1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Huyện đường dạy thêm 10 kntt nâng cao

6 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Huyện đường
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1957
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 33,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoạn trích Huyện đường thuộc cảnh I của hồi thứ II, kể lại buổi làm việc nơi huyện đường, vào thời điểm diễn ra cuộc kiện tụng giữa các nhân vật liên quan đến vụ trộm, cụ thể là cảnh tri

Trang 1

HUYỆN ĐƯỜNG -Trích tuồng “Nghêu, Sò, Ốc,

Hến”-I MỞ BÀI

Văn chương bắt nguồn từ đời sống, bắt nguồn từ chính những cảm xúc tình cảm chân thật nhất của con người Văn chương, dù ở bất kì thể loại nào cũng đều mang lại cho người đọc những nhận thức về hiện thực, tìm tòi mới mẻ về cuộc đời, khơi gợi ở con người những tình cảm sâu kín và hơn hết là những bài học quý giá mà nhân văn Nhắc tới loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian – tuồng ta sẽ càng cảm nhận rõ hơn về những đặc sắc văn chương nghệ thuật có từ lâu đời, những nét độc đáo riêng mà bất kì thể loại hiện đại nào ở ngày nay cũng khó sánh bằng Vở tuồng hài “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”, đặc biệt đoạn trích “Huyện đường” có ý nghĩa phản ánh hiện thực xã hội, gợi ra nhiều suy ngẫm sâu xa

II THÂN BÀI

1 Khái quát

a Tuồng

- Tuồng là một loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dưới triều Nguyễn ở vùng Nam Trung Bộ Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và tuồng dân gian

+ Tuồng cung đình viết về đề tài trung với vua, đánh giặc bảo vệ đất nước, bảo vệ triều đình, có âm hưởng bi tráng, giàu kịch tính, mâu thuẫn căng thẳng, quyết liệt giữa hai phe trung nịnh, tốt - xấu, Có thể kể đến các vở tuổng cung đình tiêu biểu như: Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Tam Xuân

+ Tuồng dân gian giàu yếu tố hài, có cốt truyện phong phú, gần gũi vởi cuộc sống của người bình dân xưa, hướng tới châm biếm các thói hư tật xấu hay đả kích một số hạng người nhất định trong xã hội Các vở tuồng dân gian tiêu biểu là: Nghêu, Sò, Ốc, Hến; Trương Ngáo; Trương Đồ Nhục, Trân Bồ:

- Nghệ thuật tuồng là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, hội hoạ

và các trò diễn dân gian Cũng như chèo, kịch bản tuồng là một văn bản có cốt truyện, nhân vật kèm lời thoại và chỉ dẫn về bối cảnh, trang phục, hoạt động trên sân khấu,

- Một tích tuồng thường có nhiều dị bản, do nó được bổ sung, nắn chỉnh thường xuyên trong quá trình biểu diễn, lưu truyền

b Vở tuồng “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”

- Nghêu, Sò, Ôc, Hến là một vở tuồng hài (tuồng dân gian) nổi tiếng xuất hiện vào cuối

thế ki XIX, có ý nghĩa châm biếm sâu sắc nhiều thói tật trong xã hội và lật tẩy bộ mặt xấu

xa của một số kẻ thuộc bộ máy cai trị ở địa phương trong xã hội xưa

c Đoạn trích

Trang 2

- Vị trí: Văn bản Nghêu, Sò, Ốc, Hến do Hoàng Châu Ký chỉnh lí (1957) gồm có tất cả ba hồi Đoạn trích Huyện đường thuộc cảnh I của hồi thứ II, kể lại buổi làm việc nơi huyện đường, vào thời điểm diễn ra cuộc kiện tụng giữa các nhân vật liên quan đến vụ trộm, cụ thể là cảnh tri huyện và đề lại bàn bạc với nhau về cách nhũng nhiễu người kêu kiện

- Bố cục: Chia đoạn trích thành 2 phần

+ Phần 1: Từ đầu đến “Vào ra cũng phải chuyên cần”: Tri huyện tự bạch

+ Phần 2: Còn lại: Đề lại và tri huyện tính toán, bày mưu để có thể lấy được tiền từ vụ xét xử

=> Đoạn trích mang một nét độc đáo không chỉ về nghệ thuật mà sâu xa nội dung của nó còn vạch trần những góc khuất của hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ với những cái lố lăng, đồi bại, giả tạo của lớp quan chức lạm quyền xưa

2 Nghệ thuật Tuồng thể hiện trong trích đoạn

a Không gian

- Trong kịch bản tuồng thường có những chỉ dẫn để thiết kế sân khấu phù hợp với nội dung vở diễn Thiết kế sân khấu trong đoạn trích là huyện đường với cách bài trí là trên tường chính giữa là bức hoành phi đề hai chữ “huyện đường”, hai bên hai câu đối, bên cạnh câu đối là cửa vào nhà trong Bàn giấy của tri huyện để chính giữa, trên có ống bút, nghiên mực, điếu bình Bàn của đề lại cũng có nghiên bút và một chồng đơn từ

=> Không gian là chốn công quyền, đáng lẽ cần phải có sự tôn nghiêm, công bằng Nhưng cũng chính trong không gian này đã diễn ra những trò lố lăng, bẩn thỉu của bọn quan lại từ trên xuống dưới Không gian nghệ thuật này như vậy cũng góp phần làm nổi bật ý nghĩa của trích đoạn

b Các sự việc chính trong văn bản:

Trong đoạn trích, tác giả dân gian đã xây dựng chuỗi các sự việc tạo nên diễn biến của tích truyện là:

- Tri huyện bước ra đầu tiên, tự xưng tên tuổi, chức vụ và kinh nghiệm của mình

- Đề lại theo hầu phía sau, hỏi thăm và thưa với tri huyện về vụ án của Thị Hến

- Sau một hồi bàn bạc, tri huyện và đề lại đưa ra phương án xử tù, phạt đòn và phạt tiền đối với Ốc, Nghêu và lí trưởng còn Sò và Hến thì đợi xem xét

- Lính lệ ra gọi cả bên nguyên, bên bị, nhân chứng vào hầu

c Chỉ dẫn sân khấu

Trong kịch bản tuồng còn có những chỉ dẫn sân khấu, giúp cho tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn, giúp người đọc kịch bản có thể hình dung về nhân vật và diễn biến nội dung tác phẩm Trong trích đoạn “Huyện đường” có rất nhiều chỉ dẫn sân khấu như:

chỉ dẫn cách bài trí sân khấu; lời nói, cử chỉ, điệu hát của các nhân vật (nói lối; một lát,

cười; bước ra; không đợi Đề lại trả lời…)

d Nhân vật xuất hiện và tự giới thiệu

Trang 3

- Cũng giống như chèo, trong tuồng nhân vật cũng có thể tự giới thiệu về mình Lời giới thiệu này giúp người đọc, người xem có hiểu, định hướng về nhân vật Ở phần đầu đoạn trích nhân vật tri huyện khi xuất hiện đã tự giới thiệu về mình:

Đỉnh chung đà đủ miếng Hoa nguyệt cũng quen mùi

Lấy của cậy ngọn roi

Làm quan nhờ lỗ khẩu

Sự lí thường phân ẩu

Được thua tự đồng tiền

- Trong lời giới thiệu hàng ngày, người ta thường giới thiệu những ưu điểm, đặc điểm nổi trội để gây ấn tượng với đối phương Tuy nhiên, để định hướng cho người xem nên lời giới thiệu của tri huyện trong trích đoạn có nhắc tới chức vụ, quyền uy, thậm chí cả những thói hư tật xấu như hoa nguyệt, làm quan nhờ nịnh nọt, cách phân xử vô lí dựa vào đồng tiền để phân định:

=> Cách giới thiệu có phần hơi khoa trương, thị uy và hống hách Từ đó ta thấy được bản chất bỉ ổi của tri huyện, chuyên tham nhũng, ăn đút lót, bóc lột nhân dân Những lời giới thiệu này khiến người đọc, người xem ngay từ đầu đã có những hình dung nhất định về nhân vật

3 Tình huống và đối thoại của các nhân vật

a Tình huống:

Những tình tiết trong đoạn trích xoay quanh các nhân vật là Tri huyện, Đề lại và lính

lệ trong một cảnh làm việc nơi huyện đường, vào thời điểm diễn ra cuộc kiện tụng liên quan đến vụ trộm của Thị Hến Tri huyện, đề lại và lính lệ đang suy tính bàn cãi tính kế

xử kiện như thế nào để có thể bóp nặn được nhiều tiền nhất từ Sò, Ốc và Nghêu Trong cảnh làm việc này, các nhân vật đều bộc lộ mình qua đối thoại

b Đối thoại giữa các nhân vật bộc lộ ý nghĩa châm biếm, mỉa mai sâu sắc

Tuồng được diễn trên sân khấu cho nên chủ yếu sẽ là đối thoại Trong trích đoạn, sau màn tự giới thiệu của tri huyện là màn đối thoại giữa các nhân vật Qua các màn đối thoại này các nhân vật đã tự phơi bày bản chất của mình tạo nên ý nghĩa châm biếm, mỉa mai sâu sắc

* Tri huyện

Khi xử vụ án của Thị Hến, tri huyện không chú ý đến việc tìm hiểu các tình tiết vụ

án để xét xử cho đúng người đúng tội mà chỉ chăm chăm tìm hiểu hoàn cảnh của các đương sự, tính kể để moi được tiền của họ Tri huyện tìm hiểu để biết Sò rất giàu có điều kiện tốt để bắt hối lộ Và để được hối lộ thì phải để đu đưa cho các đương sự sợ hãi mà

chạy chọt Lời nói của ý thể hiện rõ điều đó: “Vụ ấy à? Ý thầy thế nào? Tôi thì tôi nghĩ

cứ để đu đưa như vậy đã Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể “ấy” được” Bài

học làm quan của hắn không khác gì bài học mà nhân vật quan lại nổi tiếng gian hùng

Trang 4

trong văn học là Bá Kiến (Chí Phèo của Nam Cao) đã từng rút ra “Phải, nắm đứa có tóc

ai nắm kẻ trọc đầu” Hắn ý thức rằng nghề làm quan phản biết vận dụng cái lưỡi “Ăn thua là những chỗ khó đấy đấy, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả được” đúng như dân gian nhận xét về bọn quan lại nói chung “Miệng quan, trôn trẻ”

có thể thay đổi không biết đâu mà lường

Bỉ ổi hơn nữa, sau khi nghĩ ra kế moi tiền từ Sò tri huyện đã “cười khoái trá”, cho thấy sự thỏa mãn và vui vẻ cũng như lòng tham và thói xấu của hắn khi muốn lũng đoạn, đục khoét tiền của dân chúng

* Đề lại

- Làm việc dưới trướng của tri huyện, Đề lại cũng cùng một giuộc tham nhũng, ăn bẩn bóc lột dân lành Trong vụ trộm liên quan đến Thị Hến, hắn cũng ra sức tìm hiểu hoàn cảnh của các nhân vật xem có thể bóp nặn được không Biết Nghêu, Ốc, lí trưởng, Thị Hến toàn đầu trọc, tức là không có tiền hắn đề nghị xử ngay cho xong Còn trường hợp của Sò có thể moi được tiền nên hắn đề nghị để tra cứu: “Ta cứ để tra cứu đã Thưa còn thằng Ốc, thằng Nghêu lí trưởng, thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu trọc cả”

- Đề lại cũng tán thưởng cách làm việc của tri huyện, hắn không chỉ cùng một giuộc mà còn là một tên nịnh nọt, chuyên bàn mưu tính kế giúp tri huyện tham nhũng,

bóc lột Điều đó thể hiện rõ qua lời thoại “Bẩm quan xử thật sâu sắc, nhưng đã xử Nghêu

và Ốc rồi thì lấy gì mà không xử Sò với Hến được”.

* Lính lệ

- Trong đoạn trích, xuất hiện 2 tên lính lệ là lính lệ A và lính lệ B Trước tri huyện

và Đề lại cả hai tên đều khúm núm, tuân lệnh quan trên triệt để Lính lệ B được miêu tả

dạ vâng và cầm quạt lông hầu tri huyện Lính lệ A được miêu tả: khi quan sai bảo rất lễ phép, dạ vâng; khi ra gọi các đương sự thì một mặt dõng dạc gọi họ vào, một mặt nhỏ to,

ngon ngọt để kể công của mình, nhắc khéo việc hối lộ“Nhắc lại ông Trùm, anh xã và chị

Hến biết rằng hôm nay quan bận lắm, tôi lẩm bẩm mãi quan mới chịu xử vụ này đấy”.

=> Các cuộc đối thoại đã phơi bày rõ hơn bản chất xấu xa, tham lam, đồi bại của các nhân vật từ trên xuống dưới ở chốn huyện đường, đặc biệt xấu xa, đồi bại nhất là tri huyện Bởi vì hắn ta là kẻ đã được học sách thánh hiền, lại ngồi trên ngôi cao Đáng lẽ hắn phải là người gương mẫu để cho thuộc cấp noi theo, đằng này hắn chính là kẻ tiếp tay, chỉ cho cấp dưới làm bậy

c Ý nghĩa của tình huống và đối thoại

- Đoạn trích làm nổi bật chân dung các nhân vật, sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các nhân vật ở huyện đường: Đều tham lam, muốn đục khoét tiền của của nhân dân Trong đó, đáng chú ý là dù làm những việc bẩn thỉu ở chốn công đường nhưng Tri huyện và đề lại cũng không cần phải giữ ý với nhau vì chúng là những người cùng bản chất Hơn nữa, chúng lại có cả quá trình lâu dài cùng âm mưu chiếm đoạt tiền bạc

Trang 5

của người thưa kiện và bị kiện Dựa vào cách nói chuyện rất trơn tru, phối hợp nhịp nhàng, tâng bốc nịnh nọt lẫn nhau có thể thấy hành vi xấu xa này của chúng đã lặp lại nhiều lần Tri huyện và Đề lại là những gương mặt tiêu biểu cho tầng lớp cầm quyền ấy, lớp quan lại tham lam, đồi bại Quan huyện và thầy đề – bọn cường hào phong kiến ngày ngày kiếm cớ phạt vạ dân những tội như để chó “cắn hóng”, mổ trâu không xin phép, nhà

có người chết không khai tử Họ bàn bạc, chia chác công khai những đồng tiền mồ hôi nước mắt của người dân Trên công đường, họ ra vẻ uy nghiêm, quang minh chính đại nhưng nhanh chóng lộ bộ mặt tham lam, bẩn thỉu Đoạn trích vì vậy mang tính châm biếm, mỉa mai sâu cay

- Ngoài ra, đoạn trích cũng bộc lộ thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan”: Chốn công đường không phải chốn thâm nghiêm, uy quyền, không phải

là nơi phân xử công bằng cho nhân dân mà đó là nơi đục khoét của bọn quan lại nhũng nhiễu, chuyên vơ vét của người dân Kẻ nhiều tiền thì được vô tội còn không có tiền sẽ bị phạt Hon nữa, người dân xưa đối với chốn “cửa quan” cũng vừa sợ sệt lại vừa đáng thương Họ là những con người thấp cổ bé họng nên không biết dựa dẫm vào đâu, chỉ có thể đến cửa quan kêu oan Ngay cả lí trưởng khi bị vào chốn cửa quan cũng run sợ Lời lẽ

của lí trưởng và trùm sò khi được lính lệ gọi vào đầy vẻ khúm núm: “Vâng, tôi biết anh

tử tế lắm, chúng ta với nhau rồi”; “Vâng, tôi xin hậu tạ, anh cứ giúp đỡ cho” phần nào

cho thấy điều đó

4 Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật

a Nghệ thuật

- Nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật; nghệ thuật kể chuyện xen lẫn chất trào phúng, hóm hỉnh; lời nhân vật bộc lộ tính cách, kết hợp với ngôn ngữ châm biếm đả kích, gây cười tạo nên tiếng cười trào phúng, mỉa mai sâu sắc

- Ngôn từ thuần Việt, dung dị, dễ hiểu, sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật như đem cái cao quý, thiêng liêng đặt bên cạnh cái dung tục tầm thường… làm nổi bật cái xấu xí, tầm thường, đáng cười, đáng chê trách

b Nội dung

- Đoạn trích vừa lên án, châm biếm, mỉa mai sự đổ đốn của quan lại, vừa tố cáo sự mục ruỗng, thối nát nơi quan trường phong kiến, tạo ra tiếng cười sâu sắc, chua cay

- Qua những nhân vật dung tục, có tâm địa xấu xa như Tri huyện, Đề lại, thậm chí cả bọn lính lệ, tác giả dân gian đã phơi bày những thói hư tật xấu, bộ mặt tham lam giả dối, hèn nhát với những dục vọng tầm thường của tầng lớp cường hào ác bá phong kiến Tất cả góp phần khắc họa đầy đủ diện mạo bức tranh làng quê phong kiến buổi suy tàn

III KẾT LUẬN

Vở tuồng “Nghêu, Sò, Ốc, Hến” là vở tuồng hài thuộc vào hàng mẫu mực của nghệ thuật sân khấu tuồng, được hình thành dựa vào cốt truyện văn học dân gian Có thể xã hội hiện đại phát triển nhiều thứ mới cao cấp hơn ra đời nhưng chỉ có tiếng cười trong tuồng

Trang 6

không khiến ta nhàm chán, không khiến ta mất đi sự náo nức bởi trong đó tuồng vẫn giữ được yếu tố truyền thống hấp dẫn Tiếng cười trong “Nghêu, Sò, Ốc, Hến” có ý nghĩa phê phán, châm biếm và mỉa mai những kẻ mê sắc, xử kiện không công bằng, bị đồng tiền, nhan sắc làm mờ mắt và từ đó có ý nghĩa xã hội sâu sắc đến tận ngày nay

Nhận bản đầy đủ, chi tiết, sửa được tham gia nhóm

Giáo án miễn phí Ngữ Văn THCS - THPT Sách mới

https://www.facebook.com/groups/giaoanmienphinguvan

https://www.facebook.com/giaoannguvan/

Ngày đăng: 28/10/2023, 10:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w