1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thị trường trái phiếu việt nam

40 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thị Trường Trái Phiếu Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chứng Khoán Có Thu Nhập Cố Định
Thể loại Bài Thi Cuối Kỳ
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1..............................................................................................................2 (8)
    • 1.1. Tổng quan về trái phiếu (8)
      • 1.1.1. Khái niệm trái phiếu (8)
      • 1.1.2. Đặc điểm của trái phiếu (8)
      • 1.1.3. Phân loại trái phiếu (9)
        • 1.1.3.1. Căn cứ vào hình thức thể hiện (9)
        • 1.1.3.2. Căn cứ theo chủ thể phát hành (9)
    • 1.2. Tổng quan về thị trường trái phiếu (10)
      • 1.2.1. Khái niệm thị trường trái phiếu (10)
      • 1.2.2. Đặc điểm của thị trường trái phiếu (10)
      • 1.2.3. Vai trò của thị trường trái phiếu (11)
      • 1.2.4. Phân loại thị trường trái phiếu (11)
  • CHƯƠNG 2..............................................................................................................7 (13)
    • 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam (13)
    • 2.2. Thị trường trái phiếu Chính phủ (14)
      • 2.2.1. Các loại trái phiếu Chính phủ (14)
      • 2.2.2. Hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ (15)
        • 2.2.2.1. Thị trường sơ cấp (15)
        • 2.2.2.2. Thị trường thứ cấp (17)
    • 2.3. Thị trường trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (19)
    • 2.4. Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương (21)
    • 2.5. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (22)
    • 2.6. Thị trường trái phiếu quốc tế (31)
  • CHƯƠNG 3............................................................................................................28 (35)
    • 3.1. Định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam (35)
    • 3.2. Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam (35)
  • KẾT LUẬN (38)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (39)

Nội dung

Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam Phân tích thị trường trái phiếu việt nam

Tổng quan về trái phiếu

Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, trái phiếu được định nghĩa là chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành Cụ thể, trái phiếu là giấy ghi nhận nợ, quy định nghĩa vụ của công ty phát hành (người vay tiền) phải trả một khoản tiền xác định cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay).

1.1.2 Đặc điểm của trái phiếu

Trái phiếu là loại hình chứng khoán nợ, bất kỳ một loại trái phiếu nào cũng mang những đặc điểm sau :

 Tính rủi ro của trái phiếu

Trái phiếu luôn mang theo rủi ro, và mức độ rủi ro này phụ thuộc vào đặc thù của từng loại trái phiếu Nhà đầu tư thường kỳ vọng vào lãi suất mà không tham gia vào quản lý của nhà phát hành Trước khi đầu tư, họ cần so sánh lợi nhuận từ lãi trái phiếu với các khoản đầu tư khác Những biến động tiêu cực trong nền kinh tế như lạm phát cao, lãi suất thị trường gia tăng và khủng hoảng kinh tế có thể ảnh hưởng đến rủi ro đầu tư trái phiếu Giá trị trái phiếu trên thị trường được xác định bởi yếu tố cung và cầu.

 Khả năng sinh lời của trái phiếu

Trái phiếu là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ hoặc công ty, cho phép nhà đầu tư thu lợi tức trong tương lai Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, gây thua lỗ cho những trái phiếu có thời gian đáo hạn dài Nếu lãi suất tăng quá cao, lỗ vốn có thể vượt quá lãi suất ban đầu, dẫn đến lãi suất âm Ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng, mang lại lợi nhuận cho những trái phiếu có thời gian đáo hạn dài hơn.

Tính thanh khoản của trái phiếu là khả năng chuyển đổi chúng thành tiền mặt, với mỗi loại trái phiếu có mức độ thanh khoản khác nhau Trái phiếu Chính phủ (TPCP) thường có tính thanh khoản cao hơn so với các loại trái phiếu khác Trong số đó, tín phiếu kho bạc là loại TPCP có tính thanh khoản cao nhất do kỳ hạn ngắn (dưới 1 năm), đóng vai trò quan trọng trong thị trường tiền tệ.

1.1.3.1 Căn cứ vào hình thức thể hiện

Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên trái chủ, cả trên chứng chỉ và sổ sách của người phát hành Người nắm giữ trái phiếu chỉ cần xé phiếu trả lãi đính kèm và mang đến ngân hàng để nhận lãi khi đến hạn Khi trái phiếu đáo hạn, họ cũng mang chứng chỉ đến ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.

Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có tên và địa chỉ của trái chủ được ghi trên chứng chỉ và sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể áp dụng cho phần vốn gốc hoặc toàn bộ, bao gồm cả gốc và lãi Hiện nay, hình thức ghi danh toàn bộ phổ biến nhất là ghi sổ, trong đó trái phiếu ghi sổ không tồn tại dưới dạng vật chất, mà quyền sở hữu được xác nhận thông qua việc lưu giữ thông tin của chủ sở hữu trên máy tính.

1.1.3.2 Căn cứ theo chủ thể phát hành

Trái phiếu Chính phủ là công cụ vay nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho công trình công ích Loại trái phiếu này không có rủi ro thanh toán và có tính thanh khoản cao, do đó, lãi suất của nó thường được xem là chuẩn để xác định lãi suất cho các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.

Trái phiếu doanh nghiệp là công cụ tài chính do các công ty phát hành nhằm huy động vốn dài hạn, với đặc điểm là trái chủ nhận lãi định kỳ và gốc khi đáo hạn, nhưng không tham gia quản lý công ty Có những loại trái phiếu không trả lãi định kỳ, cho phép người mua mua dưới mệnh giá và nhận lại đúng mệnh giá khi đáo hạn Trái phiếu doanh nghiệp được phân loại thành trái phiếu có đảm bảo và trái phiếu không đảm bảo.

Tổng quan về thị trường trái phiếu

1.2.1 Khái niệm thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là nơi giao dịch mua bán trái phiếu giữa các nhà đầu tư, tổ chức phát hành và trung gian môi giới Tại đây, các tổ chức phát hành huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, trong khi người nắm giữ trái phiếu, hay còn gọi là trái chủ, sẽ nhận lãi suất và vốn gốc từ bên phát hành khi đến hạn.

1.2.2 Đặc điểm của thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là không gian giao dịch các công cụ nợ trung và dài hạn, nơi mà việc mua bán và trao đổi diễn ra Tại đây, nguồn vốn huy động thường có chi phí thấp hơn so với thị trường cổ phiếu.

Thị trường trái phiếu có đặc điểm là thời hạn xác định, dẫn đến sự gắn bó chặt chẽ với thị trường giao dịch Mặc dù quy mô của thị trường trái phiếu rất lớn, hàng hóa trên thị trường lại thường xuyên thay đổi Trái phiếu mới được phát hành liên tục để thay thế cho các trái phiếu đã đáo hạn, tạo nên một quá trình luân chuyển không ngừng.

Thị trường trái phiếu có quy mô lớn hơn nhiều so với thị trường cổ phiếu, với khối lượng và giá trị giao dịch thường xuyên cao Đặc điểm này cho thấy rằng các thành viên chủ yếu là các trung gian tài chính, dẫn đến việc thị trường thường được tổ chức theo mô hình OTC.

- Phương thức giao dịch chủ yếu là thỏa thuận, cách thức và thời gian giao dịch rất linh hoạt.

1.2.3 Vai trò của thị trường trái phiếu Đối với nền kinh tế: Thị trường trái phiếu là kênh huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả Đây một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung,dài hạn cho nền kinh tế bằng khả năng huy động các nguồn vốn phân tán, tạm thời nhàn rỗi trong toàn xã hội vào công cuộc đầu tư của nền kinh tế. Đối với Chính phủ

Phát hành trái phiếu là một phương thức quan trọng giúp Chính phủ huy động vốn để đạt được các mục tiêu chính trị, kinh tế và xã hội, bao gồm việc tài trợ cho các dự án đầu tư và bù đắp cho sự thiếu hụt ngân sách quốc gia.

Thị trường trái phiếu có quy mô lớn và độ sâu, hỗ trợ hiệu quả nhu cầu vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế Điều này giúp hình thành một cấu trúc thị trường vốn vững chắc, dựa trên sự cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu Thị trường trái phiếu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và ổn định của thị trường vốn.

Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu giúp giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, đồng thời thị trường trái phiếu công ty không chỉ thu hút nguồn vốn lớn từ xã hội mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

1.2.4 Phân loại thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu chính phủ là một phần quan trọng trong thị trường trái phiếu, nơi các trái phiếu được phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, thị trường này cũng giúp chính phủ quản lý lượng tiền lưu thông, đồng thời có khả năng đối phó với tình hình lạm phát khi cần thiết.

Thị trường trái phiếu chính phủ bảo lãnh là nơi dành cho các đối tượng được chính phủ bảo lãnh, nhằm huy động vốn cho các chương trình tín dụng nhà nước Trái phiếu này được phát hành thông qua các phương thức như đấu thầu, bảo lãnh, đại lý hoặc bán lẻ.

Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho các dự án và chương trình đầu tư tại địa phương, nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô và phát triển đầu tư Thị trường này được phân chia thành hai loại chính: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra giao dịch các chứng khoán mới phát hành, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo vốn cho tổ chức phát hành Đây cũng là điểm tập trung các nguồn vốn trong nền kinh tế, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế tổng thể.

Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ cấp, không tạo vốn cho tổ chức phát hành Tại đây, các nhà đầu tư có thể thực hiện giao dịch và chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu cho nhau.

Thị trường trái phiếu quốc tế là nơi diễn ra giao dịch mua bán trái phiếu giữa các quốc gia, với các công ty hoặc Chính phủ là chủ thể phát hành Người mua chủ yếu là các quỹ, ngân hàng lớn, ngân hàng trung ương và cá nhân Thị trường này cung cấp nguồn lực tài chính trung và dài hạn cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam

Thị trường trái phiếu Việt Nam ra đời vào giữa thập niên 1990, khi Chính phủ phát hành trái phiếu công trình và công trái nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước Từ năm 1990 đến 2000, Kho bạc Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành trái phiếu, chủ yếu thông qua tín phiếu và trái phiếu ngắn hạn có kỳ hạn dưới 3 năm.

Với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính, thị trường trái phiếu đã hình thành với hai cấu phần chính: thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu doanh nghiệp Điều này đáp ứng nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, các Ngân hàng chính sách, chính quyền địa phương và doanh nghiệp.

Trên thị trường trái phiếu, có bốn chủ thể chính tham gia huy động vốn: Bộ Tài chính ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm bù đắp bội chi ngân sách và trả nợ gốc; các ngân hàng chính sách phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh cho các chương trình tín dụng nhà nước; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn cho ngân sách địa phương; và doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.

Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) là tổ chức nghề nghiệp tập hợp nhà đầu tư và các tổ chức trung gian trong lĩnh vực trái phiếu VBMA đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối thông tin và tăng cường hợp tác giữa cơ quan quản lý, nhà phát hành và nhà đầu tư Tổ chức này cũng góp ý cho cơ quan quản lý nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường trái phiếu, cung cấp dịch vụ hỗ trợ và đào tạo nâng cao năng lực cho các thành viên, đồng thời hợp tác với các hiệp hội trong khu vực và quốc tế về thị trường trái phiếu.

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), Sở Giao dịch chứng khoán

Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (Hose) cung cấp dịch vụ đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch trái phiếu cho các tổ chức phát hành VSD và HNX vận hành hệ thống đăng ký, lưu ký và tổ chức niêm yết, giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương trên thị trường thứ cấp Trái phiếu doanh nghiệp cũng được niêm yết và giao dịch trên HNX và Hose.

Thị trường trái phiếu ngày càng phong phú với nhiều sản phẩm đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và nâng cao khả năng huy động vốn cho các tổ chức phát hành Trong giai đoạn 2011-2018, trái phiếu Chính phủ cung cấp đầy đủ các kỳ hạn từ tín phiếu dưới 364 ngày đến trái phiếu kỳ hạn 30 năm, trong khi trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn từ 2 đến 15 năm với lãi suất cố định Trái phiếu Chính quyền địa phương có kỳ hạn từ 3 đến 30 năm, và trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các sản phẩm bao gồm trái phiếu lãi suất cố định, trái phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu có tài sản đảm bảo và trái phiếu có bảo lãnh thanh toán.

Thị trường trái phiếu Chính phủ

2.2.1 Các loại trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu chính phủ bao gồm 4 loại chính đó là: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, công trái xây dựng Tổ quốc và trái phiếu đầu tư.

Tín phiếu kho bạc: Loại trái phiếu chính phủ này có kỳ hạn là 13 tuần, 26 tuần hoặc 52 tuần và được phát hành dưới dạng đồng Việt Nam

Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, được phát hành bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi.

Công trái xây dựng Tổ Quốc là loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, phát hành bằng đồng Việt Nam Mục đích của việc phát hành trái phiếu này là huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình quốc gia quan trọng và các dự án thiết yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, cơ sở vật chất, đời sống và kỹ thuật của đất nước.

Trái phiếu đầu tư mang lại nhiều quyền lợi cho trái chủ, bao gồm việc nhận lợi tức và gốc từ chính phủ khi trái phiếu đáo hạn Loại trái phiếu này cũng dễ dàng trong việc mua bán, trao đổi, tặng, thừa kế hoặc cầm cố Việc phát hành và thanh toán trái phiếu đầu tư có thể thực hiện bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ.

2.2.2 Hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ

Sau 12 năm hoạt động và phát triển, thị trường cơ bản đã đáp ứng được các mục tiêu của lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định 1191/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra cho thị trường trái phiếu Việt Nam, đó là phát triển thị trường trái phiếu ổn định, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm, đảm bảo thị trường hoạt động công khai, minh bạch và hiệu quả, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đến cuối năm 2020, quy mô thị trường TPCP đạt 28,28% GDP; tăng 11% về giá trị tuyệt đối so với năm 2019 Trong đó, dư nợ TPCP kỳ hạn còn lại trên 5 năm chiếm 61,14%, tiếp theo là kỳ hạn 1-5 năm (27,4%), các kỳ hạn ≤ 1 năm chỉ chiếm11,46%.

Bằng hoặc dưới 1 năm 1 năm đến 5 năm Trên 5 năm

Hình 2 1 Dư nợ phân theo kỳ hạn còn lại của Danh mục nợ

Trong 12 năm qua, thị trường sơ cấp đã huy động hơn 2,47 triệu tỷ đồng cho ngân sách nhà nước nhằm phục vụ đầu tư phát triển kinh tế, tương ứng với trung bình 206 nghìn tỷ đồng mỗi năm, chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư xã hội và 28,3% tổng vốn đầu tư khu vực Nhà nước năm 2020 Để đạt được con số này, hơn 2.600 phiên đấu thầu đã được tổ chức tại HNX, với tỷ lệ huy động thành công trung bình từ 60-70% trên tổng khối lượng gọi thầu.

Lãi suất huy động vốn trên thị trường TPCP đã giảm đáng kể, giúp tiết kiệm cho ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng tiền lãi và hỗ trợ điều tiết kinh tế vĩ mô Cụ thể, lãi suất huy động vốn trung bình đã giảm từ 4 đến 6%/năm trên tất cả các kỳ hạn, với sự giảm mạnh ở kỳ hạn 5 năm từ 10,49%/năm trong năm 2009 xuống còn 1%/năm trong năm 2021, và kỳ hạn 10 năm từ 9,7%/năm xuống 2,06%/năm trong cùng thời gian.

(Nguồn: https://www.hnx.vn/ )

Hình 2 2 Quy mô phát hành và lãi suất trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2009-

Thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP) hiện nay đang có sự đa dạng hóa về sản phẩm và kỳ hạn phát hành, với các sản phẩm như trái phiếu trả lãi định kỳ và trái phiếu không trả lãi định kỳ Sự đa dạng về kỳ hạn từ 3 tháng đến 30 năm đã giúp nâng cao khả năng huy động vốn cho ngân sách nhà nước (NSNN), đồng thời tái cơ cấu danh mục TPCP theo hướng bền vững và hỗ trợ tái cơ cấu nợ Chính phủ thông qua việc tập trung vào phát hành các kỳ hạn dài và mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) thứ cấp đang phát triển mạnh mẽ, với tổng dư nợ đạt 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 8/2021, gấp 8,7 lần so với năm 2009 Thanh khoản trái phiếu trong năm 2021 đạt 10,8 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 29,7 lần so với năm 2009 Giá trị giao dịch Repos cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, từ 6,5% tổng giá trị giao dịch năm 2009 lên 33% vào năm 2021, cho thấy sự phát triển sâu rộng của thị trường TPCP trong khu vực và toàn cầu.

(Nguồn: https://www.hnx.vn/ )

Hình 2 3 Quy mô và thanh khoản thị trường trái phiếu chính phủ

Trên thị trường thứ cấp, ngoài sản phẩm cơ bản là Outright và Repos, đã xuất hiện thêm 2 sản phẩm Repos mới vào cuối năm 2018 là Vay trái phiếu và Bán kết hợp mua lại Sản phẩm phái sinh hợp đồng tương lai TPCP 5 năm bắt đầu hoạt động từ tháng 7/2019, và hợp đồng tương lai TPCP 10 năm ra mắt vào tháng 6/2021, cung cấp thêm công cụ phòng vệ rủi ro cho nhà đầu tư Đặc biệt, vào tháng 7/2021, sản phẩm mua lại có kỳ hạn TPCP từ nguồn NSNN tạm thời nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước chính thức được triển khai, mở ra cơ chế cho phép Kho bạc Nhà nước trở thành nhà đầu tư mua lại trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp.

Lãi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP) trên thị trường thứ cấp đã tăng trong tháng 3 và tháng 4/2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Tuy nhiên, nhờ vào sự ổn định của thanh khoản thị trường tiền tệ, lãi suất TPCP đã có xu hướng giảm dần từ tháng 5/2020 cho đến cuối tháng 12/2020, đặc biệt là ở các kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm.

Trong 15 năm qua, lãi suất giao dịch của trái phiếu Chính phủ (TPCP) Việt Nam đã ghi nhận mức thấp kỷ lục từ 1,12% đến 2,56% Đến cuối năm 2020, lãi suất TPCP trên thị trường thứ cấp giảm bình quân khoảng 100 điểm cơ bản so với đầu năm, đánh dấu mức giảm mạnh nhất trong khu vực.

Thị trường trái phiếu Chính phủ bảo lãnh

Năm 2021, tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (TPCPBL) phát hành đạt 21,524 tỷ đồng, trong đó Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành 11,024 tỷ đồng và Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành 10,500 tỷ đồng Ngân hàng Chính sách xã hội đã phát hành 100% hạn mức theo Quyết định số 945/QĐ-TTg, trong khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam đạt 61% hạn mức theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg Lãi suất trúng thầu của cả hai ngân hàng này đều cao hơn lãi suất trúng thầu trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn.

Ngân hàng phát triển Việt Nam đã phát hành trái phiếu chủ yếu ở kỳ hạn 10 năm với tổng giá trị 7,800 tỷ đồng, tiếp theo là kỳ hạn 5 năm với 1,500 tỷ đồng và 7 năm với 1,200 tỷ đồng Trong khi đó, Ngân hàng Chính sách xã hội chỉ phát hành trái phiếu ở hai kỳ hạn là 10 năm với 7,400 tỷ đồng.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 4 Tỷ lệ phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh năm 2021

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 5 Tỷ trọng phát hành theo kỳ hạn của NHPTVN và NHCSXH 2021

Trong 3 tháng đầu năm 2022, hai ngân hàng chính sách chưa phát hành TPCPBL Trong quý II/2022, ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã gọi thầu 18,000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (TPCPBL) qua 30 phiên ở các kỳ hạn

Trong thời gian 3 năm, tổng giá trị trúng thầu đạt 5,000 tỷ đồng với tỷ lệ trúng thầu là 27.8% và tỷ lệ đặt thầu/gọi thầu là 52% Cụ thể, trái phiếu 3 năm trúng thầu 4,700 tỷ đồng, trong khi trái phiếu 5 năm trúng thầu 300 tỷ đồng Đáng lưu ý, Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa thực hiện gọi thầu TPCPBL nào trong 2 quý vừa qua của năm 2022.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu quý II/2022)

Hình 2 6 Khối lượng phát hành TPCPBL quý II/2022

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu quý II/2022)

Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương

Dựa vào các mốc quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý và cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước cho phát hành trái phiếu đô thị, quá trình này có thể được chia thành hai giai đoạn chính.

Giai đoạn 1991-2003, cơ chế phân cấp ngân sách chủ yếu mang tính tập trung, với phần lớn nguồn thu từ các dự án đầu tư do ngân sách trung ương quản lý Chỉ một số địa phương áp dụng các quy định pháp lý về phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu công trình để đầu tư cho các dự án địa phương, và các trái phiếu này được đảm bảo thanh toán bằng nguồn ngân sách địa phương.

Năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định 72/CP, hướng dẫn các tỉnh xây dựng đề án huy động vốn cho các dự án đầu tư trọng điểm nhằm phát triển kinh tế xã hội Các tỉnh như Bình Thuận, Tiền Giang, Cà Mau, và Lào Cai đã thực hiện kế hoạch đầu tư cho hạ tầng kinh tế xã hội Theo Luật ngân sách nhà nước, nhiều địa phương như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, và Đồng Tháp đã đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua quỹ đầu tư phát triển đô thị, với các dự án tiêu biểu như khu đô thị Linh Đàm 42 tỷ đồng, khu đô thị mới Định Công 50 tỷ đồng, khu đô thị mới Chí Linh 71 tỷ đồng, và nhà máy xi măng Bút.

Sơn đã đầu tư 12,2 tỷ đồng, trong khi nhà máy xi măng Anh Sơn nhận được 7,6 tỷ đồng Đường Nguyễn Tất Thành - liên tỉnh lộ 15 có tổng vốn đầu tư là 25,2 tỷ đồng Ngoài ra, các địa phương như Tiền Giang, Bình Thuận và Khánh Hòa cũng đã phát hành trái phiếu công trình để huy động vốn.

Giai đoạn 2003-2019, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế và hạ tầng cơ sở tại các tỉnh, thành phố tăng mạnh nhằm hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế xã hội trong kế hoạch 5 năm (2000-2005) và tiến trình đô thị hóa Từ 2003-2007, TP.HCM và Hà Nội đã huy động thành công hơn 11.000 tỷ đồng qua phát hành trái phiếu đô thị, trong đó TP.HCM đạt 10.000 tỷ đồng và Hà Nội trên 1.000 tỷ đồng, góp phần quan trọng vào ngân sách địa phương.

Từ tháng 09/2012, UBND TP.HCM đã kiến nghị Chính phủ và Bộ Tài chính cho phép phát hành trái phiếu chính quyền địa phương nhằm huy động vốn cho phát triển kinh tế xã hội Theo kế hoạch, TP.HCM dự kiến phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm và 3.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm Tương tự, Đà Nẵng đã phát hành 1.500 tỷ đồng trong kế hoạch 5.000 tỷ đồng cho năm tài khóa 2013, trong khi Hà Nội thông qua kế hoạch phát hành 5.000 tỷ đồng từ năm 2013 đến 2015 Các tỉnh như Bình Dương, Bắc Ninh và một số địa phương phía Bắc cũng đang xem xét phát hành trái phiếu Tuy nhiên, từ năm 2019 đến nay, việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương đã bị ngưng trệ do tác động của đại dịch Covid-19.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Năm 2021, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam Quy mô thị trường TPDN hiện đạt khoảng 14.75% GDP sau điều chỉnh, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia (56% GDP), Singapore (38% GDP) và Thái Lan (25% GDP) Đến cuối năm 2021, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 12% tổng dư nợ của nền kinh tế, tăng 11.2% so với cuối năm 2020.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 8 Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2021

Theo dữ liệu từ HNX và SSC cập nhật đến ngày 07/01/2022, tổng khối lượng phát hành trong nước năm 2021 đạt 658,009 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ phát hành ra công chúng chỉ đạt 4.58%, giảm so với 7.10% của năm 2020 Thị trường ghi nhận 1,033 đợt phát hành, với quy mô trung bình mỗi đợt đạt 636 tỷ đồng, gấp 2.8 lần so với năm trước.

2020) Tổng số đợt phát hành ra quốc tế: 04 đợt – 1,425 tỷ USD (tương ứng quy mô trung bình 356.25 triệu USD/đợt)

1 Trích theo số liệu ABO đến hết tháng 9 năm 2021

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 9 Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và ra công chúng năm 2021

Trong Quý 4, nhóm Ngân hàng thương mại dẫn đầu về khối lượng phát hành trái phiếu, chiếm gần 40% tổng khối lượng nhằm huy động vốn cho tăng trưởng tín dụng cuối năm và tuân thủ quy định Basel II Bên cạnh đó, trái phiếu doanh nghiệp Bất động sản cũng chiếm 35% tổng khối lượng phát hành, cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường bất động sản trong năm qua.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 10 Kết quả phát hành TPDN theo nhóm ngành 2021

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021)

Hình 2 11 Tỷ trọng khối lượng phát hành TPDN năm 2020 và 2021

Trong quý I/2022, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát hành đạt 45.374 tỷ đồng, giảm 84,9% so với quý trước nhưng tăng 48,3% so với cùng kỳ năm trước Phát hành riêng lẻ chiếm 87% tổng khối lượng, trong khi phát hành ra công chúng chỉ chiếm 13% Tỷ lệ phát hành thành công đạt 102,6%, với 40 doanh nghiệp phát hành tổng cộng 39.478 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, tăng 67,2% so với cùng kỳ nhưng giảm 86,0% so với quý trước Các doanh nghiệp có giá trị phát hành lớn nhất bao gồm CTCP Đầu tư Xây dựng Tường Khải (5.980 tỷ đồng) và CTCP Xây dựng Minh Trường Phú (5.900 tỷ đồng) Đồng thời, 5.896 tỷ đồng TPDN được phát hành ra công chúng, giảm 15,7% so với cùng kỳ và giảm 68,8% so với quý trước, với NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam dẫn đầu với 2.209 tỷ đồng.

Trong Q1/22, khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) riêng lẻ giảm dần, với giá trị tháng 1 đạt 27.115 tỷ đồng, tháng 2 là 8.193 tỷ đồng và tháng 3 chỉ còn 4.170 tỷ đồng Điều này trái ngược với xu hướng tăng trưởng trong Q1/21 Nguyên nhân chủ yếu được cho là do Thông tư 16/2021/TT-NHNN có hiệu lực từ 15/01/2022, áp dụng quy định chặt chẽ hơn đối với các tổ chức tín dụng trong việc mua bán TPDN và nâng cao chất lượng doanh nghiệp phát hành.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022)

Hình 2 12 Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng

Trong quý 1 năm 2022, lĩnh vực bất động sản chiếm 40,2% tổng giá trị phát hành, đạt 15.860 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 86,5% so với quý trước Các doanh nghiệp bất động sản nổi bật với giá trị phát hành lớn nhất bao gồm CTCP Đầu tư và Phát triển Eagle Side (3.930 tỷ đồng), CTCP Hưng Thịnh Investment (2.000 tỷ đồng) và CTCP Phát triển BĐS Đất Việt (1.600 tỷ đồng).

Ngành xây dựng chiếm 34,8% tổng giá trị phát hành, tương đương 13.720 tỷ đồng, với mức tăng 119,2% so với quý trước và tăng hơn 10 lần so với cùng kỳ năm trước Các doanh nghiệp xây dựng đang đẩy mạnh triển khai các dự án hạ tầng và dân cư sau thời gian chậm lại do dịch bệnh năm 2021 Ngoài hai doanh nghiệp đã đề cập, CTCP Xây dựng Minh Trường Phú với giá trị phát hành 800 tỷ đồng cũng nằm trong top 3 doanh nghiệp ngành xây dựng có giá trị phát hành lớn nhất trong quý 1 năm 2022.

Ngành tài chính – ngân hàng chiếm 18,8% tổng giá trị phát hành, tương đương 7.403 tỷ đồng, giảm 92,0% so với quý trước nhưng vẫn tăng 68,1% so với cùng kỳ năm trước Ngoài Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế, hai doanh nghiệp có giá trị phát hành lớn nhất trong nhóm này là CTCP Tập đoàn Đầu tư IPA với 1.000 tỷ đồng và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu với 650 tỷ đồng.

Trong quý, các ngành khác (không bao gồm ngành Xây Dựng) chiếm 6,3% tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ, tương đương 2.495 tỷ đồng, giảm 95,8% so với quý trước và 25,1% so với cùng kỳ năm trước Đặc biệt, hai doanh nghiệp trồng cao su có giá trị phát hành trái phiếu lớn nhất là CT TNHH Cao su An Thịnh với 650 tỷ đồng và CT TNHH Đầu tư Cao su Cường Thịnh với 545 tỷ đồng.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022)

Hình 2 13 Cơ cấu TPDN phát hành theo tháng trong quý I/2022

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022)

Hình 2 14 Tỷ trọng TPDN riêng lẻ phát hành theo ngành trong quý I/2022

Tính đến hết quý I 2022, tỷ lệ dư nợ trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trên tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 11.4%, giảm 15.7% so với cuối năm trước, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Trong Quý II 2022, tổng khối lượng phát hành trái phiếu đạt 106,735 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ phát hành riêng lẻ chiếm 99.72% và chỉ có một đợt phát hành ra công chúng trị giá 300 tỷ đồng, tương đương 0.28% Đáng chú ý, phần lớn các đợt phát hành diễn ra vào tháng 6, với giá trị lên tới 40,446 tỷ đồng, chiếm 37.9% tổng khối lượng phát hành của quý này.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý II/2022)

Hình 2 15 Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và công chúng quý II/2022

2 Theo dữ liệu công bố của HNX và SSC đến ngày 08/07/2022

Trong Quý II 2022, tổng khối lượng phát hành giảm khoảng 45% so với cùng kỳ năm 2021, chủ yếu do lượng phát hành nhóm Bất động sản giảm mạnh (giảm 83.4%).

Nhóm Ngân hàng dẫn đầu với tổng giá trị phát hành đạt 78,039 tỷ đồng, tăng 5% so với quý II/2021 Các Ngân hàng thương mại tiếp tục tăng vốn để cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), điều này không chỉ giúp được cấp hạn mức tín dụng mà còn đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu Basel II, III.

Nhóm Bất Động Sản đứng thứ hai với tổng giá trị phát hành đạt 10,533 tỷ đồng, giảm 83.4% so với cùng kỳ năm trước Sự suy giảm này một phần do thị trường Bất động sản không còn “sốt giá” như giai đoạn 2021, mà giá đã có dấu hiệu chững lại trong quý II năm 2022.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý II/2022)

Hình 2 16 Tỷ trọng phát hành TPDN theo nhóm ngành quý II/2022

Trong quý III/2022, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát hành đạt 60.635 tỷ đồng, giảm 50,5% so với quý trước và 70,9% so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ phát hành thành công đạt 98,9%, trong đó tỷ lệ trái phiếu phát hành riêng lẻ là 97,4% và công chúng là 2,6%.

Trong Quý 3, có 42 doanh nghiệp (DN) phát hành tổng cộng 59.032 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, giảm mạnh 51,7% so với quý trước, và giảm 71,1% svck Các

Trong quý vừa qua, các ngân hàng dẫn đầu về giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ, với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đạt 6.867 tỷ đồng, Ngân hàng TMCP Phương Đông 6.600 tỷ đồng và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 4.210 tỷ đồng Đồng thời, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng đạt 1.603 tỷ đồng, tăng 434,4% so với quý trước và so với năm ngoái, chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng TMCP.

Thị trường trái phiếu quốc tế

Tính đến năm 2016, Việt Nam đã thành công trong việc phát hành trái phiếu quốc tế ba lần, thiết lập điểm chuẩn cho trái phiếu Việt Nam trên thị trường quốc tế Điều này đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp lớn huy động vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ, đồng thời thúc đẩy mục tiêu hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn Sự tham gia của nhiều nhà đầu tư quốc tế trong việc mua trái phiếu Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi, tăng tính thanh khoản cho trái phiếu trên thị trường thứ cấp và hỗ trợ cho các đợt phát hành trong tương lai.

Lần phát hành thứ nhất

Năm 2005, Việt Nam lần đầu phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, mang lại kết quả vượt mong đợi và thu hút sự chú ý lớn từ nhà đầu tư ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ.

Chính phủ Việt Nam đã lên kế hoạch phát hành 500 triệu USD trái phiếu chính phủ, nhưng ngay trong ngày đầu tiên, số lượng đặt mua từ các nhà đầu tư đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp đôi số lượng dự kiến Do đó, chính phủ quyết định tăng thêm 250 triệu USD, nâng tổng số phát hành lên 750 triệu USD với thời hạn 10 năm và lãi suất cố định 6,875%/năm (lãi suất thực là 7,125%) Lãi suất sẽ được thanh toán 6 tháng một lần vào ngày 15/1 và 15/7 hàng năm, với kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/01/2006 Trong số trái phiếu quốc tế, tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư theo khu vực là 38% châu Á, 32% châu Âu và 30% Mỹ, cho thấy trái phiếu Việt Nam đã được phân bổ đều giữa các khu vực toàn cầu.

Lần phát hành thứ hai

Vào ngày 25/1/2010, Bộ Tài chính đã chính thức phát hành trái phiếu quốc tế lần thứ hai của Chính phủ Việt Nam tại thị trường chứng khoán New York Lần phát hành này, Việt Nam tiếp tục sử dụng phương thức 144A/ điều khoản S, tương tự như lần trước Tổng trị giá trái phiếu phát hành là 1 tỷ USD, với kỳ hạn 10 năm, đáo hạn vào ngày 29/1/2020, lãi suất danh nghĩa 6,75%/năm và lợi tức phát hành là 6,95%, được giao dịch theo phương thức T+4.

Hơn một nửa số trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam được mua bởi các nhà đầu tư Mỹ, chiếm 56%, tăng mạnh so với lần phát hành đầu tiên Tỷ lệ nhà đầu tư châu Á là 28% và châu Âu là 16% Về lĩnh vực đầu tư, 73% là từ các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản, 10% đến từ các quỹ bảo hiểm và hưu trí, 10% là ngân hàng, và 7% là các nhà đầu tư khác.

Vào lúc 1 giờ chiều ngày 6/11/2014 (giờ San Francisco) và 7/11/2014 (giờ Việt Nam), Chính phủ đã tiến hành đợt phát hành trái phiếu thứ ba với tổng giá trị 1 tỷ USD theo phương thức 144A/ điều khoản S Đợt phát hành này đồng thời với giao dịch hoán đổi hai trái phiếu chính phủ đã phát hành trước đó, hạn thanh toán vào năm 2016 và 2020 Tổng giá trị đăng ký mua trái phiếu lên đến hơn 10,6 tỷ USD, gấp hơn 10 lần so với lượng chào bán Các ngân hàng Deusche Bank, HSBC và Standard Chartered Bank là tư vấn bảo lãnh cho đợt phát hành và giao dịch hoán đổi này, trong đó HSBC đóng vai trò là ngân hàng thanh toán và phân phối trái phiếu.

Trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam hiện có lãi suất cố định 4,8%/năm, thấp hơn so với mức dự kiến 5,125%/năm và hai đợt phát hành trước đó (6,875%/năm năm 2005 và 6,755%/năm năm 2010) Trong tổng số 437 nhà đầu tư quốc tế, 17% đến từ châu Á, 28% từ châu Âu và 55% từ châu Mỹ, với 84% là các công ty quản lý quỹ, 12% là ngân hàng và 4% là công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí Tổng mệnh giá trái phiếu được chấp nhận mua lại là 726.626.000 USD, bao gồm 436.452.000 USD trái phiếu năm 2005 và 290.171.000 USD trái phiếu năm 2010 Việc hoán đổi này giúp cơ cấu lại nợ công, kéo dài thời hạn vay và giảm áp lực trả nợ.

Định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

Xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu cần phải phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế và đồng bộ với các thành phần khác trong thị trường tài chính, bao gồm thị trường cổ phiếu và thị trường tiền tệ - tín dụng ngân hàng.

Phát triển thị trường trái phiếu một cách toàn diện và bền vững, đảm bảo an toàn hệ thống và từng bước hội nhập với các tiêu chuẩn quốc tế Cần hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thị trường để biến đây thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, với chi phí vốn hợp lý.

Tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ là nền tảng cho sự phát triển thị trường trái phiếu, đồng thời đẩy mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn Điều này góp phần tăng cường quản trị và công khai thông tin doanh nghiệp.

- Tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường.

Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam vẫn thiên lệch về thị trường tín dụng - ngân hàng Quy mô thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp hiện tại chỉ tương đương với các nước Đông Nam Á như Malaysia và Thái Lan cách đây 10 năm Sự bất cân bằng trong hệ thống tài chính tiềm ẩn rủi ro cao và gây bất ổn vĩ mô, hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp và giảm hiệu quả đầu tư Do đó, cần thiết phải phát triển hợp lý giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, cũng như giữa các thị trường cổ phiếu và trái phiếu.

Chiến lược Tài chính đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 368/QĐ-TTg, đặt ra mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu với quy mô và độ sâu tăng cường, nhằm nâng cao tính thanh khoản và đa dạng hóa sản phẩm Cụ thể, đến năm 2025, thị trường trái phiếu cần đạt tối thiểu 47% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp chiếm 20% GDP; và đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ là 58% GDP với trái phiếu doanh nghiệp đạt 25% GDP Để thực hiện các mục tiêu này, cần duy trì ổn định vĩ mô và kiểm soát các chỉ tiêu cơ bản như lạm phát, lãi suất, cân bằng ngân sách và tỷ lệ nợ công trong giới hạn cho phép, đồng thời tập trung vào các giải pháp cụ thể.

Để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp an toàn, ổn định và bền vững, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và giải quyết các vướng mắc trong hoạt động của thị trường Cụ thể, cần chú trọng vào việc chào bán chứng khoán riêng lẻ, tổ chức giao dịch trái phiếu doanh nghiệp giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp tại sở giao dịch chứng khoán, và chuẩn hóa quy định công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành Đặc biệt, cần xây dựng khung pháp lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh, bao gồm quy định về các dự án sử dụng vốn trái phiếu xanh và giao dịch trái phiếu xanh.

Chính phủ đang triển khai chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển và đa dạng hóa hàng hóa trái phiếu doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu huy động vốn Đồng thời, sẽ có ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng Ngoài ra, cần xây dựng quy định và tiêu chuẩn cho trái phiếu xanh cũng như các sản phẩm trái phiếu doanh nghiệp trong khuôn khổ hợp tác công - tư (PPP).

Khuyến khích thành lập và thu hút các tổ chức tư vấn, xếp hạng tín nhiệm và định giá là cần thiết để nâng cao chất lượng trái phiếu doanh nghiệp và cung cấp thông tin rõ ràng về rủi ro cho nhà đầu tư Các chính sách hỗ trợ cần bao gồm việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của các tổ chức này, đồng thời cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, đào tạo nguồn nhân lực và tiếp cận thông tin doanh nghiệp Cần sửa đổi, bổ sung Nghị định số 88/2014/NĐ-CP nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xếp hạng tín nhiệm trên thị trường.

Để nâng cao hiệu quả thị trường trái phiếu, cần đa dạng hóa các chủ thể tham gia, ưu tiên cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và các định chế tài chính trung gian như quỹ hưu trí, bảo hiểm xã hội, và công ty bảo hiểm có vốn nhà nước Đồng thời, phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường, từ đó giảm thiểu rủi ro.

Vào thứ năm, cần nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng và cải thiện dịch vụ thị trường trái phiếu bằng cách tăng cường tính minh bạch, công bố thông tin rõ ràng, và nâng cấp trang thông tin điện tử cũng như cơ sở dữ liệu về thị trường phục vụ nhà đầu tư Đồng thời, việc hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng thị trường thứ cấp là cần thiết để tăng tính thanh khoản cho các trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành.

Vào thứ sáu, cần tăng cường quản lý và giám sát thị trường chứng khoán, đồng thời tiếp tục tuyên truyền các quy định liên quan để doanh nghiệp, nhà đầu tư và tổ chức cung cấp dịch vụ hiểu và tuân thủ pháp luật Điều này sẽ giúp đảm bảo thị trường hoạt động thông suốt, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Ngày đăng: 27/10/2023, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. 1. Dư nợ phân theo kỳ hạn còn lại của Danh mục nợ - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 1. Dư nợ phân theo kỳ hạn còn lại của Danh mục nợ (Trang 16)
Hình 2. 2. Quy mô phát hành và lãi suất trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2009- - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 2. Quy mô phát hành và lãi suất trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2009- (Trang 17)
Hình 2. 3. Quy mô và thanh khoản thị trường trái phiếu chính phủ - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 3. Quy mô và thanh khoản thị trường trái phiếu chính phủ (Trang 18)
Hình 2. 5. Tỷ trọng phát hành theo kỳ hạn của NHPTVN và NHCSXH 2021 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 5. Tỷ trọng phát hành theo kỳ hạn của NHPTVN và NHCSXH 2021 (Trang 20)
Hình 2. 4. Tỷ lệ phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh năm 2021 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 4. Tỷ lệ phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh năm 2021 (Trang 20)
Hình 2. 7. Kết quả đấu thầu TPCPBL quý II/2022 2.4. Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 7. Kết quả đấu thầu TPCPBL quý II/2022 2.4. Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương (Trang 21)
Hình 2. 8. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2021 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 8. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2021 (Trang 23)
Hình 2. 9. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và ra công chúng năm 2021 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 9. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và ra công chúng năm 2021 (Trang 24)
Hình 2. 11. Tỷ trọng khối lượng phát hành TPDN năm 2020 và 2021 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 11. Tỷ trọng khối lượng phát hành TPDN năm 2020 và 2021 (Trang 25)
Hình 2. 12. Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 12. Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng (Trang 26)
Hình 2. 13. Cơ cấu TPDN phát hành theo tháng trong quý I/2022 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 13. Cơ cấu TPDN phát hành theo tháng trong quý I/2022 (Trang 27)
Hình 2. 14. Tỷ trọng TPDN riêng lẻ phát hành theo ngành trong quý I/2022 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 14. Tỷ trọng TPDN riêng lẻ phát hành theo ngành trong quý I/2022 (Trang 28)
Hình 2. 15. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và công chúng quý II/2022 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 15. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và công chúng quý II/2022 (Trang 28)
Hình 2. 16. Tỷ trọng phát hành TPDN theo nhóm ngành quý II/2022 - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 16. Tỷ trọng phát hành TPDN theo nhóm ngành quý II/2022 (Trang 29)
Hình 2. 17. Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng năm 2022 2.6. Thị trường trái phiếu quốc tế - Phân tích thị trường trái phiếu việt nam
Hình 2. 17. Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng năm 2022 2.6. Thị trường trái phiếu quốc tế (Trang 31)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w