Là một thành viên trong gia đình em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì trước những biến đổi đó để gia đình mình thực sự là một tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc và sự hài hòa trong
Trang 11
Trường Đại học Kinh tế Qu ốc Dân
…oOo…
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: CH Ủ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề 4: Phân tích những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay Là một thành viên trong gia đình em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì trước những biến đổi đó để gia đình mình thực sự là một tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc và sự hài hòa trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên.
Giảng viên : Nguyễn Thị Hào
Sinh viên : Dương Quỳnh Chi
Mã sinh viên : 11220960
Lớp học phần : Digital Marketing 64C
Hà Nộ – 04/2023 i
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ……… ……… 3
PHẦN 1: LÝ THUYẾT……… ……… 4
1.1 Một số định nghĩa về gia đình……… 4
1.2 Ch ức năng cơ bản của gia đình……… 5
1.3 Vị trí của gia đình trong xã hội……… 6
PHẦN 2: TH ỰC TIỄN NHỮNG BIẾN ĐỔ TRONG GIA ĐÌNH VIỆ I T NAM TH ỜI NAY……… 6
2.1 Gia đình Việt Nam xưa và nay……… ………
2.1.1 ến đổi về quy mô, kết cấu gia đình……… Bi
2.1.2 ến đổi trong ực hiện các ức năng của gia đình Bi th ch 2.1.3 Biến đổi trong các mối quan hệ gia đình 2.2 Các vấn đề tồn đọ và giải pháp……… ng 2.2.1 Vấn đề tồn đọng trong gia đình ………
2.2.2 Giải pháp ………
PHẦN 3: LIÊN HỆ BẢN THÂN………
KẾT LUẬN……… TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 31
MỞ ĐẦU
Trước tác động của bối cảnh mới hiện nay, các gia đình Việt Nam đề đang có u những biến đổi đáng được chú tâm, đánh giá, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc Gia đình không chỉ là hạt nhân của xã hội mà còn là mắt xích vững chắc củng cố thêm vào sự phát triển của xã hội, giúp chất lượng xã hội ngày càng đi lên
Gia đình cũng đồng thời là môi trường gắn bó với đa số các cá nhân từ khi sinh ra, mỗi cá nhân đều có cho mình cơ hội ực tiếp tham gia vào quá trình tạo lập, xây trdựng gia đình Mỗi một gia đình đều liên quan mật thiết tới nhiều lĩnh vực quan trọng trong xã hội phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động Do đó, gia đình là vấn
đề ọng yếu mà mọi dân tộc dù cho sống trong bất kỳ ời đạ nào đều dành cho tr th i
Em xin cả ơn! m
Trang 4và trách nhiệm về tài sản, về người thân Mọi người cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là phát triển kinh tế, nuôi dưỡng các thành viên và xây dựng gia đình bền chặt
Hầu hết các hình thức gia đình ện nay là mối quan hệ hôn nhân hi và huyết thống Tuy nhiên, cũng đồng thời xuất hiện và phát triển thêm những hình thức gia đình khác không theo hai mối quan hệ trên: gia đình nhận con nuôi; gia đình thiếu vắng (trong gia đình chỉ có bố, hoặc mẹ với con cái) – hay theo cách nói quen thuộc hơn là gia đình có bố/mẹ đơn thân; ở một số nước Phương Tây còn ấp nhận về chmặt pháp lý hình thức gia đình đồng tính luyến ái
1.2 Chức năng cơ bản của gia đình
- Chức năng tái sản xuất ra con người: là chức năng đặc thù nhất của gia đình Chức năng này được thực hiện để đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý tự nhiên của con người, nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình, đồng thời giúp cung cấp nguồn nhân lực mới cho xã hội, từ đó duy trì sự trường tồn của xã hội loài ngườ i Việc thực hiện chức năng này như thế nào sẽ có tác động trực tiếp đến sự phát triển dân số của quốc gia về các lĩnh vực như mật độ dân cư, dân số và chất lượng dân
số của quốc gia Vì vậy, đây không còn là vấn đề riêng của từng gia đình mà lớn hơn là vấn đề quan trọng của mỗi đất nước và trên toàn nhân loại
- Chức năng kinh tế và tổ ức đời sống gia đình: ch Gia đình vừa là đơn vị kinh doanh, vừa là đơn vị tiêu dùng trong xã hội Gia đình trực tiếp góp phần vào hoạt động sản xuất, tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tiêu dùng Đây là chức năng
Trang 51
nhằm đảm bảo nguồn sống, đáp ứng các nhu cầu đời vật chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình Ngoài ra, thực hiện tốt ức năng này cũng góp phầch n phát triển nền kinh tế đất nước ngày một vững mạnh
- Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình: Đây là một chức năng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của từng thành viên trong gia đình và cả xã hội Chức năng này bao gồm quá trình nuôi ỡng và giáo dục con người trưởng thành về dưmọi mặt thể chất lẫn tinh thần Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và lâu dài nhất trong cuộc đời của mỗi người, mang tính quyết định Thực hiện tốt chức năng này sẽ giúp tạo ra thế hệ con người có ích cho gia đình và cho xã hội, cũng như tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậ đây vừa là trách nhiệm cũng y,
là nghĩa vụ của gia đình đối với sự phát triển của xã hộ Nội dung của giáo dụi c gia đình toàn diện sẽ bao gồm các mặt: giáo dục tri thức, giáo dục lao động, giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống, nhân cách, ý thức cộng đồng Phương pháp giáo dục trong các gia đình thườ ủ yếu là nêu gương và thuyết ng ch phục
- Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm của gia đình: Chức năng này làm cho gia đình trở thành hệ nơi bảo trợ tốt và an toàn nhất cho con người về mặt vật chất và tinh thần Chỉ khi với gia đình thì những nhu cầu tình cảm, suy nghĩ, khát vọng tâm - sinh lý của cá nhân mới được bộc lộ, chia sẻ một cách thoải mái nhất Thực hiện tốt chức năng này giúp gia đình trở thành tổ ấm, nơi dựa vào vững chắc nhất của mỗi ngườ i
Nói chung, gia đình có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển
cá nhân và xã hội Chỉ khi đồng thời thực hiện tốt các chức năng trên thì 1.3 Vị trí của gia đình trong xã hội
- Gia đình là tế bào của xã hội: Gia đình là được ví như một tế bào của xã hội, là
cơ sở đầu tiên của xã hội Gia đình là yếu tố quyết định đến sự hình thành, tồn tại, vận động và phát triển của xã hội Vớ ục tiêu có một xã hội phát triển lành immạnh thì điều kiện tiên quyết là mỗi tế bào –gia đình – ải phát triển bền vữph ng
và sinh sống hạnh phúc Có thể nói, giữa gia đình và xã hội có mối quan hệ gắn
bó khăng khít, hai bên thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển Tiền đề cho các gia đình phát triển lành mạnh chính là xã hội tốt đẹp, văn minh,tiến bộ Gia đình hạnh phúc, đầ ấm sẽ có những tác động tích cực tới xã hội, giúp xãhội càng thêm m phát triển Bản chất của chế độ xã hội cùng đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền sẽ tác động đến tầm ảnh hưởng của gia đình đối với xã hội Do đó,với từng giai đoạn lịch sử thì tác động của gia đình là không giống nhau
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội quyết định sự phát triển của gia đình: Trong từng thời đại, các phương thức sản xuất phát triển theo các hướng khác nhau, từ
đó làm thay đổi hình thức, quy mô, kết cấu cũng như tính chất của gia đình Có
Trang 6thể ấy trong chế độ công xã hội nguyên thủy, chế độ chiếm hữu tư nhân chưa thxuất hiện,tồn tại hình thức gia đình tập – quần hôn với hình thức huyết thống, đối ngẫu, cặp đôi Khi chế độ chiếm hữu tư nhân xuất hiện và phát triển, xã hội xuất hiện tình trạng gia đình một vợ - một chồng bất bình đẳng Ngày nay, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, gia đình một vợ - một chồng trở nên bình đẳng hơn
- Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hộ i: Mỗi thành viên trong gia đình cũng
là một thành viên của xã hội Một trong những cộng đồng để xã hội tác động đến
cá nhân chính là gia đình Mỗi cá nhân muốn hoà nhập và phát triển trong xã hội đều phải qua chiếc cầu trung gian gia đình Gia đình chính là cộng đồng xã hội đầu tiên thỏa mãn các nhu cầu quan hệ xã hội của cá nhân, cũng là môi trường đầu tiên nơi cá nhân học và thực hiện những quan hệ xã hội Cá nhân đến với xã hội và xã hội tiếp cận cá nhân đều thông qua trung gian là gia đình
- Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống của mỗi cá nhân: Gia đình là tổ ấm yêu thương của mỗi con người, mà ở đó các thành viên nuôi dưỡng,chăm sóc, sẻ chia tình yêu thương, nhận được sự nuôi dưỡng và chăm sóc về cả mặt vật chất và tinh thần Gia đình tạo cho cá nhân môi trường tốt nhất để mỗi cá nhân ợc yêu thương, chăm sóc, trường thành và phát đưtriển Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người được xây dựng trên tiền đề, điều ện thiết yếu đó là sự yên ổki n, hạnh phúc của gia đình
Trang 7Discover more from:
CNXH 2022
Tiểu luận cnxh - NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
Đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và sự vận dụng của Đảng ta…
Vấn đề dân chủ - bài tập cá nhân môn chủ nghĩa xã hội khoa học
So sánh tôn giáo ở một nước tư bản với tôn giáo ở Việt Nam
So sánh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tbcn
Document continues below
Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 8đã có sự ến đổi tương đối toàn diện, về quy mô, kết cấu, các chức năng cũng binhư quan hệ gia đình
2.1 Gia đình Việt Nam xưa và nay
Tương tự như bất kì tộc người hay dân tộc nào trên thế giới, người Việt từ thời xa xưa đã chung sống thành gia đình Cấu trúc gia đình theo kiểu truyền thống của người Việt gồm những thành viên chung sống trong một mái nhà, có quan hệ hôn nhân và huyết thống, mang đậm bản sắc dân tộc có những giá trị nhân văn vàriêng biệt Trong vài thập niên trở lại đây, hôn nhân và gia đình Việt Nam đã chứng kiến những biến chuyển quan trọng, từ ểu mẫu gia đình truyền thốki ng sang kiểu gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn Mẫu hình gia đình xưa và gia đình nay đã có nhiều thay đổi đáng kể
2.1.1 Biến đổi về quy mô, kết cấu gia đình
Đầu tiên, sự thay đổi dễ dàng để ta nhận thấy nhất đó chính là quy mô của một gia đình Việt Nam trong khoảng thời gian gần đây có xu hướng thu nhỏ đi đáng
kể so với ngày xưa Trong khi thời xưa người Việt ta thường sinh sống thành một đại gia đình trải dài từ ba đến năm thế hệ dưới một mái nhà “Tứ đại đồng đường”
là hiện tượng hết sức bình thường trong những ngày đó Tuy nhiên giờ đây, các
hộ gia đình hiện đại có xu hướng lựa chọn tách ra ở riêng, trong gia đình sẽ ỉ ch
có từ một tới hai thế hệ cùng sống và phát triền
Dựa theo kết quả các cuộc tổng điều tra dân số trong vòng hơn 20 năm qua qui ,
mô gia đình Việt Nam đã liên tục giảm: từ 5,22 người/hộ gia đình (năm 1979) xuống còn 4,88 người/hộ (năm 1989) và 4,6 người/hộ (năm 1999) Đồng bằng sông Hồng có qui mô gia đình thấp nhấ tương đương 4,1 t người/hộ gia đình, cứ
ba hộ thì có đến hai hộ có từ 1 đến 4 người Cao nhất là 5,2 người ở vùng cao Tây Bắc và tiếp nối là Tây Nguyên với quy mô 5 người/hộ gia đình Theo sau lần lượt là khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long 4,8 người Vùng Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ là 4,6 người Tổng kết lại,
Tiểu luận CNXHKH - sứ mệnh giai cấp công nhân và vận dụng của bản thân
23
Trang 91
có thể ấy trên ạm vi cả ớc, số hộ từ 1 đến 4 người chiếm trên một nửa (cụ th ph nưthể là 55%)
Gia đình hiện đại Gia đình truyền thống
Nguyên nhân của xu hướng này không chỉ đến từ một mà là sự thay đổi của nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống
- Giảm mức sinh: Trong khi thời xưa các cụ thường có quan điểm nhiều con là nhiều phúc, một cặp vợ ồng có thể có từ năm người con trở lên thì ngày nay, ch
đa số các gia đình sẽ có từ 2 tới 3 người con, thậm chí chỉ có một Ngoài do nhà nước ta đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình, các cặp vợ ồng hiện đại cũng đã thay chđổi quan niệm nuôi dạy con cái sao cho khoa học hơn, đầu tư và tính toán kĩ lưỡng sao cho con mình có cơ hội phát triển toàn diện nhất chứ không còn là “trời sinh voi, trời sinh cỏ” như xã hội Việt Nam xưa
- Tăng ất lượ đời sốch ng ng: Với sự phát triển kinh tế và xã hội, đời sống của người dân đã được đổi mới và cải thiện, dẫn đến sự dạng và bùng nổ của các đanhu cầu cá nhân Nhiều người dân Việt Nam hiện tại có nhu cầu sống độc lập, tìm
kiếm cuộc sống thoải mái và không bị ới hạn bởi quy mô gia đình và nhiều gingười cũng muốn bảo vệ sự riêng tư cho bản thân
- Vấn đề tài chính: Khi quy mô gia đình nhỏ hơn, các chi phí sống trong gia đình
sẽ cũng giảm đi, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi thành viên trong gia đình
- Thay đổi giá trị truyền thống: Truyền thống gia đình Việt Nam vốn có quy mô lớn, với nhiều thế hệ cùng sống chung với nhau Vớ điều kiệi n sống nước ta thời xưa có phầ khó khăn, việc “thoát ly” ra khỏi tổ ấm dường như rất ít, con cái lớn n lên, cưới vợ gả ồng rồi sinh con vẫn cố gắng để ở bên, phụng dưỡng cha mẹch Tuy nhiên, giá trị truyền thống này có thể dần thay đổi khi các thế hệ sau có cho mình nhiều cơ hội phát triển hơn, có nhu cầu tìm kiếm sự độc lập, tự ủ tậch và n hưởng cuộc sống theo cách riêng của mình
Trang 10- Đô thị hóa: Những thành phố ngày càng phát triển và mở rộng, với sự bùng nổ của các khu đô thị mới, khiến cho nhiều người dân phải chuyển đến sống và làm việ tạc i nh ng thành phố mới Do đó, quy mô gia đình có xu hướng thu nhỏ lại, ữchủ yếu để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mỗi thành viên
2.1.2 Biến đổi trong thực hiện các chức năng của gia đình
- Chức năng tái sản xuất ra con người:
Trong xã hội truyền thống, nhu cầu về con cái của gia đình thể ện trên các hiphương diện như càng đông con, nhiều cháu càng tốt và nhất thiết phải có con trai để nối dõi tông đườ Gánh nặng sinh nở do đó cũng đè nặng lên vai ngường i phụ nữ khi sự bền chặt của gia đình bị đánh giá theo yếu tố trên
Hiện nay, nhu cầu đông con trong các gia đình đã giảm, đặc biệt một số gia đình không còn coi trọng việc nhất thiết phả sinh con trai ờ vào sự phát triển củi nh a dân trí, đề cao sự bình đẳng giới trong các mối quan hệ xã hội và trong gia đình Nhiều biện pháp tránh thai khoa học và hiệu quả cũng được giới y khoa đưa ra để các gia đình có thể sinh đẻ có kế ạch hơn, đảm bảo chất lượng đời sống cho hochính mình và con trẻ
- Chức năng kinh tế và tổ ức tiêu dùng của gia đình: ch
Nếu gia đình Việt nam truyền thống là một đơn vị kinh tế khép kín thì gia đình
nước ta ện nay ở thành một đơn vị sản xuất hàng hoá, từ đơn vị kinh tế sảhi tr n xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước dần chuyển thành tổ chức kinh
tế đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu Các gia đình Việt Nam cũng là một
bộ phận tiêu dùng quan trọng khi tiến tới xu hướng “tiêu dùng sản phẩm do người khác sản xuất”
- Chức năng giáo dục con cái, chăm sóc các thành viên trong gia đình:
Tầm quan trọng của giáo dục con cái: Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của giáo dục con cái đang được nhìn nhận và đánh giá cao hơn trong xã hội Việt Nam Nhiều phụ huynh đã nhận ra rằng giáo dục là chìa khóa để cải thiện cuộc sống của con cái và giúp chúng phát triển năng lực trong tương lai Có thể kể đến ngay từ thời điểm con còn nhỏ, nhiều phụ huynh hiện đại có điều kiện kinh tế sẵn sàng cho con học và trải nghiệm tại các trường mầm non ế hệ mới, có nhiềth u phương pháp dạy khoa họ Trái ngược lại so với thời nay, người Việt Nam truyềc n thống đa số có tư tưởng để con “tự sinh tự diệt” Các gia đình truyền thống thường chú trọng dạy con đạo đức và nhân cách nhưng không có nhiều ý niệm đầu tư cho con các kỹ năng, chuyên môn cần có Một phần do các gia đình thời đó kinh tế khó khăn nhưng vẫn bất chấp sinh nhiều con, một phần do hệ tư tưởng cũ tồn đọng
Trang 111
Những thói quen mới trong chăm sóc gia đình: Với sự ến bộ về khoa học kỹ tithuật, nhưng cũng có thể là do tác động của quan điểm phương Tây, nhiều gia đình ở ệt Nam đã áp dụng các phương pháp chăm sóc gia đình mới, bao gồVi m chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc tinh thần, và chăm sóc giáo dục, thay vì chỉ tập trung vào cung cấp những nhu cầu vật chất và tài chính cho gia đình Ta có thể nhận thấy rõ các bệnh lý liên quan tới tâm lý dần được người Việt ta quan tâm và chú tâm hơn, từ đó nhiều gia đình thay vì “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” như xưa thì đã có nhận ức rõ ràng hơn về mong muốn của con trẻ Thế hệ ẻ trong gia th trđình từ đó cũng có thể dễ dàng chia sẻ và có mối liên kết chặt chẽ với gia đình hơn
Sự thay đổi của giới trẻ: Những người trẻ đã có những góc nhìn mới về việc giáo dục con cái và chăm sóc gia đình Họ có xu hướng tìm kiếm các giá trị cá nhân
và sự độc lập riêng để phát triển bản thân trong một nhịp sống hiện đại, điều này
đã dẫn đến sự gia tăng của việc sống độc lập, thiếu người giúp việc và phụ thuộc nhiều vào dịch vụ ngoài Các thế hệ trước trong gia đình theo thời gian đã biết cách tôn trọng và lắng nghe quan điểm của con cháu thay vì áp đặt quan điểm của bản thân và ép chúng nghe theo
- Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm
Gia đình hiện đại đã dần có nhận thức rõ ràng hơn về vai trò của gia đình trong việc làm đòn bẩy cho các thành viên phát triển khỏe mạnh ở cả hai mặt tâm sinh
lý và thể ất Với sự phát triển của kinh tế và công nghệ, nhu cầu về công việch c tăng lên, khiến cho nhiều người bận rộn với công việc và có ít thời gian dành cho gia đình hơn trong quá khứ
Trong khi ở thời điểm trước đây, vai trò của gia đình mang tính chất bị ràng buộc bởi trách nhiệm, quan điểm về giới tính và vai trò của hai giới trong gia đình từng
bị ảnh hưởng sai lệch do nhiều định kiến Điều này dẫn đến trong quá khứ các thành viên trong gia đình chưa có sự tôn trọng thật sự về đời sống, suy nghĩ và bản chất của nhau, chưa thực sự là một môi trường lành mạnh để mỗi cá nhân có
cơ hội là chính mình
2.1.3 Biến đổi trong các mối quan hệ gia đình
- Quan hệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng
Thời đại này, người trẻ có xu hướng xây dựng một cuộc sống độc lập Các cá nhân có xu hướng ổn định tài chính của bản thân trước khi lập gia đình Thực tế
số liệu Tổng Điều tra Dân số nhà ở 2019 cho thấy tuổi kết hôn lần đầu của dân số Việt Nam khá trẻ (25,2 tuổi), trong đó, dân số nông thôn kết hôn sớm hơn đô thị,