Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du Phương thức biểu đạt thời gian trong truyện kiều của nguyễn du
Lịch sử vấn đề
Từ những năm 60 của thế kỉ XX đến nay, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện về Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện Một số tác phẩm tiêu biểu bao gồm “Những sáng tạo của Nguyễn Du qua việc so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân” của Lê Hoài Nam (1964), “Đọc lại Truyện Kiều” của Vũ Hạnh (1966), và “Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du” của Lê Đình.
Truyện Kiều, tác phẩm nổi bật của Nguyễn Du, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều học giả trong và ngoài nước Các công trình như "Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm" của Đặng Thanh Lê (1970) và "Tiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du trong sự so sánh với Kim Vân Kiều truyện" của La Sơn Nguyễn Hữu Sơn (1990) đã mở ra hướng nghiên cứu mới, nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai tác phẩm Hầu hết các nghiên cứu trước năm 1990 đều mang tính chất ngợi ca hoặc so sánh một chiều, chưa khai thác sâu sắc các khía cạnh văn bản La Sơn Nguyễn Hữu Sơn đã chỉ ra rằng sự khác biệt giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện không đáng kể, nhưng cần nghiên cứu sâu hơn về văn bản để hiểu rõ giá trị và sự sáng tạo của Nguyễn Du, đặc biệt là trong việc chuyển hóa từ tiểu thuyết chương hồi sang thi ca, nhấn mạnh yếu tố tâm lý và tâm trạng, qua đó phản ánh tâm hồn dân tộc.
Nhận xét của Nguyễn Hữu Sơn về Truyện Kiều cho thấy sự mới mẻ trong cách tiếp cận Năm 1991, Phạm Đan Quế đã xuất bản cuốn Truyện Kiều đối chiếu, cho phép độc giả tự đánh giá sự tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm, từ đó làm nổi bật phong cách viết của các tác giả Từ năm 1999 trở đi, Trần Đình Sử đã có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều, tập trung vào giá trị nghệ thuật nội sinh của tác phẩm và tư duy sáng tác của Nguyễn Du Trong Thi pháp Truyện Kiều, ông chứng minh rằng tác phẩm này kế thừa và phát triển từ các lối kể chuyện trước đó, đồng thời phân tích các yếu tố như không gian, thời gian nghệ thuật và cách nhìn nhận con người, qua đó làm nổi bật sự khác biệt trong mô hình tự sự của Truyện Kiều so với Kim Vân Kiều truyện.
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu, thống kê đặc điểm thời gian trong truyện Kiều củaNguyễn Du, từ đó làm rõ các giá trị biểu đạt thời gian trong truyện.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp thống kê – phân loại
- Một số thao tác thuộc thi pháp học.
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được triển khai với ba chương: Chương1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm thời gian trong Truyện Kiều
Chương 3: Giá trị biểu thị thời gian trong Truyện Kiều
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chỉ xuất định vị thời gian trong tiếng việt
Chỉ xuất là phương thức giao tiếp sử dụng hành động chỉ trỏ để diễn đạt ý nghĩa Quy tắc chính của chỉ trỏ là đối tượng được chỉ phải nằm gần trong tầm với và tầm nhìn của cả người chỉ và người được chỉ, với cơ thể của người chỉ làm mốc tham chiếu Điều này giúp giải thích cách thức chiếu vật bằng chỉ xuất trong ngôn ngữ.
Tất cả các ngôn ngữ đều có hệ thống từ chuyên để chỉ xuất vật, bao gồm các từ loại như đại từ, tính từ và trạng từ Các tổ hợp từ chỉ xuất tạo thành những biểu thức chỉ xuất rõ ràng.
Chỉ xuất thời gian là phương thức xác định sự vật theo vị trí của nó trong thời gian, bao gồm hai loại: chủ quan và khách quan Định vị thời gian chủ quan dựa vào thời điểm nói làm điểm gốc, với các mốc như hiện tại, quá khứ và tương lai Tiếng Việt sử dụng nhiều từ để chỉ thời gian như hôm nay, hôm qua, tháng trước, và năm ngoái, tất cả đều xoay quanh điểm gốc là "bây giờ" Thời gian này có thể linh hoạt, không bị định nghĩa chặt chẽ như không gian Thời điểm "bây giờ" có thể dài hay ngắn, tùy thuộc vào ngữ cảnh, và các biểu thức như "tháng này" hay "ngày này" thường bao hàm thời gian điểm gốc Ngược lại, chỉ xuất thời gian khách quan không dựa vào điểm gốc cá nhân mà xác định thời gian một cách độc lập.
Chỉ xuất khách quan là việc xác định một thời điểm trong diễn tiến của sự kiện làm điểm gốc, khác với chỉ xuất chủ quan mà lấy cá nhân làm trung tâm Trong chỉ xuất thời gian, cần phân biệt giữa thời gian chính của sự kiện (thời gian lịch sử) và thời gian tự sự, cũng như thời gian của sự trần thuật hay thời gian phát ngôn.
Sự kiện và câu chuyện trong thực tế diễn ra theo một trật tự tuyến tính không thể thay đổi Tuy nhiên, khi người kể lại, họ có thể sắp xếp các sự kiện theo một thứ tự khác để tạo nên một câu chuyện hấp dẫn hơn.
Thời gian của sự kiện được tổ chức lại thành thời gian của truyện hay là thời gian tự sự
Còn thời gian phát ngôn là thời gian ngay khi người kể thực hiện việc kể cho người đọc biết về sự việc.
Thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật trong văn học là yếu tố nội tại quan trọng, thể hiện cấu trúc tổng thể của hình tượng nghệ thuật Phạm trù thi pháp này ngày càng trở nên thiết yếu, vì con người chỉ có thể cảm nhận thế giới qua thời gian và trong thời gian.
Mỗi thể loại văn học có phương thức thể hiện riêng, dẫn đến kiểu thời gian nghệ thuật đặc trưng Phạm trù thời gian nghệ thuật là cơ sở quan trọng để phân tích cấu trúc nội tại của hình tượng văn học và nghiên cứu các loại hình tượng nghệ thuật trong lịch sử.
Văn học phản ánh đời sống qua thời gian, được coi là phương tiện nghệ thuật thể hiện cảm xúc và tư tưởng của người nghệ sĩ Thời gian nghệ thuật liên kết với ý thức về ý nghĩa cuộc sống, quan niệm về thế giới, ước mơ, lý tưởng và khả năng hành động của con người Nó còn gắn liền với cảm nhận tâm lý, mang ý nghĩa thẩm mỹ và có tính chất chủ quan.
Mỗi thể loại và thời đại văn học đều có những kiểu thời gian riêng, và các nhà văn thường xử lý, xây dựng thời gian theo cách độc đáo của mình, từ đó tạo nên cá tính riêng biệt trong tác phẩm.
Giới thiệu tác giả, tác phẩm
1.3.1 Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du a Vài nét về tiểu sử cuộc đời
Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như và hiệu là Thanh Hiên, sinh ra tại kinh thành Thăng Long (Hà Nội) Ông là con trai của Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, một quan chức có chức vụ Tham tụng (Tể tướng) dưới triều Lê, và mẹ là bà Trần Thị Tần, quê ở Kinh Bắc – Bắc Ninh Nguyễn Du lớn lên trong một gia đình quý tộc, có thế lực lớn vào thời điểm đó.
Nguyễn Du, trong thời thơ ấu, đã sống trong sự sung túc, nhưng niềm hạnh phúc này chỉ kéo dài chưa đầy mười năm Khi mới 10 tuổi, ông đã mất cha, và đến năm 13 tuổi, ông lại mồ côi mẹ Sau đó, ông cùng các anh em ruột phải chuyển đến sống với người anh cả khác mẹ, Nguyễn Khản, người hơn ông 31 tuổi.
Năm 1780, khi Nguyễn Du 15 tuổi, xảy ra vụ mật án Canh Tý, khi Chúa Trịnh Sâm lập con thứ Trịnh Cán làm thế tử thay cho con trưởng Trịnh Tông Ông Khản, người ủng hộ Trịnh Tông, bị giam khi sự việc bị bại lộ Sau khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng Tuy nhiên, quân lính khác phe không phục và đã kéo đến phá nhà, buộc ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em Nguyễn Điều trước khi trở về quê ở Hà Tĩnh Từ đó, anh em Nguyễn Du phải nương nhờ ông Khản nhưng mỗi người lại chọn một ngã riêng.
Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), nhưng sau đó không tiếp tục thi cử Trước đó, một võ quan họ Hà ở Thái Nguyên đã nhận ông làm con nuôi do không có con Khi người cha nuôi qua đời, Nguyễn Du được bổ nhiệm một chức quan võ nhỏ tại Thái Nguyên.
Năm 1786 , Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà
Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn, đã dẫn quân ra Bắc đánh bại quân Thanh xâm lược Nguyễn Du, theo vua Lê Chiêu Thống, không kịp và phải trở về quê vợ ở Quỳnh Côi, Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn Sau vài năm, ông quay về Nghệ An và vào năm 1796, khi nghe tin chúa Nguyễn Ánh đang hoạt động mạnh ở Gia Định, ông dự định tham gia nhưng bị quân Tây Sơn bắt giữ ba tháng Sau khi trở về Tiên Điền, ông sống khó khăn cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi với niên hiệu Gia Long, Nguyễn Du được triệu hồi làm quan cho nhà Nguyễn.
Vào năm 1802, ông bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Tri huyện tại huyện Phù Dung, hiện nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên Đến tháng 11 cùng năm, ông được chuyển sang làm Tri phủ Thường Tín, thuộc Hà Tây, nay là một phần của Hà Nội.
Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau:
Năm 1803 : đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh , Trung Quốc Năm 1805 : thăng hàm Đông Các điện học sĩ.
Năm 1807 : làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.
Năm 1809 : làm Cai bạ dinh Quảng Bình
Năm 1813 : thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.
Sau khi đi sứ về vào năm 1814 , ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ. Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn
Nguyễn Du, được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, đã mất đột ngột vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18 tháng 9 năm 1820) do một trận dịch khủng khiếp, khiến hàng vạn người thiệt mạng Ông được táng tại xã An Ninh, huyện vào năm 1820.
Quảng Điền , tỉnh Thừa Thiên Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh).
Với những đóng góp to lớn của Đại thi hào Nguyễn Du cho văn học Việt Nam và văn hóa nhân loại, vào tháng 12/1964, Hội đồng Hòa bình thế giới đã quyết định tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông (1675-1965) tại Berlin, Đức Sự kiện này thể hiện tầm quan trọng của Nguyễn Du trong việc phát triển văn hóa và văn học.
Đại Hội đồng UNESCO đã chính thức vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới tại phiên họp thứ 37 ở Paris Sự nghiệp của Nguyễn Du không chỉ để lại dấu ấn sâu sắc trong nền văn học Việt Nam mà còn được công nhận rộng rãi trên toàn cầu.
Nguyễn Du là một nhà thơ nổi bật với trình độ học vấn cao, thành thạo nhiều thể loại thơ của Trung Quốc như lục bát, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca và hành Tác phẩm của ông không chỉ thể hiện cảm xúc sâu sắc mà còn để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng nhân loại.
Trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn và chiến tranh, thơ văn của Nguyễn Du đã phản ánh sâu sắc bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến Với ngòi bút sắc bén, ông phơi bày sự bất công và sự chà đạp lên quyền sống của người lao động, từ đó khắc họa rõ nét nỗi khổ của con người trong thời kỳ đó.
Ông đã tạo ra một bức tranh cảm động, thể hiện tình thương và đề cao quyền sống, quyền tự do cùng khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội trọng nam của triều đại đó.
Nguyễn Du là nhà văn đầu tiên trong thời trung đại nhận thức sâu sắc về thân phận của người phụ nữ, những người vừa có sắc đẹp vừa có tài năng nhưng lại phải chịu đựng số phận éo le trong xã hội đầy mưu mô và toan tính.
Dòng văn của ông chủ yếu bao quát về nhân sinh - thế sự, ít có bài nào nói về quốc gia. c Những tác phẩm văn học nổi tiếng:
Nguyễn Du, một nhà thơ vĩ đại, nổi tiếng với tác phẩm Truyện Kiều, được sáng tác dựa trên tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân trong khoảng thời gian từ 1814 đến 1820 khi ông sống tại Trung Quốc Tác phẩm này gồm 3.254 câu thơ được viết theo thể thơ Lục bát, thể hiện sâu sắc tâm tư và số phận của nhân vật.
Năm 1871 và 1872 ở thời vua Tự Đức 2 bản in truyện Kiều được phát hành và được sự đón nhận của cộng đồng nhân dân lúc này.
Hiện nay, tác phẩm Truyện Kiều được xem là một trong những cuốn truyện thơ nổi tiếng và kinh điển nhất trong văn học Việt Nam.
Ngoài ra, ông còn một số tác phẩm để đời như Thanh Hiên thi tập ( tập thở của Thanh Hiên, gồm 78 bài ông viết trong những năm 1786-
1804), Nam Trung tạp ngâm ( ngâm nga lặt vặt lúc ông ở miền Nam gồm
Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị, bao gồm 40 bài thơ và Bắc hành tạp lục với 131 bài, cùng với văn chiêu hồn và văn tế sống Trường Lưu nhị nữ Những tác phẩm này không chỉ xứng đáng với văn học nước ngoài mà còn đặc biệt nổi bật như Truyện Kiều Qua những câu thơ, người đọc ở mọi tầng lớp đều cảm nhận được tình người và sự quan trọng của xã hội đồng tiền và vật chất.
ĐẶC ĐIỂM THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU
Thống kê các câu thơ chỉ thời gian
Để làm rõ đặc điểm thời gian trong Truyện Kiều, tác giả thống kê về những câu thơ có chứa đựng yếu tố chỉ thời gian trong bảng sau:
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Trăm năm trong cõi người ta 1
2 Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh 9
3 Trăm năm biết có duyên gì hay không 182
4 Rằng trăm năm cũng từ đây 355
5 Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương 452
6 Tiết trăm năm lỡ bỏ đi một ngày 510
7 Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai 556
8 Trăm năm để một tấm lòng từ đây 880
9 Trăm năm tính cuộc vuông tròn 1331
10 Nửa năm hơi tiếng vừa quen 1385
11 Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên 1478
12 Mà ta suốt một năm ròng 1487
13 Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy 1516
14 Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau 1518
15 Một màu quan tái bốn mùa gió trăng 1596
16 Cách năm mây bạc xa xa 1599
17 Một năm nữa mới thăm dò được tin 1696
18 Nửa năm hương lửa đương nồng 2213
19 Chầy chăng là một năm sau vội gì 2228
20 Chốc đà mười mấy năm trời 2239
21 Trong năm năm lại gặp nhau đó mà 2404
22 Năm nay là một nữa thì năm năm 2408
23 Năm năm hùng cứ một phương hải tần 2450
24 Năm năm trời bể ngang tàng 2555
25 Mười lăm năm bấy nhiêu lần 2463
26 Mất công mười mấy năm thừa ở đây 2714
27 Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà 2742
28 Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần 2858
29 Sự này đã ngoại mười niên 2887
30 Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên 2923
31 Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm 3020
32 Mười lăm năm Êy biết bao nhiêu tình 3070
33 Mười lăm năm mới bây giời, là đây 3138.
34 Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay 3186
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai 288
2 Tháng tròn như gửi cung mây 327
3 Lâm Tri vừa một tháng tròn tới nơi 920
4 Vừa tuần nguyệt sáng gương trong 1199
5 Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm 1230
6 Lâm Tri đường bộ tháng chầy 1613
7 Lần lần tháng lọn ngày qua 1789
8 Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu 1934
9 Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong 2054
10 Cầm đường ngày tháng thanh nhàn 2875
2.1.1.3 Thời gian mùa a Mùa xuân
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Ngày xuân con én đưa thoi 39
2 Thanh minh trong tiết tháng ba 43
3 Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân 46
4 Rằng sao trong tiết thanh minh 59
5 Thưa hồng rậm lục đã chòng xuân qua 370
6 Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân 1796
7 Cửa thiền vừa cữ cuối xuân 2061
8 Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông 2748 b Mùa hè, mùa đông
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Dưới trăng quyên đã gọi hè 1307
2 Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông 1308
3 Đào đà phai thắm sen vừa nảy xanh 1474
4 Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu 1242 c Mùa thu
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Vi lô san sát hơi may 913
2 Một trời thu để riêng ai một người 914
3 Rừng thu tầng biếc xen hồng 917
4 Sân ngô cành bích đã chen lá vàng 1386
5 Giậu thu vừa nảy giò sương 1387
6 Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san 1520
7 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô 1594
8 Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng 1604
9 Đêm thu gió lọt song đào 1637
10 Sen tàn cóc lại nở hoa 1795
11 Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu 1834
2.1.1.4 Thời gian buổi trong ngày a Buổi sáng
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng 241
2 Tan sương đã thấy bóng người 301
3 Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân 525
4 Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà 560
5 Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi 778
6 Trời hôm mây kéo tối rầm 783
7 Lầu mai vừa rúc còi sương 867
8 Tan sương vừa rạng ngày mai 1083
9 Ban ngày sáp thắp hai bên 1723
10 Tửng bưng trời mới bình minh 1917
11 Trời đông vừa rạng ngàn dâu 2033
12 Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra 2590
13 Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông 3216 b Buổi chiều
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Tà tà bóng ngả về tây 51
2 Một vùng cỏ áy bóng tà 97
3 Bóng chiều đã ngả dặm về còn xa 114
4 Bóng tà nh giục cơn buồn 167
5 Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha 170
6 Mặt trời gác núi chiêng đà thu không 172
7 Gió chiều nh giục cơn sầu 263
8 Buồn trông cửa bể chiều hôm 1047
9 Trời tây bảng lảng bóng vàng 1085 c Buổi tối - đêm – gần sáng
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Gương nga chênh chếch dòm song 173
2 Chênh chênh bóng nguyệt xế mành 185
3 Trông ra ác đã ngậm gương non đoài 426
4 Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình 432
5 Nhặt thưa gương rọi đầu cành 433
6 Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu 434
7 Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần 438
8 Nàng rằng khoảng vắng đêm trường 441
9 Vầng trăng vằng vặc giữa trời 449
10 Ngọn đèn khi tá khi mê 485
11 Một mình nàng ngọn đèn khuya 695
12 Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn 712
13 Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han 714
14 Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh? 717
15 Tiếng gà đâu đã gáy sôi mé tường 866
16 Dặm khuya ngất tạnh mù khơi 915
17 Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành 1092
18 Đêm thâu khắc lậu canh tàn 1119
19 Tiếng gà xao xác gáy mau 1123
20 Ngoài hiên thá đã non đoài ngậm gương 1370
21 Vầng trăng ai sẻ làm đôi 1525
22 Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai 1592
23 Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài 1872
24 Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao
25 Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời 1638
26 Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu 1834
27 Giọt rồng canh đã điểm ba 1865
28 Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh 1884
29 Lần nghe canh đã một phần trống ba 2026
30 Lần đường theo bóng trăng tà về tây 2028
31 Tiếng gà đếm nguyệt dấu giày cầu sương 2030
32 Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau 2068
33 Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao 2602
34 Mảnh trăng đã gác non đoài 2617
35 Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao 3140
36 Canh khuya bức gấm rủ thao 3141
37 Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân 3142
2.1.1.5 Thời gian tuần hoàn trong ngày
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Trải bao thá lặn ác tà 79
2 Lần lần ngày gió đêm trăng 369
3 Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề 727
4 Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Nguyên tiêu 942
5 Bẽ bàng mày sớm đèn khuya 1037
6 Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh 1232
7 Khi tỉnh rượu lúc tàn canh 1233
8 Một ngày một ngả bóng dâu tà tà 1254
9 Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng 1268
10 Lần lần thá bạc ác vàng 1269
11 Sớm đào tối mận lân la 1289
12 Khi gió gác khi trăng sân 1295
13 Khi hương sớm khi trà trưa 1297
14 Đêm ngày giữ mực giấu quanh 1493
15 Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai 1592
16 Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày 1612
17 Sớm khuya khăn mặt lược đầu 1775
18 Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng 1784
19 Sớm khuya hầu hạ đoài doanh 1885
20 Sớm khuya tính đủ dầu đèn 1923
21 Ngày pho thủ tự đêm nồi tâm hương 1930
22 Sớm khuya lá bối phướn mây 2057
23 Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương 2058
24 Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày 2138
25 Đêm ngày luống những âm thầm 2249
26 Một nhà chung chạ sớm trưa 2733
27 Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng 2734
28 Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao 2876
29 Khi chén rượu, khi cuộc cờ 3223
30 Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên 3224
31 Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai 3234
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên 229
2 Ngày vừa sinh nhật ngoại gia 371
3 Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay 387
4 Vắng nhà được buổi hôm nay 376
5 Nhớ từ năm hãy thơ ngây 413
6 Còn về còn nhớ đến người hôm nay 387
7 Hàn huyên chưa kịp dã dề 575
8 Hạ từ van lạy suốt ngày 591
9 Một ngày lạ thót sai nha 597
10 Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày 614
11 Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm 648
12 Định ngày nạp thái vu quy 651
13 Sính nghi rẽ giá nghinh hôn sẵn ngày 822
14 Đêm xuân một giấc mơ màng 849
15 Thuốc thang suốt một ngày thâu 1001
16 Bấy lâu khăng khít dải đồng 1341
17 Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân 1440
18 Rạng ra gửi đến xuân đường 1497
19 Chén đưa nhớ bữa hôm nay 1517
20 Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày 1532
21 Từ nghe vườn mới thêm hoa 1535
22 Tuần sau bỗng thấy hai người 1555
23 Nàng từ chiếc bóng song the 1627
24 Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ 1670
25 Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau 1680
26 Xuất thần giây phót chưa tàn nén hương 1690
27 Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia 1768
28 Phải đêm êm ả chiều trời 1777
29 Bây giời đất thấp trời cao 1817
30 Nâu sồng từ trở màu thiền 1933
31 Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà 1940
32 Hoa rằng: Bà đến đã lâu 1995
33 Rón chân đứng nép độ đâu nửa giờ 1996
34 Ở đây chờ đợi sư huynh Ýt ngày 2052
35 Lần thâu gió mát trăng thanh 2165
36 Thong dong mới kể sự ngày hàn vi 2290
37 Nhí chi lỡ bước sẩy vời, 2345
38 Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi 2396
39 Nàng từ ân oán rạch ròi
40 Ngẫm từ dấy việc binh đao, 2493
41 Thà liều sống chết một ngày với nhau 2532
42 Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra 2536
43 Bây giờ sự đã vẹn tuyền 2514
44 Phổ vào đàn Êy những ngày còn thơ 2576
45 Công nha vừa buổi rạng ngày 2595
46 Dưới đèn sẵn bức tiên hoa 2625
47 Giác Duyên từ tiết giã nàng 2649
48 Từ ngày muôn dặm phù tang 2741
49 Vội vàng sắm sửa chọn ngày 2839
50 Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày 2860
51 Năm mây bỗng thấy chiếu trời 2947
52 Rằng ngày hôm nọ giao binh 2959
53 Lâm Tri buổi trước, Tiền Đường buổi sau 2986
54 Tưởng bây giờ là bao giờ, 3013
55 Từ con lưu lạc quê người 3019
56 Bây giờ gương vỡ lại lành 3071
57 Từ rày khép cửa phòng thu 3107
58 Trời còn để có hôm nay 3121
59 Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay 3186
STT Dẫn chứng Số thứ tự dòng trong tác phẩm
1 Thuyền tình vừa ghé tới nơi 69
2 Thì đà châm gãy bình rơi bao giờ 70
3 Một mình lưỡng lự canh chầy 217
4 Cớ sao trằn trọc canh khuya 225
5 Ba thu dọn lại một ngày dài ghê 248
6 Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao 251
7 Tần ngần đứng suốt giờ lâu 273
8 Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông 284
9 Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai 288
10 Kể đà thiểu não lòng người bấy nay 314
11 Bấy lâu mới được một ngày 315
12 Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi 338
13 Ngày vui ngắn chẳng đầy gang 425
14 Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng 440
15 Quản bao tháng đợi năm chờ 553
16 Một ngày nặng gánh tương tư một ngày 568
17 Mai sau dù có bao giờ 741
18 Đêm thu một khắc một chầy 803
19 Liều công mất một buổi quỳ mà thôi 842
20 Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm 910
21 Tin sương luống những rày trông mai chê 1040
22 Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng 1268
23 Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? 1286
24 Ngắn ngày thôi chớ dài lời làm chi 1328
25 Nỉ non đêm ngắn tình dài 1369
26 Mảng vui rượu sớm cờ trưa 1473
27 Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san 1520
28 Buồng đào khuya sớm thảnh thơi 1565
29 Đêm ngày lòng những giận lòng 1567
30 Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân 1792
31 Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài 1872
32 Một mình âm ỉ canh chầy 1883
33 Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh 1884
34 Canh khuya thân gái dặm trường 2031
35 Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây 2232
36 Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày 2288
37 Còn ngày nào cũng dư ngày Êy thôi 2612
38 Đầy vườn cỏ mọc lau thưa 2745
39 Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời 2746
40 Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên 2786
41 Ruột tằm ngày một héo hon 2833
42 Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve 2834
43 Những là phiền muộn đêm ngày 2857
44 Phật tiền ngày bạc lân la 2991
45 Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay 3036
46 Những là rày ước mai ao 3069
47 Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời 3122
48 Xót người lưu lạc bấy lâu 3167
49 Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy? 3208
Đặc điểm các câu thơ chỉ thời gian
Qua quá trình khảo sát tác phẩm Truyện Kiều của nhà văn Nguyễn
Từ chỉ thời gian trong tập truyện được chia thành ba loại chính: danh từ, phụ từ và đại từ, mỗi loại có số lượng xuất hiện khác nhau Mỗi từ loại đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm thức thời gian, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong cách biểu đạt thời gian.
Danh từ chỉ thời gian chiếm tỷ lệ cao trong tiếng Việt, với 212 từ, cho thấy sự quan trọng của nó trong ngôn ngữ So với đại từ và phụ từ, danh từ chỉ thời gian có số lượng vượt trội Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng nhiều từ chỉ thời gian trong thơ ca để diễn đạt tâm trạng và cảm xúc của nhân vật trong những khoảnh khắc cụ thể Do đó, thành công của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ chỉ thời gian là rất đáng chú ý.
Người viết nhận thấy, có những danh từ chỉ thời gian được Nguyễn
Sự lặp lại của các từ chỉ thời gian như Xuân, Thu, Chiều, Đêm, Ngày, Năm, Tháng trong bài thơ không phải là ngẫu nhiên, mà nhằm tạo ấn tượng mạnh mẽ và thu hút sự chú ý của người đọc vào ý nghĩa nghệ thuật của từng thời điểm được nhắc đến.
Danh từ chỉ thời gian “Đêm” xuất hiện trong thơ Nguyễn Du khá cao
Trong tác phẩm của Nguyễn Du, các danh từ chỉ thời gian như “Đêm”, “Ngày”, “Năm”, “Tháng”, “Chiều”, “Xuân” và “Thu” không chỉ thể hiện sự hòa đồng với thiên nhiên mà còn phản ánh tâm trạng của nhân vật trước cuộc sống Sự xuất hiện của “Đêm” (37 lần) mở ra những bí ẩn huyền diệu của thế giới, đồng thời biểu hiện chiều sâu tâm hồn nhạy cảm Các danh từ khác như “Ngày” (31 lần), “Năm” (34 lần), và “Tháng” (10 lần) thể hiện khái niệm thời gian trừu tượng, vừa mơ hồ vừa thúc giục “Chiều” (9 lần) mang đến tâm trạng vui tươi nhưng cũng ẩn chứa nỗi buồn, trong khi “Xuân” (8 lần) khẳng định tình đời và tình người trước thiên nhiên Sự xuất hiện của “Thu” (11 lần) gợi lên nỗi buồn trước sự trôi chảy của thời gian Ngoài ra, Nguyễn Du còn sử dụng nhiều danh từ chỉ thời gian khác như phút, giây, buổi, lúc, và các mùa, mỗi từ đều mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự tinh tế của nhà văn.
Như vậy: Qua lớp danh từ chỉ thời gian, người viết nhận thấy, Nguyễn
Nhà thơ Nguyễn Du khéo léo sử dụng các danh từ chỉ thời gian để thể hiện cảm xúc và tâm trạng của mình trước hiện thực cuộc sống và số phận của người con gái xưa Những danh từ này thường gắn liền với nỗi buồn, cô đơn và bế tắc, tạo nên sự tinh tế trong thơ của ông Mỗi thời điểm và tâm trạng khác nhau đều được nhà thơ vận dụng những danh từ chỉ thời gian một cách độc đáo, không thể thay thế bằng từ ngữ khác Chính điều này làm cho thơ Nguyễn Du trở nên hấp dẫn, mang đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ và bất ngờ về thời gian.
Phụ từ chỉ thời gian: Phụ từ chỉ thời gian trong thơ Nguyễn Du thể hiện rất linh hoạt Ngoài ý nghĩa thông thường, có những câu thơ, Nguyễn
Phụ từ chỉ thời gian mang ý nghĩa tình thái là công cụ quan trọng giúp diễn đạt cảm xúc và tâm trạng một cách chính xác Mặc dù số lượng phụ từ chỉ thời gian ít hơn danh từ chỉ thời gian, với chỉ 63 từ, nhưng chúng vẫn đóng vai trò lớn trong văn chương, đặc biệt là trong thơ Nguyễn Du, nơi phụ từ “Đã” được sử dụng 29 lần để thể hiện mốc thời gian trong quá khứ Những phụ từ như “vừa”, “mới”, “sắp”, và “mãi” cũng thường xuyên xuất hiện, mang đến một cái nhìn sâu sắc về quá khứ và hiện tại, giúp người đọc chiêm nghiệm cuộc sống.
Các phụ từ chỉ thời gian như “Vừa”, “Mới”, “Sắp”, và “Mãi” không chỉ thể hiện tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Du mà còn góp phần tạo nên những vần thơ tràn đầy tình yêu và niềm tin vào cuộc sống “Vừa” và “Mới” phản ánh thái độ trước những biến đổi ý nghĩa, trong khi “Sắp” biểu thị sự gần kề của thời gian và sự kiện, còn “Mãi” khẳng định tính trường tồn Mặc dù đại từ chỉ thời gian ít xuất hiện hơn so với danh từ và phụ từ, nhưng chúng vẫn đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm của ông.
Việc sử dụng các đại từ như "này," "đó," và "nọ" trong tác phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người đọc hiểu sâu sắc về tâm trạng và nỗi niềm của nhà thơ qua hai giai đoạn sáng tác Sự không đồng đều trong việc sử dụng đại từ chỉ thời gian phản ánh cái "tôi" bơ vơ, lạc loài và bế tắc của nhân vật, từ đó tạo nên chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm.
Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng nhiều từ chỉ thời gian trong thơ, sắp xếp và lựa chọn chúng một cách phù hợp với nội dung tư tưởng Sự độc đáo này không chỉ mang lại sự mạch lạc mà còn tạo ra sức gợi cảm cho tác phẩm Tài năng của ông trong việc sử dụng từ chỉ thời gian đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, khẳng định dấu ấn sáng tạo của mình trên những trang thơ.
Thúy Kiều, vì cứu cha, đã phải trải qua 15 năm đầy đau khổ và tủi hờn Là một cô gái xinh đẹp, tài năng, nàng đã phải chịu đựng nhiều đòn roi và những bi kịch trong cuộc sống Dù yêu thích thơ phú và âm nhạc, Kiều lại bị giam trong chốn Thanh Lâu suốt 4 năm để phục vụ cho những kẻ trăng hoa Trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc, nàng đã phải qua đò đến 6 lần, trong đó có 4 lần chịu đựng kiếp chung chồng và rơi vào tay những kẻ vô tình Cuối cùng, người chồng của nàng lại chính là mối tình đầu, mang lại cả niềm vui lẫn nỗi đau.
Khi nói tới thời gian lưu lạc của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết:
Những từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm ấy bây giờ là đây…
Từ con lưu lạc quê người
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm
Những từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm ấy bây giờ là đây…
Gia đình Kiều bị vu oan, cha và em trai bị bắt, khiến nàng quyết định bán mình để chuộc cha Nàng bị đưa vào lầu xanh của Tú Bà và đã tự vẫn Sau đó, Kiều làm lẽ cho Thúc Sinh và ở tại Quan Âm Các, nơi nàng gặp Từ Hải Tuy nhiên, Kiều đã mắc lừa Hồ Tôn Hiến và cuối cùng nhảy xuống sông Tiền Đường Cuối cùng, Kiều đã đoàn tụ cùng gia đình.
Trong tác phẩm Truyện Kiều, thời gian diễn ra cuộc đời Thúy Kiều được miêu tả dồn dập, tạo nên nhịp điệu sự kiện rõ nét Thời gian trong truyện không chỉ ngắn ngủi mà còn chật chội, phản ánh sự cần thiết phải dành cho những biến cố và sự kiện trong tương lai.
Thúy Kiều đi chơi Tết Thanh Minh trong một khung cảnh mùa xuân rực rỡ, nơi hội hè tràn đầy sức sống Tác giả đã khéo léo miêu tả bức tranh này chỉ trong mười hai dòng thơ, thể hiện sự tinh tế và sâu sắc trong cảm nhận về thời gian và không gian.
Tác giả đã dồn nén thời gian trong đoạn thơ từ "Ngày xuân con Én đưa thoi" đến "Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay", nhanh chóng lướt qua không khí vui tươi của mùa xuân để chuyển sang sự kiện Kiều gặp nấm mộ Đạm Tiên Tại đây, Kiều bày tỏ nỗi thương tiếc cho số phận "hồng nhan bạc mệnh" của Đạm Tiên, đồng thời liên hệ đến chính mình Kiều thắp hương và khóc trước mộ, khấn nguyện, và Đạm Tiên đã linh ứng với lời khấn của Kiều Qua đó, tác giả đã kéo dài thời gian bằng 82 dòng thơ để thể hiện sâu sắc tâm tư của nhân vật.
Tác giả miêu tả chi tiết hành trình của ba chị em từ lúc ra về, với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp và sự chuyển mình của ánh sáng khi "Tà tà bóng ngả về tây" Họ gặp một ngôi mộ trong tình trạng đặc biệt, điều này không chỉ tạo nên không khí huyền bí mà còn gợi mở những suy tư sâu sắc về cuộc sống và cái chết Cảnh vật xung quanh và sự tương tác của các nhân vật với môi trường tạo nên một bức tranh sống động, thể hiện tâm trạng và cảm xúc của họ trong khoảnh khắc này.
"SÌ sÌ nấm đất bên đường, Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
… Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?"