Thị trường chứng khoán là một tập hợp bao gồm những người mua và người bán cổ phiếu hay chứng khoán, thứ đại diện cho quyền sở hữu của họ đối với một doanh nghiệp; chúng có thể bao gồm c
Trang 1BỘ GIÁO D ỤC VÀ ĐÀO TẠ O TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
◼ Phân tích r i ro tài chính trong th ủ ị trường ch ng khoán ứ Việt Nam
◼ Rủi ro tài chính c a T ng công ty C ủ ổ ổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội
Nhóm sinh viên thực hi ện:
Nguyễn Th ị Diệp – MSV 11217784 Nguyễn Phương Thảo – MSV 11217886 Nguyễn Th ị Thắm – MSV 11217890
m Th Phạ ị Anh Thư – MSV 11217898
Giảng viên hướng dẫn: Thầy Lê Hoàng Anh
Hà N i, tháng 2 ộ năm 202 3
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2
1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tài chính 2
2 Phân loại rủi ro tài chính 4
3 Tác động của rủi ro tài chính tới doanh nghiệp 8
II MỘT SỐ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 9
1 Thị trường chứng khoán là gì? 9
2 Sàn giao dịch chứng khoán là gì? 10
3 Các nguyên tắc hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam 10
4 Đặc điểm của thị trường chứng khoán 10
5 Vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán 11
6 Rủi ro tài chính trên thị trường chứng khoán là gì? 11
7 Giải pháp giảm thiểu rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam 16
III RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY C Ổ PHẦN BIA – RƯỢU – NƯỚC GI I KHÁT HÀ NẢ ỘI 17
1 Vài nét v T ng công ty C ề ổ ổ phần Bia - Rượu - Nước gi i khát Hà N i ả ộ 17 2 Rủi ro tài chính đối với Công ty Habeco 18
3 Giải pháp gi m thi u rả ể ủi ro cho Công ty Habeco trên th ị trường chứng khoán vi t nam ệ 19
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 31
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một thị trường khá phổ biến ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới Thị trường chứng khoán là một tập hợp bao gồm những người mua và người bán cổ phiếu (hay chứng khoán), thứ đại diện cho quyền sở hữu của họ đối với một doanh nghiệp; chúng có thể bao gồm các cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán đại chúng, hoặc những cổ phiếu được giao dịch một cách không công khai,
ví dụ như cổ phần của một công ty tư nhân được bán cho các nhà đầu tư thông qua các nền tảng gọi vốn cộng đồ Những khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán hầu hết ngđược thực hiện thông qua môi gi i ch ng khoán và n n t ng giao dớ ứ ề ả ịch điện tử Việc trao đổi, giao dịch trên thị trường chứng khoán là phổ biến Mọi người có thể mua cổ phiếu hay đầu tư Bên cạnh những sự thuận lợi của thị trường chứng khoán thì những rủi ro
về tài chính trên thị trường chứng khoán đang là một vấn đề nan giải và cần phải được giải quyết ngay
Trang 4NỘI DUNG
I Phân tích rủi ro tài chính trên thị trường chứng khoán
1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tài chính
1.1 Khái niệm rủi ro
Sự phát triển của loài người cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cho hoạt động của con người nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng ngày càng phong phú và phức tạp Các rủi ro vì thế xảy ra ngày càng nhiều, dưới các hình thức rất
đa dạng Tuy nhiên, khái niệm về rủi ro cho đến nay vẫn còn là vấn đề mang nhiều tranh cãi
Trên thế giới, đại diện là Frank H Knight cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn
có thể đo lường được” Diễn đạt một cách cụ thể hơn, các tác giả C Arthur William, Jr Micheal, L.Smith trong cuốn “Risk management and insurance” – Quản trị rủi ro và bảo hiểm có viết: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của các kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro là bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất mà không thể đoán
định trước.”
Ở trong nước, có khá nhiều tác giả theo trường phái cho rằng rủi ro gắn liền với tiêu cực Tác giả Nguyễn Lân đồng nhất rủi ro với sự không may không tốt, bất ngờ xảy đến Tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro” trong kinh doanh cũng đồng quan điểm như vậy Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh
doanh, tác giả Hồ Diệu cho rằng “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi
nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” Người ta cũng cho rằng, rủi ro là những điều ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của DN Giới nghiên cứu về bảo hiểm cũng gắn rủi ro với tổn thất, bởi vì đối tượng của bảo hiểm chỉ giới hạn ở các tổn thất về mặt tài chính mà không bao hàm những sai lệch không mong muốn so với dự tính
Phân tích các khái niệm cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các khái niệm này đều nhấn mạnh tới đặc trưng của rủi ro là mang tính tất yếu, ngẫu nhiên và không ổn định
Trang 53
Sự biến động của các yếu tố vĩ mô cũng như sự thay đổi trong các quyết định quản trị
có thể dẫn tới các rủi ro không lường trước của DN
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề đang được thảo luận thêm xung quanh những khái niệm này Quan niệm rủi ro gắn liền với thiệt hại được cho là chưa hoàn toàn đầy đủ và chính xác ; bởi vì: rủi ro và lợi nhuận của các DN là hai mặt vừa đối lập, vừa có quan
hệ mật thiết Lĩnh vực kinh doanh nào lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn Như vậy, rủi ro không có nghĩa là “rất xấu”, “rất tồi tệ” mà nó góp phần giúp các nhà quản trị tích cực hơn trong công tác phòng ngừa, xác định trước những thiệt hại có thể gặp phải, từ
đó tận dụng được cơ hội và khắc phục những nguy cơ trong kinh doanh, đề ra các chiến lược và đối sách phù hợp
Trên cơ sở phân tích những khái niệm về rủi ro ở trên, đề xuất đưa ra một khái niệm
về rủi ro như sau: Rủi ro là một tình huống trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sai lệch bất lợi so với mục tiêu được mong đợi hay dự tính Khái niệm này nhấn mạnh đến 2 vấn đề:
+ Thứ nhất, “sự sai lệch bất lợi so với mục tiêu đề ra” bao hàm cả những rủi ro có xảy
ra tổn thất và cả những rủi ro có thể không xảy ra tổn thất nhưng theo chiều hướng bất lợi, làm sai lệch so với dự tính Chẳng hạn, giá cả tăng nhưng không cao như tính toán dẫn tới thu nhập không cao như mong muốn thì cũng được coi là rủi ro Thậm chí, sai lệch so với dự kiến có thể mang lại mức thu nhập cao hơn Và “mục tiêu” là cái mốc để xác định mức độ rủi ro của DN
+ Thứ hai, “dự tính của con người” là điểm mấu chốt để đánh giá rủi ro Rủi ro là một tình huống của thế giới khách quan nhưng “dự tính” của con người là nhân tố chủ quan
và sẽ là nhân tố xác định mức độ rủi ro của DN
1.2 Khái niệm rủi ro tài chính
Trong rủi ro nói chung thì rủi ro tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, thực tế lại đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro tài chính của DN Nghiên cứu của Steven Li (2003) cho rằng: Rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn của các yếu tố như lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu, và giá cả hàng hóa gọi là rủi ro tài chính Trong khi đó, Cao Defan (2005) lại phân chia rủi ro tài chính theo phạm vi Theo nghĩa rộng, rủi ro tài chính liên quan đến tất cả các yếu tố phản ánh trong tình hình tài chính của DN Theo nghĩa hẹp, rủi ro tài chính đề cập đến khả năng không thanh toán
Trang 6được các khoản nợ tài chính khi đến hạn Một loạt tác giả khác, bao gồm cả tác giả trong
và ngoài nước như PGS.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào (2006), PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển (2008), PGS.TS Vũ Duy Hào và PGS.TS Đàm Văn Huệ (2009), Li Zhea, Liu Ke, Wang Kaibi, Shen Xiaoliu (2012) đều đồng quan điểm rằng rủi ro tài chính có liên quan đến sử dụng các phương pháp tài trợ vốn trong DN
Theo Eichhorn (2004) và Ann-Katrin Napp (2011), rủi ro tài chính có thể có hai hình thức khác nhau Rủi ro tài chính do nhân tố khách quan phụ thuộc vào những thay đổi trên thị trường tài chính như lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa Rủi ro tài chính do nhân tố chủ quan (nội bộ), trong đó tình hình tài chính của DN là nguồn gốc của những rủi ro Như vậy, quan điểm này đã bao hàm cả rủi ro bên trong và bên ngoài
DN, tuy chưa chỉ rõ “ tình hình tài chính” như thế nào thì được gọi là rủi ro
Trước tiên, để có khái niệm đúng đắn và khoa học về rủi ro tài chính thì cần hiểu rõ khái niệm tài chính Khái niệm tài chính được sử dụng khá phổ biến hiện nay là: Tài chính là phương thức tạo lập huy động và phân bổ sử dụng các nguồn lực tài chính - - nhằm chuẩn bị cho các chủ thể có khả năng thanh toán, đáp ứng một cách hữu hiệu nhu cầu của các chủ thể trong tồn tại và phát triển, trong các hoạt động kinh tế - xã hội.”
Từ các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra kh i niệm như sau: á Rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh do sự biến động của môi trường bên ngoài và những rủi ro phát sinh từ việc lựa chọn và thực hiện các quyết định tài chính trong DN, làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của DN, xấu nhất sẽ dẫn đến khả năng phá sản DN
Như vậy, khái niệm rủi ro tài chính là một khái niệm “động”, nghĩa là có nhiều mức
độ khác nhau Chỉ một trong các rủi ro (lãi suất, tỷ giá, biến động giá, tín dụng thương mại và đòn bẩy tài chính), hoặc tập hợp các rủi ro đó nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của DN, và nếu đủ lớn sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản của DN Có thể chỉ là mất khả năng thanh khoản tạm thời nhưng cũng có khi kéo dài; và mất khả năng thanh khoản nghiêm trọng sẽ dẫn tới phá sản
2 Phân loại rủi ro tài chính
Hiện nay, chưa có sự thống nhất về phân loại rủi ro tài chính cả ở trong và ngoài nước Theo Santard & Poor, rủi ro tài chính bao gồm 5 rủi ro: rủi ro kế toán
Trang 7Discover more from:
Trang 8(Accounting), rủi ro quản trị tài chính (Financial Governance), rủi ro dòng tiền (Cashflow Adequacy), rủi ro cấu trúc vốn (Capital Structure), rủi ro thanh khoản (Liquidity/Shorterm Factor) Tác giả Karen (2005) coi rủi ro tài chính gồm rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản [57] Trong khi các tác giả khác không đưa
ra phân loại vì đồng nhất rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến nợ vay Ở trong nước, tác giả Nguyễn Minh Kiều cho rằng rủi ro tài chính gồm rủi ro tỷ giá, lãi suất, biến động giá, tín dụng thương mại; PGS.TS Nguyễn Ngọc Trang thì nghiên cứu rủi ro tài chính dưới góc độ kiệt giá tài chính, nghĩa là rủi ro tài chính bao gồm rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và rủi ro biến động giá
Theo cách hiểu của tác giả, như đã trình bày ở phần khái niệm, rủi ro thanh khoản
sẽ là biểu hiện của các rủi ro khác Giả sử DN gặp rủi ro không trả được nợ vay (như CTCP Thuỷ sản Bình An), hoặc rủi ro tín dụng thương mại (như CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Cadovimex) hoặc rủi ro lãi suất (như CTCT Taxi Mai Linh hoặc CTCP Tập đoàn Thái Hoà) hoặc tổng hợp các rủi ro này nếu đủ lớn, sẽ dẫn tới rủi ro thanh khoản Mất khả năng thanh khoản kéo dài đã khiến Cadovimex huỷ niêm yết trên HOSE năm 2011 còn Tập đoàn Thái Hoà cũng thua lỗ liên tiếp, suýt rơi vào tình trạng phá sản
Ngay Luật Phá sản của Việt Nam ban hành ngày 19/6/2014 cũng ghi rõ: “Phá sản là
tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Do vậy, trong bài viết này không xếp rủi ro thanh khoản cùng nhóm với rủi ro lãi suất, tỷ giá, biến động giá, tín dụng thương mại và không trả được nợ vay mà đặt rủi ro thanh khoản ở cấp độ cao hơn, chỉ sau rủi ro phá sản Bởi vậy, thông qua việc tổng quan các quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh
tế thì rủi ro tài chính bao gồm:
a Theo nguồn gốc phát sinh:
Có hai loại, rủi ro tài chính do nhân tố ngoại sinh (khách quan - bên ngoài) và rủi ro do nhân tố nội sinh (chủ quan nội bộ) Rủi ro tài chính do nhân tố ngoại sinh là - trạng thái bất thường gây ra những tổn thất trong hoạt động tài chính của DN do sự thay đổi của các biến số như lạm phát và giá cả hàng hóa, lãi suất tín dụng, tỷ giá hối đoái… Rủi ro tài chính do nhân tố nội sinh là trạng thái bất thường gây ra trong hoạt động tài chính của DN liên quan đến các nhân tố chủ quan như cơ cấu nguồn vốn, năng lực hoạt động, khả năng sinh lời,…
38115147-Khoiluongva Gia
8
Trang 96
Rủi ro tỷ giá: là rủi ro phát sinh khi việc thanh toán được thực hiện bằng một loại ngoại tệ mà tỷ giá của ngoại tệ đó biến động gây tổn thất cho một trong các bên tham gia thanh toán, làm sụt giảm giá trị kỳ vọng của các bên (Glaum, 2000, p.375; Armeanu
& Bãlu, 2007, p.65) Rủi ro tài chính bao hàm cả việc sụt giảm doanh thu trong tương lai do sụt giảm tỷ giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ và làm ảnh hưởng khả năng cạnh tranh của DN (Nassauer & Pausenberger, 2000, p.271)
Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro do sự biến động của lãi suất gây ra Loại rủi ro này phát sinh trong mối quan hệ tín dụng của DN với các tổ chức tín dụng Lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí lãi vay của các khoản nợ; do đó, sẽ làm giảm thu nhập của DN và trong nhiều trường hợp có thể dẫn tới tình trạng khánh kiệt tài chính Một hợp đồng vay nợ với lãi suất cố định cũng dẫn tới rủi ro lãi suất Khi lãi suất thị trường giảm sút thì những hợp đồng này vẫn phải gánh chịu mức lãi suất cao (Dhanini et al., 2007, p 74) Do đó,
có thể tổng kết rằng, DN càng sử dụng nhiều nợ, đặc biệt là sử dụng nhiều nợ ngắn hạn với các mức lãi suất khác nhau thì càng chịu nhiều ảnh hưởng của rủi ro lãi suất (Dhanini
et al., 2007, p.71)
Rủi ro biến động giá: Đối với các DN có các giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợp đồng cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa có thể sẽ là một rủi ro lớn Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày (Stroeder, 2008, p.219) Biến động giá có thể chiều hướng tăng hoặc giảm, từ đó làm giảm (đôi khi tăng) lợi nhuận của DN (Eckbo, 2008, p.544) Đối với đa số DN sản xuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi sản xuất, khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn; đồng thời gây áp lực lên thanh khoản của DN
Rủi ro biến động giá còn tạo ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến DN ở khía cạnh giá nguyên vật liệu đầu vào thay đổi Khi nguyên vật liệu tăng quá nhanh trong khi giá bán không thể tăng hoặc tăng chậm hơn mức tăng của nguyên liệu thì DN sẽ có nguy cơ thua lỗ, không thu hồi được vốn
Rủi ro tín dụng thương mại: là rủi ro phát sinh trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ của nhau, nhưng bên thụ hưởng khoản tín dụng thất bại trong việc sử dụng nguồn vốn tín dụng, không hoàn trả được nợ cho bên cấp tín dụng
Trang 10Khái niệm rủi ro tín dụng thương mại khác với rủi ro tín dụng ngân hàng Chủ thể tham gia trong tín dụng thương mại là các DN và đối tượng vay mượn là hàng hóa hoặc dịch vụ; trong khi đó, chủ thể tham gia tín dụng ngân hàng sẽ gồm có một bên là DN
và một bên là ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác và đối tượng vay mượn ở đây là tiền Một điểm khác nữa trong tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng là lãi suất phải trả trong quan hệ vay mượn Bên thụ hưởng trong tín dụng thương mại thông thường không phải trả lãi trong một khoảng thời gian nhất định ghi trên hợp đồng, chỉ khi nào DN thụ hưởng không trả được tiền vượt quá số ngày quy định thì mới phải chịu lãi suất phạt Tuy nhiên, trong tín dụng ngân hàng thì DN vay vốn phải trả lãi như một điều kiện bắt buộc
Rủi ro đòn bẩy tài chính: Đây là rủi ro phát sinh do DN sử dụng nguồn vốn nợ để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong DN, công cụ đòn bẩy tài chính được sử dụng rất phổ biến Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hay nhu cầu mở rộng đầu tư, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, các DN có thể tiếp cận vốn vay nợ như phát hành trái phiếu hoặc vay từ ngân hàng Khi DN kinh doanh thuận lợi thì sử dụng đòn bẩy tài chính có tác dụng khuếch đại lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) lên nhiều lần Tuy nhiên, nếu một giai đoạn nào đó, DN không đạt được mức lợi nhuận như kỳ vọng, thậm chí kinh doanh thua lỗ thì chi phí lãi vay và nợ gốc trở thành gánh nặng Các DN bất động sản Việt Nam giai đoạn vừa qua là điển hình cho rủi ro đòn bẩy tài chính khi mà nhiều DN có cơ cấu nợ vay lên tới 70-80% tổng nguồn vốn
Rủi ro phi hệ thống là những rủi ro chỉ tác động đến một hoặc một số DN Các rủi
ro tài chính thuộc nhóm này gồm có: rủi ro đòn bẩy tài chính, rủi ro tín dụng thương mại, rủi ro đầu tư ngoài ngành Các rủi ro này có thể được giảm thiểu bằng cách đa
Trang 118
dạng hoá Chẳng hạn, các DN lựa chọn cơ cấu vốn phù hợp để tránh gánh nặng lãi vay, đồng thời tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế Do đó, không có một cơ cấu vốn chung nào cho mọi DN, thậm chí, DN trong cùng một ngành cũng không có cơ cấu vốn giống nhau do ảnh hưởng của quy mô, đặc điểm, trình độ quản lý và tiềm lực tài chính sẵn có của DN
3 Tác động của rủi ro tài chính tới doanh nghi ệp
3.1 Tác động đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
Rủi ro tài chính, một khi xảy ra thường tác động trực tiếp đến doanh thu, chi phí, từ
đó tác động đến lợi nhuận ròng của DN Chẳng hạn, biến động trong tỷ giá làm cho doanh thu và chi phí không tương thích khi nhập khẩu hàng nước ngoài để bán hàng trong nước hay ngược lại; hoặc làm thay đổi giá trị DN khi tài sản ở nước ngoài được chuyển đổi sang đồng nội tệ Lãi suất hạ làm giảm chi phí lãi vay phải trả nhưng đồng thời cũng làm giảm khoản thu từ các hoạt động đầu tư Trong trường hợp giá trị khoản thu giảm nhanh hơn chi phí lãi vay phải trả thì DN rõ ràng đã thua lỗ
3.2 Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính và tái đầu tư của doanh nghiệp
Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì quá trình sản xuất kinh doanh của DNphải diễn ra liên tục, năm sau phải cao hơn năm trước Nguồn vốn để DN tái đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh là quỹ khấu hao, lợi nhuận giữ lại từ các năm trước
đó Khi rủi ro tài chính tăng cao không kiểm soát được, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm
đi Do đó, khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, DN sẽ không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp Nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài, DN có thể sẽ "biến mất” trên thị trường Với những DN đang thực hiện các dự án đầu tư rủi ro tài chính có thể làm cho dự án đầu tư phải dừng lại thậm chí là "nằm chờ vĩnh viễn" do tổng mức đầu tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại…
3.3 Tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Rất rõ ràng, một DN chịu tổn thất lớn từ các rủi ro tài chính phát sinh sẽ suy giảm
về năng lực cạnh tranh Nếu một DN chịu sự tác động của rủi ro tỷ giá dẫn đến tổn thất ngoại hối thì DN sẽ phải tìm cách nâng giá bán sản phẩm để trang trải tổn thất Khi đồng nội tệ tăng giá, một DN thuần túy kinh doanh trong nước vẫn bị tác động bởi tỷ giá do
sự xuất hiện của các DN nước ngoài có chi nhánh trong nước nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về tiêu thụ trong nước Như vậy giá cả hàng hóa cùng loại ở nước ngoài bây
Trang 12giờ rẻ tương đối so với hàng hóa trong nước Do đó giá sản phẩm của DN sẽ không hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của DN sẽ bị giảm
3.4 Tác động đến cân đối dòng tiền và khả năng thanh toán của DN
Các luồng tiền vào DN (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi DN (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục Trên thực tế, tại những thời điểm nhất định có thể xảy
ra hiện tượng lượng tiền vào DN nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi DN Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xảy ra Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của DN quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v… làm cho DN mất khả năng thanh khoản Khi mất cân đối tạm thời chuyển thành mất cân đối dài hạn, DN sẽ bị phá sản
3.5 Tác động đến giá trị DN
Mục tiêu lớn nhất của DN là tối đa hoá giá trị Nếu rủi ro tài chính xảy ra với mức
độ nghiêm trọng sẽ gây tổn thất cho DN và làm lợi nhuận sụt giảm Nhà đầu tư sẽ đánh giá thấp giá trị cổ phiếu trên thị trường và hiển nhiên, giá trị DN sẽ sụt giảm Trong trường hợp rủi ro từ đòn bẩy tài chính, DN không những không tận dụng được lá chắn thuế để làm tăng giá trị mà còn rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, thậm chí phá sản
II Một số rủi ro tài chính trong thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi cổ phiếu hoặc trái phiếu giữa các nhà đầu tư và thông qua môi giới là các công ty chứng khoán Thị trường chứng khoán có thể bao gồm các loại cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán hoặc các loại cổ phiếu giao dịch không công khai như chia cổ phần thông qua việc gọi vốn cộng đồng
Thị trường chứng khoán được quản lý bởi các cơ quan, tổ chức bao gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC), Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh (HoSE) cùng