sóng cỏ

xanh tươi, ) thoắt biến thành tâm cảnh ( người con gái dánh thóc dọc bờ sông trắng)

+ Về cảm xúc: Hàn Mặc Tử đã bày tỏ dòng tâm tư của bản thân với nhiều bước ngoặt: từ

niềm say mê, rạo rực đến trạng thái bâng khuâng, xao xuyến rồi buồn thương da diết

=> Có thể thấy, mạch thơ không đi theo một chiều mà luôn vận động vô cùng linh hoạt, phong phú Đó chính là phong cách thơ độc đáo của chàng thi sĩ họ Hàn

d Nhân vật trữ tình:

- Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả, ban đầu ẩn đi nhưng đến khổ cuối được thể hiện qua hình ảnh “khách xa”, không chỉ là một người nhạy cảm với sự sống, giao cảm với cuộc đời mà còn là một chủ thể giàu ưu tư, trăn trở Là người thiết tha yêu cuộc sống, nhưng cũng đầy đau khổ nuối tiếc khi phải đứng ngoài cuộc chơi Cận kề cái chết nhưng vẫn hướng về cuộc đời

Cả bài thơ thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình, từ chỗ thể hiện tình yêu cuộc sống thiết tha mãnh liệt sau đó là sự nuối tiếc, xót xa Từ miền thực tại đi vào miền hồi ức gợi cảm giác tất cả xuân sắc, xuân đẹp huy hoàng ấy chỉ là một ánh chớp kỷ niệm thoáng qua mà thôi Cho nên, ở hiện tại, người khách xa sực nhớ cũng là để ngậm ngùi, tiếc thương

2 Khổ 1

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên tươi mới, ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sắc xuân:

“Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang”.

- Mùa xuân bắt đầu từ cái nắng mới lạ thường Chữ "làn" như gợi một hơi thở nhẹ nhàng kết hợp với “nắng ửng” miêu tả nắng như mỏng tang, mềm mại trải đều trong thơ

và trong không gian Cách kết hợp từ “khói mơ tan” khiến ta hình dung những làn khói sương như đang hoà tan trong nắng tạo nên một khung cảnh đẹp như mơ Vậy nên, “Làn nắng ửng" lên trong "khói mơ tan" thể hiện cảnh sắc mùa xuân nhẹ nhàng, đẹp dân dã mà huyền diệu, mộng mơ

- Một nét xuân mơ mộng nữa là hình ảnh “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng” Có lẽ còn lâu nữa về sau, mái nhà tranh vẫn cứ là một hình ảnh thân thương, dễ động lòng người Việt Nó lặn sâu trong kí ức cộng đồng như một ảnh tượng của quê hương nghìn đời Ta đã gặp trong thơ cổ điển của Nguyễn Khuyến “Năm gian nhà cỏ thấp le te” đơn

sơ thanh bạch Ta gặp trong thơ cách mạng của Tố Hữu “Mơ mơ mấy xóm tranh chìm

Trang 8

trong mây” cùng những “Mái nhà tranh thấp ngủ im hơi” đắm chìm buồn tủi hồi chưa cách mạng Ta cũng gặp trong thơ Trần Đăng Khoa những mái gianh tảo tần dầu dãi mà rất đỗi thiêng liêng

Mái gianh ơi hỡi mái gianh Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương

Hình ảnh đôi mái nhà tranh như vậy là một nét thơ truyền thống, cổ điển khiến cảnh như có hồn, như có tình Nắng như đang rắc lên "đôi mái nhà tranh" chút sắc xuân, hương xuân và mái nhà tranh như đón lấy cái nắng mới tinh khiết, tạo nên những hột nắng lấm tấm vàng lung linh

- Cảnh vật mùa xuân còn có âm thanh “Sột soạt gió trêu tà áo biếc” Trong đó, “tà

áo biếc” có thể là hình ảnh con người, là màu áo của người thiếu nữ; từ tượng thanh “Sột soạt” gợi âm thanh của gió trên tà áo mới Cụm từ "gió trêu" sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và gió được nhân hóa như một con người, như một chàng trai đa tình trêu đùa,

là một cách để bày tỏ người con gái mình yêu Chữ “trêu” đầy thân thương, mang hương sắc đồng quê từ những câu ca dao, hát ghẹo tình tứ …Mà gió cũng chọn áo mà "trêu", phải chọn áo vừa biếc vừa mới thật thơ, thật đẹp Nghệ thuật đảo ngữ “Sột soạt gió trêu tà

áo biếc” càng nhấn mạnh vào âm thanh sống động của cảnh vật, con người

- Từ mái nhà tranh, gió trêu tà áo biếc nhà thơ di chuyển điểm nhìn đến “giàn

thiên lí”: "Trên giàn thiên lý Bóng xuân sang" Câu đặc biệt Trên giàn thiên lí không phải

là trạng ngữ chỉ nơi chốn mà là một sự vật hiện hiện trong mỗi bước xuân sang Dấu chấm đặt giữa câu thơ như một sự ngập ngừng, ngắt quãng Đó cũng là khoảnh khắc thi nhân giật mình nhận ra xuân đã sang Mùa xuân được hữu hình hoá, có thể quan sát bằng thị giác Bóng của mùa xuân nhẹ nhàng bước tới như thể đang đứng trước mặt nhà thơ, khiến con người ngỡ ngàng mà chiêm ngưỡng cái sắc xuân tươi đẹp ấy Câu thơ thứ 4 vì thế có tính khái quát, khẳng định mùa xuân đang len lỏi vào cảnh vật, trên giàn thiên lý báo xuân về Mùa xuân đến, cây cỏ, thiên nhiên, đất trời và lòng người như hoà quyện lấy nhau Cảm xúc như ngưng đọng với một chút ngập ngừng, bâng khuâng, vấn vương, nhẹ nhàng

=> Đoạn thơ ngắt theo nhịp 4/3, tác giả tạo điểm nhấn cho nhịp điệu bằng dấu cú

pháp (dấu chấm) trong câu thơ: Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang; gieo vần chân, vần

lưng linh động, tự do tạo không khí phóng khoáng cho bức tranh thiên nhiên rạo rực sắc xuân… Các biện pháp nghệ thuật đặc sắc đã thể hiện cảm xúc của thi sĩ trước bức tranh mùa xuân chốn thôn quê thật tươi tắn, thanh bình, duyên dáng mà đằm thắm yêu thương Thiên nhiên mùa xuân được miêu tả như một người thiếu nữ ngập tràn tình xuân rạo rực Trạng thái chín của mùa xuân được thể hiện trong khổ thơ qua một loạt các từ ngữ chỉ màu sắc, trạng thái vận động, giàu tính hình tượng và gợi cảm xúc khiến bức tranh xuân sống động vô cùng Cái tôi trữ tình trong đoạn thơ hiện diện qua cái nhìn, qua tình cảm trước tạo vật là một tâm hồn tha thiết với thiên nhiên, mãnh liệt với cuộc đời Nhìn

Trang 9

chung, có thể nhận thấy bài thơ rất khác so với sự trung tính, đạm bạc thiên về xu hướng tĩnh tại, vĩnh cửu trong thơ trung đại

3 Khổ 2

- Từ điểm nhìn cận cảnh, Hàn Mạc Tử đưa tầm mắt ra xa với cái nhìn viễn cảnh:

"Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời, Bao cô thôn nữ hát trên đồi".

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.

Vạn vật mang sức xuân, làn mưa xuân tưới thêm cho cỏ cây sức sống mới và không gian mùa xuân được rộng mở với “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” Ẩn dụ “Sóng cỏ” với “Sóng” được kết hợp với thảm cỏ xanh mướt khiến bạn đọc hình dung từng lớp cỏ như nối tiếp nhau, trải dài bất tận, sức sống dường như đang căng tràn một cách mãnh liệt Ý thơ làm ta nhớ đến một câu thơ trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời” Cùng diễn tả một không gian mùa xuân với thảm cỏ xanh mướt trải dài bất tận nhưng cái độc đáo của Hàn Mặc Tử là cách nói “sóng cỏ” gợi

ra một sự uyển chuyển, nhẹ nhàng mà mượt mà của những lớp cỏ xuân Phải chăng sức sống cuộn trào từ bên trong, tạo thành những đợt sóng và kết lại tạo nên một “mùa xuân chín

- Mùa xuân lan xa từ cảnh vật sang tới người Con người của mùa xuân thật trẻ

trung, hồn nhiên, đầy sức sống qua hình ảnh: Bao cô thôn nữ hát trên đồi Đó là những

người thôn nữ đang độ tuổi xuân thì phơi phới, yêu đời, yêu cuộc sống Họ tặng cho cuộc đời tiếng hát của tuổi trẻ đầy tin yêu và hi vọng Như vậy, hình ảnh thiên nhiên và con người trong khổ thơ thứ hai đều mang vẻ đẹp của độ xuân thì rạo rực, căng tràn sức sống, vui tươi, phấn khởi, trẻ trung, yêu đời

- Nhưng tiếng hát mùa xuân đang tình tứ và đáng yêu, sắc xuân, hương xuân, tình xuân "đang chín" dần trong lòng thôn nữ, bỗng ngập ngừng, hẫng hụt, băn khoăn:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,

Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.

Có lẽ chỉ đến Thơ Mới, khi tiếng thơ là của ý thức cá nhân cá thể thì ý thức về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của tuổi trẻ và xuân mới trở nên rõ ràng Xuân Diệu từng sợ thời gian, mùa xuân, tuổi trẻ trôi mau qua mà vội vàng giục giã:

Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Những năm tháng tuổi xuân đẹp đẽ của đời người đã ngắn mà tuổi xuân thì đẹp đẽ của đời con gái còn ngắn hơn Chả thế mà Nguyễn Bính phải thở dài xót xa:

Tuổi xuân má đỏ môi hồng Bước chân về đến nhà chồng là thôi

Trang 10

Hàn Mặc Tử cũng đã bao lần hẫng hụt về điều ấy Việc các cô thiếu nữ lấy chồng

là một mất mát không gì sánh được Nó khiến cho tất thảy đều vô nghĩa Nàng thì mất ước mơ, mình thì mất hồn thơ:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng Ngồi lên để thả cái hồn thơ

Thế nên ở đây, giữa lúc mùa xuân chín, tiếng ca còn đương làm rạo rực cả nước mây, mà Hàn Mặc Tử đã nhìn thấy trước cái tương lai buồn, thấy trước ngày mai vô vị,

mà thốt lên lời tiên báo “Đám xuân xanh ấy" ở đây chỉ các cô thôn nữ đang hát, đang yêu đời Các cô gái ấy rồi sẽ "theo chồng bỏ cuộc chơi” Như vậy, giữa trạng thái chín của mùa xuân, nhân vật trữ tình đã nhận ra mùa xuân đang tròn đầy, viên mãn đã báo hiệu sự phai nhạt, thiên nhiên cùng con người không nằm ngoài dòng chảy của thời gian

và những quy luật của cuộc đời Những cô thôn nữ của hiện tại theo thời gian sẽ trở thành người phụ nữ có chồng vào ngày mai Nhân vật trữ tình đang mang trong mình một niềm yêu rạo rực trước mùa xuân, tình xuân nhưng nhìn thấy sự vận động của thiên nhiên, tạo vật, con người đã bày tỏ cảm giác hụt hẫng, buồn tiếc khi nghĩ về tương lai

- Đoạn thơ chủ yếu ngắt nhịp 4/3 ở các câu 1, 2, 4 của khổ thơ, xen lẫn cách ngắt nhịp 2/2/3 ở câu thơ thứ 3 Cách ngắt nhịp được dẫn dắt bởi cảm xúc, đi từ xao xuyến trước thiên nhiên sống động và lời hát yêu đời của những cô thôn nữ rồi bỗng như ngập ngừng, băn khoăn nghĩ đến ngày mai những cô thôn nữ theo chồng bỏ cuộc chơi Cách ngắt nhịp linh hoạt góp phần diễn tả ngay khi mùa xuân đang chín, lòng người như đã quyến luyến mùa xuân, cảm thấy như mất mát khi nhận ra mùa xuân, tuổi xuân tươi đẹp, hồn nhiên sẽ dần trôi qua Giữa đỉnh điểm cuộc vui hiện tại mà đã chợt nghĩ đến ngày mai mà buồn thương thì có lẽ thi sĩ họ Hàn cũng giống như chàng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sau này chỉ là người nghệ sĩ đi ngang qua cuộc đời này để hát lên cái linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo

4 Khổ 3

- Khổ thơ thứ 3 như một câu văn dài miêu tả là tiếng hát bằng cả hình ảnh và âm thanh Nhân vật trữ tình dường như là người lắng nghe và thu nhận tất cả những hình ảnh, thanh âm của sắc xuân, tình xuân với một niềm nâng niu, trân trọng tha thiết

- Tiếng hát là kết tinh cao nhất của vẻ đẹp, sức sống và tình xuân từ trong lòng tạo vật phát ra ngoài, Lời hát của các cô thôn nữ như hút hồn người, như tràn ngập cả không gian cũng góp phần làm nên một "mùa xuân chín":

+ Ân dụ chuyển đổi cảm giác tiếng ca vắt vẻo: âm thanh được gợi tả qua hình ảnh

vắt vẻo vốn là trạng thái của sự vật ở vị trí trên cao nhưng không có chỗ dựa vững chắc, chỉ được vắt ngang qua cái gì đó Tiếng ca như đung đưa, vắt qua đồi núi, lan trong

Ngày đăng: 28/10/2023, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w