Hành vi vi phạm pháp luật:Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật được xã hội bảo vệ.Một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 2MỤC LỤC
I Hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật: 3
1 Khái niệm và bản chất 3
2 Dấu hiệu cơ bản 4
3 Ví dụ 6
4 Bảng tổng kết so sánh hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật 9
II Yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật: 9
1 Chủ thể của vi phạm pháp luật: 9
2 Khách thể vi phạm pháp luật: 13
3 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật: 13
II CÁC LOẠI VI PHẠM PHÁP LUẬT 16
1 Vi phạm hình sự (tội phạm) 16
2 Vi phạm hành chính 18
3 Vi phạm dân sự 19
4 Vi phạm kỷ luật 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
2
Trang 3I Hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật:
1 Khái niệm và bản chất
a Hành vi trái pháp luật:
Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện trái với quy định của pháp luật Một hành
vi được xác định là trái pháp luật khi đáp ứng các yếu tố: là hành vi xác định của conngười, là hành vi trái với quy định của pháp luật
Hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới một trong ba dạng hành vi sau:
1 Thực hiện hành vi mà pháp luật cấm;
2 Không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện;
3 Thực hiện hành vi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép thực hiện
Như vậy có thể thấy đặc trưng để xác định một hành vi có được coi là hành vi tráipháp luật hay không chính là “trái pháp luật” Trái ở đây là sai trái, theo từ điển tiếngViệt thì “sai trái” được hiểu là hành vi đi ngược lại với lẽ phải, làm những điều khôngđúng đắn, không đúng với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Trái pháp luật là việc thực hiện ngược lại với quy định của pháp luật được nhà
nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội Các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên Một người thực hiện trái với những quy định được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật sẽ được coi là hành vi trái pháp luật
3
Trang 4b Hành vi vi phạm pháp luật:
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực
trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật được xã hội bảo vệ.Một hành vi được xác định là vi phạm pháp luật khi đáp ứng đủ các yếu tố: là hành vitrái pháp luật, có yếu tố lỗi, do chủ thể có đủ năng lực pháp lý thực hiện, có khả năngchịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật, hành vi đó xâm phạm đến cácquan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Ngoài yếu tố có hành vi trái pháp luật, một hành vi được xác định là vi phạm pháp luật nếu hành vi đó do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện, có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật
Như vật có thể thấy rằng không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi
phạm pháp luật Hành vi trái pháp luật chỉ là một trong những điều kiện cần để cấu thành hành vi vi phạm pháp luật
2 Dấu hiệu cơ bản:
Dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật:
a Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi xác định của con người
Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi xác định của con người: Hành vi đótrước hết phải là hành vi do con người thực hiện bằng hành động hoặc không hànhđộng và phải là hành vi được bộc lộ ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hìnhthức hành động hoặc không hành động mà con người có thể tri giác được
Những ý nghĩ, tư tưởng dù có nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa thể hiện thànhhành vi bộc lộ ra bên ngoài thì không bị coi là vi phạm pháp luật
4
Trang 5b Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái với các quy định của pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Hành vi trái với quy định của pháp luật là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của quy phạm pháp luật hoặc thực hiện hành vi pháp luật cấm
Những hành vi dù có gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội nhưngchưa được quy định trong pháp luật thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật
c Vi phạm pháp luật là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể
Một chủ thể được coi là có lỗi đối với hành vi của mình khi mà chủ thể đó ở trong điều kiện, hoàn cảnh nhận thức được hành vi, hậu quả mà hành vi có thể gây ra cho xã hội và hoàn toàn có thể chọn một cách xử sự khác phù hợp với pháp luật nhưng họ đã lựa chọn cách xử sự không phù hợp
Những hành vi gây thiệt hại trong điều kiện hoàn cảnh được pháp luật quy định thì người thực hiện hành vi đó không có lỗi và hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật
Những hành vi gây thiệt hại mà chủ thể không thể biết trước, không buộc phảibiết trước hành vi đó gây ra thiệt hại cho xã hội hoặc trong trường hợp chủ thể không còn cách lựa chọn nào khác nên bắt buộc phải thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội để bảo vệ lợi ích lớn hơn thì sẽ được coi là không có lỗi
d Vi phạm pháp luật là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng của chủ thể tự gánh chịu những hậuquả pháp luật bởi hành vi mà mình thực hiện Năng lực trách nhiệm pháp lý của
5
Trang 6chủ thể bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật Chủ thể thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc pháp nhân:
Đối với cá nhân: Cá nhân có năng lực hành vi khi họ có đủ các điều kiện nhất định như: độ tuổi, không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hay khả năng điều khiển hành vi của mình
Đối với pháp nhân: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi có từ khi được thành lập và mất đi khi giải thể hoặc phá sản
Như vậy, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dấu hiệu cơ bản của hành vi trái pháp luật:
Hành vi trái pháp luật là một trong những điều kiện để cấu thành hành vi vi phạm pháp luật Chính vì vậy mà hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Và những dấu hiệu cơ bản để có thể nhận biết được đó là một hành vi trái pháp luật bao gồm:
Hành vi đó là hành vi xác định của con người
Hành vi đó là hành vi trái với các quy định của xã hội, xâm hại tới các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.
Có thể thấy rằng các dấu hiệu cơ bản để nhận biết hành vi trái pháp luật chính là một phần nhỏ trong các dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật Dựa vào sự khác biệt này mà chúng ta có thể so sánh và phân biệt được hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật Và các ví dụ cụ thể dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự khác nhau giữa hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật
3 Ví dụ
6
Trang 7Discover more from:
CNXH 2022
Tiểu luận cnxh - NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
Đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân và sự vận dụng của Đảng ta ở Việt…
Vấn đề dân chủ - bài tập cá nhân môn chủ nghĩa xã hội khoa học
So sánh tôn giáo ở một nước tư bản với tôn giáo ở Việt Nam
So sánh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tbcn
Document continues below
Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 8a Ví dụ 1: A là một thanh niên 25 tuổi nhưng lông bông, không có việc làm ổn định,
vì thua cá độ bóng đá, nợ nần chồng chất nên A đã lên kế hoạch lẻn vào nhà sát hại chị M rồi cướp tài sản
Trong tình huống này, chúng ta có thể kết luận hành vi của A là một hành vi vi phạm pháp luật Hành vi của anh A đã đáp ứng đủ các yếu tố để có thể kết luận là
Chủ thể thực hiện hành vi có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý: Anh A là một thanh niên 25 tuổi, có đủ khả năng điều khiển hành vi của mình và nhận thức được hành
vi của mình là đúng hay sai, có gây hại cho xã hội hay là không
b Ví dụ 2: Anh B - 20 tuổi, là một bệnh nhân tâm thần, mỗi khi lên cơn anh B sẽ đập phá đồ đạc và đánh những người xung quanh Trong một lần lên cơn, anh B đã ném chiếc bình về phía anh H - bác sĩ điều trị cho anh B và cũng là người đang ngăn cản anh B đập phá đồ đạc - khiến cho anh H bị chấn thương sọ não
Trong tình huống này, chúng ta chỉ có thể kết luận hành vi của anh B khiến cho anh H bị chấn thương sọ não là một hành vi trái pháp luật Mặc dù anh B đã ném
Trang 9chiếc bình về phía anh H và làm cho anh H bị thương nặng nhưng để có thể kết luận một hành vi là hành vi vi phạm pháp luật thì hành vi đó phải đáp ứng đủ các yếu tố:
Hành vi đó phải là một hành vi xác định của con người
Hành vi đó trái với các quy định của pháp luật
Hành vi đó chứa đựng lỗi của chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi đó có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý
Trong đó, hành vi của anh B chỉ đáp ứng 2 yếu tố: là một hành vi xác định của con người (vì anh B đã ném chiếc bình về phía anh H) và hành vi này trái với quy định của pháp luật (vì xâm phạm đến sức khỏe, thân thể, tính mạng của người khác, khiến anh H chấn thương sọ não) Tuy nhiên, hành vi này không do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện vì anh B là một bệnh nhân tâm thần, mất năng lực nhậnthức và không thể điều khiển được hành vi của mình trong thời điểm thực hiện hành
vi đó, chính vì vậy mà anh B không thể nhận thức được hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả gì nên hành vi này của anh B cũng không có chứa đựng lỗi của chủ thể
c Ví dụ 3: Hành vi giết người được xác định là hành vi vi phạm pháp luật vì pháp luậtcấm người khác xâm phạm đến sức khỏe, thân thể, tính mạng của người khác Tuy nhiên người này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu cá nhân đó đủ năng lực hành
vi dân sự, đủ tuổi chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên
8
Trang 104 Bảng tổng kết so sánh hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật Hành vi vi phạm pháp luật
Khái niệm
Là hành vi thực hiện trái với quy định của pháp luật
Là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật được
xã hội bảo vệ
Bản chất
Hành vi trái pháp luật chỉ là một trong nhữngđiều kiện cần để cấu thành hành vi vi phạm phápluật
Hành vi trái với các quy
định của pháp luật, xâm
hại tới các quan hệ xã
hội được pháp luật bảo
Trang 11Hành vi trái pháp luật Hành vi vi phạm pháp luật
Khái niệm
Là hành vi thực hiện trái với quy định của pháp luật
Là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ pháp luật được
xã hội bảo vệ
Bản chất
Hành vi trái pháp luật chỉ là một trong nhữngđiều kiện cần để cấu thành hành vi vi phạm phápluật
pháp lý thực hiện
II Yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật:
1 Chủ thể của vi phạm pháp luật:
Chủ thể vi phạm pháp luật là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp
lý đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Chủ thể vi phạm pháp luật có năng lực trách nhiệm pháp lý nghĩa là:
Đối với chủ thể là cá nhân:
Cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Trong đó:
Năng lực pháp luật: là một thuộc tính của chủ thể, là khả năng của chủ thể được hưởng quyền và làm nghĩa vụ pháp lý khi tham gia quan hệ pháp luật Mỗi chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật khác nhau sẽ
có khả năng hưởng quyền và làm nghĩa vụ khác nhau và pháp luật quy
10
Trang 12định Cá nhân có năng lực pháp luật thì được hoặc phải tham gia quan hệpháp luật nhất định Năng lực pháp luật xác định địa vị pháp lý cho một chủ thể nhất định Năng lực đó là cơ sở để các chủ thể thụ động tham gia quan hệ pháp luật hoặc được pháp luật bảo vệ trong các quan hệ pháp luật nhất định
Năng lực pháp luật của cá nhân xuất hiện từ khi cá nhân được công nhận về địapháp lý và chấm dứt khi cá nhân chết đi hoặc chấm dứt tư cách chủ thể (thay đổi quốctịch, trừ trường hợp bị pháp luật tước đoạt hoặc hạn chế)
Năng lực hành vi pháp luật: Là khả năng mà nhà nước thừa nhận cho cácchủ thể bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật cụ thể
Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi pháp luật không mang tính thụ động mà mang tính chủ động Theo đó, các chủ thể của quan hệ pháp luật tự bản thân mình (bằng hành vi của mình) thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quyđịnh Khi một chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, chủ thể được tự mình tham gia quan hệ pháp luật để hưởng quyền hoặc làm nghĩa vụ trong quan hệ đó
Năng lực hành vi của cá nhân xuất hiện từ khi cá nhân được sinh ra nhưng đượcchia thành nhiều cấp độ phụ thuộc vào các yếu tố: độ tuổi và khả năng nhận thức của
cá nhân Độ tuổi được xác định là có đủ năng lực hành vi được quy định khác nhau cho từng loại quan hệ pháp luật, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ pháp luật đó
Ví dụ:
a Nếu người mắc bệnh đao thực hiện hành vi phạm tội nhưng vì người bệnh đao không có năng lực hành vi pháp luật nên không bị coi là vi phạm pháp luật
11
Trang 13b Mỗi cá nhân sinh ra đều có quyền được sống, được học tập và phát triển bản thân Được pháp luật bảo vệ về quyền bất xâm phạm thân thể Để xác định chủ thể của hành vi trái pháp luật có được những năng lực đó hay không, Nhà nước đã căn cứ vào độ tuổi và khả năng nhận thức, lý trí của chủ thể vào thời điểm học thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015( sửa đổi bổ sung năm 2017) đã quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: …”
Theo khoản 3 Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 như sau: “2 Người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141,
12
Trang 1416 tuổi; không mắc bệnh tâm thần hoặc một loại bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi Theo đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về 28 tô ri danh quy định tại khoản 2 Điều 12.
Đối với chủ thể là tổ chức:
Tổ chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải có tư cách pháp nhân được quy định tại Điều 74, Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là:
Được thành lập theo quy định của pháp luật:
Pháp nhân được hình thành thông qua thủ tục hành chính, theo sáng kiến của cánhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông qua thủ tục hành chính đó pháp nhân được sinh ra, tồn tại và hoạt động theo quy định của pháp luật
Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập:
13
Trang 15Để có thể tham gia quan hệ pháp luật với tư cách là chủ thể độc lập, pháp nhân cũng phải có năng lực chủ thể Khác với cá nhân, năng lực pháp luật và năng lực hành
vi của pháp nhân phát sinh và tồn tại cùng với thời điểm pháp nhân được thành lập và tồn tại Năng lực pháp luật của tổ chức chấm dứt khi tổ chức đó giải thể, phá sản hoặcsáp nhập vào một tổ chức khác Chủ thể của vi phạm pháp luật sẽ được xác định tùy theo từng quan hệ pháp luật và các loại vi phạm pháp luật khác nhau
2 Khách thể vi phạm pháp luật:
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ và bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại Mỗi hành vi vi phạm xâm hại đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội Vì vậy, tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật và vì thể có ảnh hưởng đến việc xácđịnh trách nhiệm pháp lý
Ví dụ: Khách thể của tội vi phạm hợp đồng là quan hệ về lợi ích hợp pháp tronghợp đồng của bên bị hại được Nhà nước công nhận và bảo vệ
Khách thể là căn cứ để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Các vi phạm khác nhau sẽ xâm hại đến các khách thể khác nhau
3 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật:
Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của vi phạm pháp luật, gồm các
yếu tố: hành vi trái pháp luật, thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội gánh chịu,mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm
Hành vi trái pháp luật, hay hành vi nguy hiểm cho xã hội, là các hành vi trái với yêu cầu của pháp luật, gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
14