1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của đảng và nhà nước ở việtnam trong giai đoạn hiện nay ý nghĩa của việc nghiên cứu từ đó, rút ra bài họccho bản thân

16 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc Của Đảng Và Nhà Nước Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay. Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu. Từ Đó, Rút Ra Bài Học Cho Bản Thân.
Tác giả Phạm Thị Diễm Quỳnh
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
Thể loại Bài Tập Lớn
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Đề tài: “ Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay Ý nghĩa của việc nghiên cứu Từ đó, rút ra bài học

cho bản thân.”

Họ và tên: Phạm Thị Diễm Quỳnh

Mã số sinh viên: 11215115 Lớp TC: LLNL1107(122)_09

GV hướng dẫn: TS.Lê Thị Hồng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Từ trước đến nay, dân tộc luôn là một vấn đề nóng bỏng, được tất cả quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm và chú trọng đến Mỗi quốc gia dù nhỏ hay lớn, đã phát triển hay đang phát triển thì đền cố gắng bảo tồn và phát triển giá trị của dân tộc Đặc biệt đối với tình hình hiện nay thì vấn đề dân tộc đang có những chuyển biến khôn lường đối với từng quốc gia và trên cả thế giới Các vấn đề xoay quanh dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, sắc tộc luôn là những điểm yếu mà các thế lực thù địch muốn nhắm vào nhằm chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, cụ thể là 54 dân tộc anh em Từ xa xưa đã được biết đến với truyền thống đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước nồng nàn Điều đó đã được minh chứng rõ ràng qua các cuộc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ

Tổ quốc từ hàng nhìn năm trước đến nay Các dân tộc khác nhau thì sẽ có các ngôn ngữ, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc trưng văn hóa khác nhau Vì thế mà đất nước ta trở nên phong phú đa dạng về các dân tộc Tuy nhiên các dân tộc anh em có thể

sẽ bị chia rẽ nếu mối quan hệ dân tộc không được giải quyết một cách thỏa đáng Cũng chính vì lẽ đó mà Đảng và nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm đặc biệt đối với vấn

đề này Việc thực hiện những chính sách nhằm giải quyết tốt các vấn đề dân tộc hiện nay, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững được sự ổn định chính trị và thúc đẩy sự phát triển của đất nước là một mục tiêu hàng đầu, mang tính chiến lược và

Vấn đề là rất quan trọng và có những ảnh hưởng sâu sắc với đất nước Chính vì

vậy nên em đã quyết định đề tài “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và

Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Ý nghĩa của việc nghiên cứu Từ đó, rút ra bài học cho bản thân.” để làm đề tài bài tập lớn.

Bài tập lớn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp

từ cô Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

A Lý luận chung

Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã có cái nhìn sâu sắc về vấn đề dân tộc và đưa ra những khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc

 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm : thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc

Theo nghĩa thông thường, khái niệm dân tộc để chỉ một cộng đồng người có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc Theo nghĩa này ở Việt Nam có dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, dân tộc Dao, … Về mặt lịch sử, cộng đồng tộc người phát triển từ thị tộc, bộ lạc,

bộ tộc rồi dần trở thành dân tộc Ở phương Tây cho rằng dân tộc tương ứng với thời kỳ tư bản chủ nghĩa trở đi Trong khi đó, ở phương Đông, do yêu cầu của đắp đê, làm thủy lợi, bảo vệ lãnh thổ… nhiều dân tộc hình thành từ rất sớm, không gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Sở dĩ không có sự thống nhất như vậy là do chưa phân biệt rõ khái niệm dân tộc theo nghĩa cộng đồng tộc người và dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc, hay nói cách khác, là theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, dân tộc là cộng đồng tộc người, không phân biệt trình độ phát

triển, đa số hay thiểu số, sống ở phạm vi quốc gia nào, đều bao gồm ba đặc trưng cơ bản sau : cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng về văn hóa và ý thức tự giác tộc người

Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cồng đồng người sinh sống trong một quốc gia

thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, có chung một nền kinh tế, có ngôn ngữ chung và ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi về chính trị, kinh tế, truyền thông văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, như dân tộc Việt Nam Theo nghĩa rộng, dân tộc có năm đặc trưng cơ bản sau :

- Có chung một vùng lãnh thổ ổn định

- Chung một phương thức sinh hoạt kinh tế

- Chung ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp

- Chung một nền văn hóa và tâm lý

- Chung một nhà nước

Trang 5

Như vậy, khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia

Nghiên cứu về khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, V.I.Lê nin đã phát hiện ra hai xu hướng khác nhau của sự phát triển quan hệ dân tộc

Xu hướng thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc, ý thức

về quyền sống của mình mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập Trong thực tế, xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập Xu hướng này phát huy tác động nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa

tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong cùng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều

quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này phát huy tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên

hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau

Trong phạm vi quốc gia, xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực của từng

dân tộc để đi tới sự tự do, bình đẳng và phồn vinh của dân tộc mình Xu hướng thứ hai thể hiện ở sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc trong một cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau

Trong phạm vi quốc tế, xu hướng thứ nhất thể hiện ở trong phong trao giải

phóng dân tộc nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc và chính sách thực dân đô hộ

Xu hướng thứ hai thể hiện ở xu thế các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác với nhau để hình thành liên minh dân tộc ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu Ví

dụ như ở Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN, nhằm biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên

Vậy, hai xu hướng này có sự thống nhất biện chứng với nhau trong tiến trình

phát triển của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại, luôn có sự tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau, mọi sự vi phạm mối quan hệ biện chứng này đều dẫn tới hậu quả khó lường

 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lê nin

Trang 6

Dựa trên cơ sở tư tưởng của C.Mác – Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc, dựa vào sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trao cách mạng thế giới và cách mạng Nga, phân tích hai xu hướng khách quan của phong trao dân tộc, V.I Lênin đã nêu ra Cương lĩnh dân tộc bao gồm các nguyên tắc để giải quyết vấn

đề dân tộc theo cả góc độ mối quan hệ giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc cũng như theo cả góc độ mối quan hệ dân tộc quốc tế

Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Điều này có nghĩa là các dân tộc dù lớn hay nhỏ, kể cả bộ tộc và chủng tộc, không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp, đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong các sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền và có quyền áp bức bóc lột dân tộc khác, thể hiện trong luật pháp mỗi nước và luật pháp quốc tế Đây là quyền thiêng liêng của tất

cả các dân tộc V.I.Lê nin đã triển khai nội dung bình đẳng ở hai cấp độ là bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc và bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người trong một quốc gia dân tộc

Trên phạm vi giữa các các quốc gia – dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh

tế thế giới mới; chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình dẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó việc phấn đấu khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản

Vậy, thực hiền quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc

Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị - xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc; quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy

cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia – dân tộc

Khi giải quyết quyền tự quyết của các dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trao đấu tranh tiến bộ phù hợp với lợi

Trang 7

Discover more from:

CNXH2021

Bài tập lớn chủ nghĩa khoa học xã hội Phân tích bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Liên hệ trách nhiệ…

[Tailieu VNU.com] - Giao-trinh-Chu-Nghia-Xa-Hoi-Khoa-Hoc- Cnxhkh-Tailieu VNU

Tôn giáo trong thời kì quá độ đi lên CNXH liên hệ với Việt Nam

Giáo trình CNXHKH bản word

Phân tích nội dung trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

và sự vận dụng của bản thân 1

Document continues below

Chủ nghĩa xã hội Neu

999+ documents

Go to course

6

144

11

48

17

Trang 8

ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài

“dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước

Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại

Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin Nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trao công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc

có đủ sức mạnh để giành thắng lợi

Đoàn kết công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoan kết các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa để quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân đóng vai trò vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chính thể

Vậy nên, “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin là một bộ phận trong

cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Đó còn là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng cộng sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

B Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam

1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam

 Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người

Nước ta có tổng cộng 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 87% dân số cả nước, còn lại là dân tộc ít người khác như Tày, Nùng, Thái … phân bố rải rác trên khắp địa bàn cả nước Thực tế cho thấy, nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hóa dân tộc, duy trì và phát triển nòi giống Do vậy, việc phát triển dân số hợp lí cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt

 Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau

Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

3

Trang 9

Vì Việt Nam là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á nên các dân tộc ở Việt Nam không có lanh thổ tộc người riêng, không cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn mà cư trú phân tán và xen kẽ nhau

Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất đa dạng Tuy nhiên, còn tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực khác Đó là việc các tộc người sống xen kẽ làm dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột trong quá trình sinh sống, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước bằng việc tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ cộng đồng các dân tộc, nhất là chia

rẽ đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh, kích động ly khai, tự trị; chia rẽ các dân tộc với Đảng, Nhà nước

 Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 14.3% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên ¾ diện tích lãnh thổ và ở các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới, vùng rừng núi cao, hải đảo… Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước đây là căn

cứ cách mạng và kháng chiến Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực Ví dụ như dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khơme … do vậy, các thế lực phản động thường lợi dụng vấn đề chống phá cách mạng Việt Nam

 Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều

Các dân tộc ở nước ta còn có những sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan

hệ xã hội của các dân tộc thiểu số khác nhau Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau : Một số ít các dân tộc cong duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác

tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức sản xuất hiện đại hơn, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Về văn hóa, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải từng bước giảm, tiến tới xóa bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa, xã hội

Tuy có sự chênh lệch đáng kể về đời sống vật chất cũng như tinh thần nhưng các dân tộc vẫn đoàn kết, coi nhau như anh em và bảo vệ Tổ Quốc Ở nước ta không

Trang 10

có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hóa, thôn tinh các dân tộc ít người, nên cũng không có tình trạng dân tộc thiểu số chống lại dân tộc đa số

 Các dân tộc Việt nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất

Từ xa xưa, các dân tộc cùng chung sống trên dải đất hình chữ S có nhu cầu tự nhiên là luôn phải đoàn kết với nhau để chống lại thiên tai, giặc xâm lăng, trở thành một cộng đồng bền chặt – đại gia đinh các dân tộc Việt Nam, cùng nhau dựng nước và giữ nước

Đoàn kết dân tộc trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ở Việt Nam, là một trong những nguyên nhanh và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong giai đoạn lịch sử; đanh thắng mọi kẻ thù xâm lược để giành độc lập cho đất nước Ngày nay, để thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, các dân tộc thiểu số cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, giữ gìn

và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, đề cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc

 Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Trong văn hóa của mỗi dân tộc đều có những sắc thái độc đáo riêng góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong

sự đa dạng Sự thống nhất đó, suy cho cùng là bởi, các dân tộc đều có chung một lịch sự huy hoàng dựng nước và giữ nước Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến chính sach dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn và toan diện gắn liền với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

2 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam

 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc” Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đung đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh dân và tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc thể hiện ở những nội dung sau :

Ngày đăng: 28/10/2023, 05:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w