1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN - VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LUẬT QUỐC TẾ.

58 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề bảo hộ công dân - Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự dưới góc độ của pháp luật Việt Nam và luật quốc tế.
Tác giả Nguyễn Thị My
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thế Anh
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 540,22 KB
File đính kèm VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN.zip (483 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nội dung quy định của pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự, Thực tiễn về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MY

VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN - VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LUẬT

QUỐC TẾ.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật quốc tế

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MY

VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN - VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LUẬT QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật quốc tế

Mã số: 7380108C

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS NGUYỄN THẾ ANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các tài liệu, trích dẫn nêu trong khóa luận đều là trung thực, nếu có bất kỳ sai sót tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Nguyễn Thị My

Trang 4

LỜI TRI ÂN

Để hoàn thành Khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM và thầy cô trong Khoa Luật Nhân đây tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Thế Anh đã tận tình, chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn tác giả thực hiện Khóa luận

Con xin cảm ơn ba mẹ luôn là chỗ dựa vững chắc cho con trong suốt quá trình học tập Xin cảm ơn bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tác giả Cảm ơn tập thể lớp DHLQT15A

Khóa luận là một công trình nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tác giả dựa trên cơ sở tham khảo các tài liệu đã được trích dẫn, song do thời gian không nhiều

mà còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Em mong các thầy cô trong hội đồng bảo vệ góp ý, sửa chữa để giúp em hoàn thiện khóa luận của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục tổng quát của khóa luận 4

CHƯƠNG 01: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ 5

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự 5

1.1.1 Khái niệm công dân 5

1.1.2 Khái niệm bảo hộ 5

1.1.3 Khái niệm bảo hộ công dân 6

1.1.4 Khái niệm ngoại giao và lãnh sự 7

1.1.5 Khái niệm cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự 7

1.1.6 Khái niệm cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân 8

1.2 Các yếu tố hình thành cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân 9

1.2.1 Thể chế bảo hộ pháp lý đối với công dân 9

1.2.2 Thiết chế bảo hộ pháp lý đối với công nhân 9

1.2.3 Phương thức thực hiện việc bảo hộ pháp lý cho công dân 10

1.3 Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự 11

1.3.1 Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao 11

1.3.2 Vai trò của cơ quan đại diện lãnh sự 12

1.4 Nội dung quy định của pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự 17

1.4.1 Quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ công dân 17

1.4.2.Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ công dân 19

TIỂU KẾT CHƯƠNG 01 27

Trang 6

CHƯƠNG 02: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH

SỰ - ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 28 2.1 Thực tiễn về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài 28 2.1.1 Sự quản lý của nhà nước về bảo hộ công dân, ngoại giao và lãnh sự tại Việt Nam 28 2.1.2 Thực tiễn bảo hộ công dân Việt Nam và vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam 30 2.2 Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài 45 2.2.1 Cần xây dựng chuẩn hóa, luật hóa khái niệm “bảo hộ công dân” 45 2.2.2 Cần xây dựng luật riêng về bảo hộ công dân 45 2.2.3 Cần tăng cường thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước, đồng thời đẩy mạnh mở rộng xây dựng cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài 46 TIỂU KẾT CHƯƠNG 02 47 KẾT LUẬN 48

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ gốc

Bộ LĐ-TB&XH Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

CCPLBHCD Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân

ICRC International Committee of the Red Cross- Uỷ ban Chữ thập đỏ

Quốc tế IOM International Organization for Migration- Tổ chức di trú thế

giới

EU European Union- Liên minh châu Âu

Trang 8

Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế và giao thoa văn hoá giữa các quốc gia với nhau Công dân nước ta ra nước ngoài vì nhiều lý do khác nhau có thể là học tập, lao động, du lịch,… Theo báo cáo của Cục Quản lý Lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH, năm 2021, cả nước có hơn 45.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, bằng 57,3% so với cùng kỳ năm 20201 Theo số liệu thống kê của Cục Hợp tác Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm 2020 Việt Nam có khoảng 190.000

du học sinh Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại nước ngoài2 Số lượng khách Việt Nam đi du lịch quốc tế luôn đạt mức tăng trưởng từ 10-15%/năm Khảo sát thống kê

từ ASEAN Travel 2018 cho thấy nếu năm 2012 Việt Nam có khoảng 4,8 triệu lượt

1 An Nhi (2022) Năm 2021 Việt Nam có hơn 45.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Báo Dân trí Truy

cập vào 14/04/2023, từ di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-20220115115758687.htm

https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/nam-2021-viet-nam-co-hon-45000-lao-dong-2 Nghiêm Huê (2020) 190.000 lưu học sinh Việt Nam đang ở nước ngoài: Bộ GD&ĐT khuyến cáo khẩn

Báo Tiền phong Truy cập vào 14/04/2023, từ nuoc-ngoai-bo-gddt-khuyen-cao-khan-post1223601.tpo

Trang 9

https://tienphong.vn/190000-luu-hoc-sinh-viet-nam-dang-o-khách Việt đi du lịch nước ngoài, thì đến năm 2018 con số này đã gần gấp đôi lên 8,6 triệu lượt3

Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự và đến nay Việt Nam đã ký gần 20 Hiệp định và thỏa thuận về lãnh sự, 16 Hiệp định và thỏa thuận về vấn đề nhận trở lại công dân,… đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Sự ra đời của “Qũy Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam năm 2007 ở nước ngoài” đã cho thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà nước trong công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa với những thay đổi đa dạng, phức tạp về tình hình an ninh, chính trị, những khó khăn như thiên tai, dịch bệnh,chiến tranh,… Đặc biệt là trong thời kỳ dịch bệnh Covid 19 xảy ra, cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraina, … gây ra nhiều ảnh hưởng lớn đến công dân Việt Nam ở nước ngoài Ngoài ra hiện tượng di cư, cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài là khá phổ biến, số lượng các cơ quan đại diện tại nước ngoài còn hạn chế;… gây khó khăn nhiều trong công tác bảo hộ công dân của Việt Nam Chính vì thực trạng trên nên tác giả chọn đề tài “Vấn đề bảo

hộ công dân - Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự dưới góc độ của pháp luật Việt Nam và luật quốc tế ” để làm rõ vấn đề trên và làm bài luận cuối khóa của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam hiện nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được thực hiện bởi các cấp độ khác nhau để đề cập đến vấn đề bảo hộ công dân:

- Nguyễn Công Khanh, Cơ sở pháp luật bảo hộ quyền lợi của công dân Việt Nam ở nước ngoài, Tạp chí luật học, Trường đại học luật Hà Nội, số 5/1997

3 Theo Người Lao Động (2019) Người Việt đi du lịch nước nào nhiều nhất? Vietnamnet.vn Truy cập vào

14/04/2023, từ https://vietnamnet.vn/nguoi-viet-di-du-lich-nuoc-nao-nhieu-nhat-556060.html

Trang 10

-Nguyễn Phú Bình, Bảo hộ quyền lợi của công dân Việt Nam ở nước ngoài, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ ngoại giao, Hà Nội, 1998

- Bùi Quốc Thành, Bảo hộ lãnh sự đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài,

Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ ngoại giao, Hà Nội, 2011

- Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thị Kim Ngân, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc

tế và pháp luật của một số quốc gia- Kinh nghiệm cho Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2018

-Lê Đình Khôi, Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2012; Nguyễn Văn Nhân, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc

tế và pháp luật Việt Nam-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Cần Thơ,Cần Thơ, 2014; Trần Thị Thu Thủy, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học luật Hà Nội, Hà Nội, 2014; Đàm Thị Bích Hạnh, Bảo hộ công dân Việt Nam

ở nước ngoài, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2014;

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ công dân từ đó đề xuất một số giải pháp kiến nghị để nâng cao công tác bảo hộ công dân Trên cơ sở những giải pháp kiến nghị đó người viết hy vọng công tác bảo hộ công dân của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam ngày càng hiệu quả cao hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài bảo hộ công dân là một đề tài rất rộng vì trên thực tế có rất nhiều vấn

đề liên quan đến hoạt động bảo hộ công dân chẳng hạn bảo hộ cho người lao động, bảo hộ trong trường hợp công dân bị bắt giữ ở nước ngoài Tuy nhiên trong phạm

vi bài luận này người viết chỉ tập trung phân tích những vấn đề lý luận của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ trong công dân Đồng thời tìm hiểu thực tế một số trường hợp bảo vệ công dân trên thế giới và Việt Nam

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài và đưa ra kiến nghị giải pháp về bảo hộ công dân người viết đã sử dụng các biện pháp như so sánh, thống kê, hệ thống và phân tích tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan

Phương pháp so sánh sử dụng nghiên cứu, đánh giá điểm tương đồng cũng như khác biệt và mức độ tương thích của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

Phương pháp thống kê được sử dụng nghiên cứu, đánh giá thực tiễn bảo hộ công dân

Phương pháp hệ thống và phân tích tổng hợp là những phương pháp đang sử dụng phổ biến nhất để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về bảo

hộ công dân xuyên suốt các nội dung nghiên cứu của đề tài

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận được chia làm hai chương:

Chương 01: Cơ sở lý luận chung và quy định pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự

Chương 02: Thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam của

cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự - Đề xuất kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 01: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN

NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự

1.1.1 Khái niệm công dân

Công dân là cá nhân, con người cụ thể, có năng lực pháp lý và năng lực hành

vi, có các quyền và nghĩa vụ theo các quy định pháp luật của một quốc gia Căn cứ pháp lý để xác định công dân của một nhà nước nhất định là quốc tịch của người đó

Theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ

1.1.2 Khái niệm bảo hộ

Trong từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu theo hai nghĩa sau: Thứ nhất, bảo hộ có nghĩa là che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất; Thứ hai, bảo hộ

là việc cai trị bằng cách dùng bộ máy chính quyền thực dân đặt lên chính quyền bản

xứ còn tồn tại về hình thức.4 Về ngữ nghĩa, “bảo hộ” là từ ghép giữa “bảo” (giữ gìn)

và “hộ” (giúp đỡ)

Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) cũng đưa ra định nghĩa: “Bảo hộ bao gồm tất cả những hoạt động nhằm đạt được sự tôn trọng hoàn toàn đối với các quyền cá nhân, phù hợp với ngữ nghĩa và tinh thần của các luật khác có liên quan (chẳng hạn như luật về nhân quyền luật nhân đạo luật về người tị nạn, v.v) Các tổ chức về nhân quyền và nhân đạo sẽ kiểm soát quản lý những hoạt động này một cách công bằng và không dựa trên chủng tộc, dân tộc hay sắc tộc, ngôn ngữ hay giới tính”5

4 Hoàng Phê (1997) Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng

5 Sylvie Giossi Caverzasio-Strengthening Protection in War.International Committee of the Red Cross, Central Tracing Agency and Protection Division (2001), trang 19

Trang 13

1.1.3 Khái niệm bảo hộ công dân

Bảo hộ công dân được quy định trong hệ thống pháp luật quốc tế vào hầu hết

hệ thống pháp luật của các quốc gia nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hộ công dân Bảo hộ công dân thường được tiếp cận ở hai góc độ là nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân là các hoạt động thực tiễn mà quốc gia tiến hành nhằm bảo vệ công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyền và lợi ích chính đáng của họ bị xâm hại hoặc quốc gia có các bằng chứng xác định được các quyền và lợi ích của họ đang có nguy cơ bị xâm hại trên thực tế6

Ở góc độ thứ hai, theo nghĩa rộng, bảo hộ công dân là những hoạt động bảo hộ theo nghĩa hẹp, đồng thời bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không

có hành vi xâm hại nào tới công dân của quốc gia này7

Bảo hộ công dân dù được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì cũng đều là hoạt động mà quốc gia thực hiện nhằm bảo vệ hoặc giúp đỡ công dân của mình khi

họ đang ở ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia

Trong định hướng quan trọng của Đảng được xác định rõ trong Nghị quyết

Đại hội XII của Đảng đã nêu: “Giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc

sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước” Trên tinh thần đó, công tác kết nối kiều bào và bảo hộ công dân Việt Nam ở

nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả rõ nét Đảng ta xác

định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực

của cộng đồng dân tộc Việt Nam Tăng cường hơn nữa sự gắn bó của người Việt Nam

ở nước ngoài với đất nước Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích,

6 Trường đại học Luật Hà Nội Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 128

7 Trường đại học Luật Hà Nội, tlđd, tr 129

Trang 14

tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”

1.1.4 Khái niệm ngoại giao và lãnh sự

1.1.4.1 Khái niệm ngoại giao

Ngoại giao là hoạt động của cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền làm công tác đối ngoại nhằm thực hiện chính sách, bảo vệ lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thế giới, góp phần giải quyết các vấn

đề quốc tế chung, bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình khác

1.1.4.2 Khái niệm lãnh sự

Các quy định về lãnh sự trong luật pháp của các nước thường cung cấp hướng dẫn về vai trò và chức năng của các nhiệm vụ lãnh sự, quyền lợi và trách nhiệm của các quan chức lãnh sự, cách thức hoạt động của các cơ quan lãnh sự và các quy định khác liên quan đến hoạt động lãnh sự của quốc gia mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm “Lãnh sự”

Dựa trên cách thức hoạt động, các nhiệm vụ lãnh sự, quyền lợi và trách nhiệm của các quan chức lãnh sự, cách thức hoạt động của các cơ quan lãnh sự và các quy định khác liên quan Từ đó, theo tác giả, Lãnh sự được hiểu là hoạt động của một quốc gia tại nước ngoài thông qua các đại sứ quán, lãnh sự quán và các cơ quan lãnh

sự khác để bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia, đối thoại với chính quyền và các tổ chức của nước ngoài, hỗ trợ và bảo vệ công dân và doanh nghiệp của quốc gia tại nước ngoài Các quy định của các nước về lãnh sự có thể khác nhau tùy thuộc vào cách thức tổ chức và hoạt động của mỗi quốc gia, tuy nhiên định nghĩa chung về khái niệm lãnh sự như trên được hiểu và áp dụng rộng rãi

1.1.5 Khái niệm cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự Thứ nhất, về cơ quan đại diện ngoại giao: cơ quan đại diện ngoại giao là cơ

quan đại diện cao nhất của Nhà nước Việt Nam tại quốc gia tiếp nhận8 Cơ quan đại

8 Khoản 2 Điều 12 Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009( sửa đổi bổ sung năm 2017)

Trang 15

diện ngoại giao có thể thực hiện chức năng đại diện tại một hay nhiều quốc gia hoặc

tổ chức quốc tế và có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ ngoại giao, lãnh sự do quốc gia khác ủy nhiệm.Cơ quan đại diện ngoại giao có trách nhiệm thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại quốc gia tiếp nhận và có quyền kiểm tra hoạt động đối ngoại của cơ quan đại diện lãnh sự tại quốc gia tiếp nhận

Thứ hai, về cơ quan đại diện lãnh sự: cơ quan đại diện lãnh sự thực hiện chức

năng, nhiệm vụ lãnh sự tại khu vực lãnh sự và có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ này ngoài khu vực lãnh sự theo thỏa thuận giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận9 Cơ quan đại diện lãnh sự có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ lãnh sự tại một hay nhiều quốc gia hoặc chức năng, nhiệm vụ lãnh sự do quốc gia khác ủy nhiệm tại quốc gia tiếp nhận và chức năng, nhiệm vụ ngoại giao tại quốc gia tiếp nhận theo thỏa thuận giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và quốc gia tiếp nhận Cơ quan đại diện lãnh sự có trách nhiệm thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại quốc gia tiếp nhận trong trường hợp không có cơ quan đại diện ngoại giao tại quốc gia đó

1.1.6 Khái niệm cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân

Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân là tổng thể nguyên tắc, các thể chế, thiết chế, hình thức vận hành gắn kết với nhau trong một hệ thống nhằm thực hiện trách nhiệm chính trị-pháp lý của nhà nước trong việc thúc đẩy giúp đỡ cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tiến hành bảo vệ khi có sự đe dọa cản trở hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích đó

Theo nghĩa hẹp, “CCPLBHCD là tổng thể nguyên tắc, các thể chế, thiết chế, hình thức vận hành luôn gắn kết với nhau trong một hệ thống nhằm thực hiện trách nhiệm chính trị-pháp lý của nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ và bảo vệ công dân khi có sự đe dọa, cản trở hay xâm hại các quyền cơ bản của họ”

9 Khoản 3 Điều 12 Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009( sửa đổi bổ sung năm 2017)

Trang 16

1.2 Các yếu tố hình thành cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân

1.2.1 Thể chế bảo hộ pháp lý đối với công dân

Thể chế bảo hộ pháp lý cho công nhân là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật được sắp xếp logic, hợp thành một hệ thống, tác động và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

Thể chế bảo hộ pháp lý cho công nhân có những đặc điểm:

Về hình thức là những kiện quốc tế, những văn bản quy phạm pháp luật chứa

đựng những tư tưởng, nguyên tắc, những quy phạm pháp luật tác động điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

Về nội dung, các nguyên tắc, quy phạm này có thể được quy định trong một

hoặc nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong đó có chứa đựng các nội dung cơ bản sau đây:

-Xác định vị trí, tính chất thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

-Xác định đối tượng, phạm vi thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

-Quy định về nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và cách thức biện pháp thực hiện của chủ thể bảo hộ pháp lý cho công dân

-Quy định quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân được bảo hộ, của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong mối quan hệ với công dân được bảo hộ và chủ thể thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

Thể chế bảo hộ pháp lý đối với công nhân được xem xét ở hai mức độ cơ bản: thể chế bảo hộ pháp lý đối với công dân bằng Hiến pháp và thể chế bảo hộ pháp lý đối với công nhân bằng luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

1.2.2 Thiết chế bảo hộ pháp lý đối với công nhân

Thiết chế với ý nghĩa là một bộ phận cấu thành cơ chế bảo hộ pháp lý cho công dân được hiểu là những cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân

Trang 17

Các thiết chế bảo hộ công dân là các cơ quan nhà nước có vai trò quyết định trong cơ chế pháp luật bảo hộ công dân Các thể chế này phải được thiết lập theo nguyên tắc dân chủ và hoạt động của chúng phải được kiểm tra, giám sát bởi cơ quan

tư pháp Tuy nhiên cũng cần phải thừa hưởng vai trò hết sức quan trọng của các tổ chức xã hội với tư cách là thiết chế tham gia vào cơ chế pháp lý bảo hộ công dân nhất

là trong giai đoạn hiện nay

Một số thiết chế bảo hộ pháp lý đối với công dân đặc trưng:

Thiết chế tài phán tư pháp (toà án): trong các thiết chế bảo hộ pháp lý đối với

công dân, tòa án đóng vai trò trung tâm và được xem là thiết chế cơ bản Nguyên tắc quan trọng hàng đầu được đặt ra đối với mọi hệ thống tòa án ở tất cả các quốc gia đó

là nguyên tắc độc lập trong xét xử

Thiết chế dân nguyện: ở nhiều nước trên thế giới, thiết chế Dân nguyện đặc

biệt quan trọng thường do cơ quan lập pháp bằng ra Tên gọi của thiết chế này có thể là: thanh tra Quốc Hội hoặc Ombudsman…

Thế chế bồi thường nhà nước: là thiết chế đặc thù trong CCPLBHCD, thực

hiện việc bảo hộ khi các thủ tục, biện pháp pháp lý thông thường đã không thể phát huy hiệu quả hay đáp ứng yêu cầu bảo hộ

Thiết chế tài phán hiến pháp: cũng là thiết chế đặc thù trong CCPLBHCD, cho

phép công dân yêu cầu tòa án xem xét tính hợp hiến của hành vi, quyết định bị cho là sai trái và xâm phạm đến quyền công dân, khi chết thủ tục, biện pháp pháp lý thông qua tòa án thường không còn phát huy hiệu quả

Các tổ chức xã hội hoạt động và phát triển trong khu hộ của pháp luật

1.2.3 Phương thức thực hiện việc bảo hộ pháp lý cho công dân

Khi thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý cho công dân, chủ thể bảo hộ phải sử dụng những phương thức, biện pháp cụ thể đối với những phương tiện và công cụ nhất định để đạt được mục tiêu của hoạt động, đó là phải là những phương pháp cách thức mà pháp luật quy định cho chủ thể thực hiện hoạt động bảo hộ pháp lý có thể sử dụng để thực hiện bảo hộ pháp lý cho công dân Tổng hợp những cách thức, biện

Trang 18

pháp vận hành và trình tự thực hiện bảo hộ pháp lý cho công dân được gọi là phương thức thực hiện việc bảo hộ pháp lý cho công dân10

1.3 Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự

1.3.1 Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao

Cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện các chức năng sau:11

“Đại diện cho Nước cử đi tại Nước tiếp nhận;

Bảo vệ quyền lợi của Nước cử đi và của công dân Nước cử đi tại Nước tiếp nhận trong phạm vi cho phép của luật quốc tế;

Đàm phán với Chính phủ Nước tiếp nhận;

Tìm hiểu bằng mọi cách hợp pháp các điều kiện và các sự kiện tại Nước tiếp nhận và báo cáo với Chính phủ của Nước cử đi;

Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá và khoa học giữa Nước cử đi và Nước tiếp nhận

Không một điều khoản nào của Công ước này có thể được giải thích như có ý ngăn cản cơ quan đại diện ngoại giao thi hành các chức năng lãnh sự.”

=> Vậy có thể nói rằng vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao là thay mặt nhà nước ở nước ngoài, được thành lập trên cơ sở thỏa thuận nhằm thực hiện chức năng ngoại giao với nước sở tại và với cơ quan đại diện ngoại giao của nước khác ở nước

sở tại Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá và khoa học giữa Nước cử đi và Nước tiếp nhận

Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao còn được thể hiện ở trong Điều 10 Luật Cơ quan đại diện ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2017

“Chỉ đạo, hướng dẫn theo thẩm quyền việc thực hiện thống nhất chính sách đối ngoại đối với đại diện của cơ quan, tổ chức Việt Nam tại quốc gia, tổ chức quốc

10 Phan Thanh Hà (2016) Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân Việt Nam Luận án tiến sĩ Viện Hàn lâm khoa học

xã hội Việt Nam

11 Điều 3 Công ước viên 1961

Trang 19

tế tiếp nhận và đoàn được cơ quan, tổ chức Việt Nam cử đi công tác tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận

Chủ trì, phối hợp tổ chức và trực tiếp tham gia hoạt động đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận

Thực hiện biện pháp thích hợp và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền

về hoạt động của đại diện cơ quan, tổ chức hoặc của đoàn Việt Nam được cử đi công tác tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận không phù hợp với chính sách đối ngoại, làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận

Tổng kết, đánh giá hoạt động đối ngoại tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận; kiến nghị biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam được thực hiện thống nhất ở nước ngoài”

1.3.2 Vai trò của cơ quan đại diện lãnh sự

Các chức năng lãnh sự do các cơ quan lãnh sự thực hiện Các chức năng lãnh

sự còn do các cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện phù hợp với những quy định của Công ước Viên năm 1963

Cơ quan lãnh sự thực hiện các chức năng sau12:

“Bảo vệ tại Nước tiếp nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, pháp nhân và công dân Nước cử, trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép;

Phát triển quan hệ thương mại, kinh tế, văn hoá và khoa học giữa Nước cử và Nước tiếp nhận cũng như thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước phù hợp với các quy định của Công ước này;

Bằng mọi biện pháp hợp pháp, tìm hiểu tình hình và diễn biến trong đời sống thương mại, kinh tế, văn hoá và khoa học của Nước tiếp nhận, báo cáo tình hình đó

về Chính phủ Nước cử và cung cấp thông tin cho những người quan tâm;

12 Điều 5 Công ước viên 1963

Trang 20

Cấp hộ chiếu và giấy tờ đi lại cho công dân Nước cử và cấp thị thực hoặc các giấy tờ thích hợp cho những người muốn đến Nước cử;

Giúp đỡ công dân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân của Nước cử;

Hoạt động với tư cách là công chứng viên và hộ tịch viên và thực hiện những chức năng tương tự, cũng như thực hiện một số chức năng có tính chất hành chính, với điều kiện không trái với luật và quy định của Nước tiếp nhận;

Bảo vệ quyền lợi của công dân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân của Nước

cử trong trường hợp thừa kế di sản trên lãnh thổ Nước tiếp nhận, phù hợp với luật và quy định của Nước tiếp nhận;

Trong phạm vi luật và quy định của Nước tiếp nhận, bảo vệ quyền lợi của những vị thành niên và những người bị hạn chế năng lực hành vi là công dân Nước

cử, đặc biệt trong trường hợp cần bố trí sự giám hộ hoặc đỡ đầu cho những người này;

Phù hợp với thực tiễn và thủ tục hiện hành ở Nước tiếp nhận, đại diện hoặc thu xếp việc đại diện thích hợp cho công dân Nước cử đi trước toà án và các nhà chức trách khác của Nước tiếp nhận, nhằm đưa ra những biện pháp tạm thời phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận để bảo vệ các quyền và lợi ích của các công dân

đó, nếu vì vắng mặt hoặc vì một lý do nào khác, họ không thể kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích của họ;

Chuyển giao các tài liệu tư pháp và không tư pháp, hoặc thực hiện các uỷ thác

tư pháp hoặc uỷ thác lấy lời khai cho các toà án ở Nước cử phù hợp với các điều ước quốc tế hiện hành, hoặc nếu không có những điều ước quốc tế như vậy thì theo bất

cứ cách nào khác phù hợp với luật và quy định của Nước tiếp nhận;

Thực hiện quyền giám sát và thanh tra mà luật và quy định của Nước cử cho phép, đối với tàu thuỷ có quốc tịch Nước cử, tàu bay đăng ký ở Nước này, thuyền bộ

và tổ bay;

Giúp đỡ tàu thuỷ và tàu bay nêu ở mục (k) của điều này, và giúp các thành viên của thuyền bộ và tổ bay trên các tàu thuỷ và tàu bay đó, nhận các lời khai về hành trình của tàu, kiểm tra và đóng dấu giấy tờ của tàu và không ảnh hưởng đến

Trang 21

quyền hạn của nhà chức trách Nước tiếp nhận, tiến hành điều tra các sự kiện xảy ra trong hành trình của tàu và giải quyết các tranh chấp dưới bất cứ dạng nào giữa thuyền trưởng, các sĩ quan và thuỷ thủ trong phạm vi cho phép của luật và các quy định của Nước cử;

Thực hiện các chức năng khác do Nước cử giao cho cơ quan lãnh sự, nếu điều

đó không bị luật và quy định của Nước tiếp nhận ngăn cấm hoặc không bị Nước tiếp nhận phản đối hoặc điều đó được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành giữa Nước cử và Nước tiếp nhận”

Ngoài Công ước 1963 ra thì vai trò của cơ quan đại diện lãnh sự còn thể hiện

rõ hơn ở Điều 8 Luật Cơ quan đại diện ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam và thực hiện các nhiệm vụ lãnh sự được quy định tại Điều này trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế

Thực hiện việc thăm lãnh sự và liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận

Trong trường hợp công dân, pháp nhân Việt Nam không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo pháp luật và thực tiễn của quốc gia tiếp nhận, cơ quan đại diện có thể tạm thời đại diện hoặc thu xếp người đại diện cho họ tại tòa án hoặc

cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận cho đến khi có người khác làm đại diện cho họ hoặc họ tự bảo vệ được quyền và lợi ích của mình

Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp đổi, cấp lại, hủy bỏ các loại hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật

Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, hủy bỏ thị thực và giấy miễn thị thực của Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 22

Thực hiện nhiệm vụ liên quan đến hộ tịch, con nuôi phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên

Thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên; tiếp nhận, bảo quản giấy tờ, tài liệu và đồ vật có giá trị của công dân, pháp nhân Việt Nam khi có yêu cầu và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận

Hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài được cơ quan hoặc người

có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận công chứng, chứng thực để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam; chứng nhận lãnh sự giấy tờ, tài liệu được

cơ quan hoặc người có thẩm quyền của Việt Nam công chứng, chứng thực để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại quốc gia tiếp nhận

Phối hợp với cơ quan hoặc người có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận hoàn thành thủ tục giúp công dân, pháp nhân Việt Nam giải quyết những vấn đề liên quan đến thừa kế tài sản hoặc nhận lại tài sản thừa kế được mở có lợi cho Nhà nước Việt Nam

Tiếp nhận đơn và chứng cứ liên quan của công dân, pháp nhân Việt Nam để chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét, giải quyết

Thực hiện nhiệm vụ liên quan đến quốc tịch phù hợp với quy định của pháp luật

Thực hiện việc đăng ký công dân đối với người có quốc tịch Việt Nam cư trú tại quốc gia tiếp nhận phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế

Thực hiện việc ủy thác tư pháp giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận; chuyển giao, tống đạt hồ sơ, giấy tờ, tài liệu của tòa án hoặc cơ quan tiến hành tố tụng khác có thẩm quyền của Việt Nam cho công dân, pháp nhân Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc gia tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 23

Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên nếu việc thực hiện nhiệm vụ này không ảnh hưởng đến quyền ưu đãi, miễn trừ của cơ quan đại diện và thành viên cơ quan đại diện theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế

Giúp đỡ tàu biển Việt Nam, tàu bay mang quốc tịch Việt Nam và phương tiện giao thông vận tải khác đăng ký tại Việt Nam để bảo đảm tàu biển, tàu bay và phương tiện giao thông vận tải đó được hưởng đầy đủ quyền và lợi ích tại quốc gia tiếp nhận theo quy định của pháp luật của quốc gia tiếp nhận, phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế

Thực hiện nhiệm vụ phòng dịch, kiểm dịch động vật, thực vật phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia tiếp nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế

Thực hiện nhiệm vụ lãnh sự khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên”

=>Từ đó, ta thấy rõ vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự trong bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước ngoài Cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự đều có vai trò quan trọng trong mối quan hệ biện chứng giữa các quốc gia Cả hai cơ quan này đều được thành lập để đại diện cho quốc gia của mình trong các hoạt động ngoại giao và lãnh sự tại quốc gia khác, đồng thời đảm bảo quyền lợi và lợi ích của công dân và doanh nghiệp của quốc gia đó

Tuy nhiên, vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự trong mối quan hệ biện chứng có sự khác biệt nhất định Cơ quan đại diện ngoại giao thường có vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy quan hệ chính trị, kinh tế và văn hóa giữa các quốc gia, đồng thời đưa ra chính sách và lập kế hoạch cho quan hệ song phương Các nhiệm vụ chính của cơ quan đại diện ngoại giao bao gồm xúc tiến hợp tác đa phương, truyền đạt thông tin và kiến thức, đối thoại và giải quyết tranh chấp

Trang 24

Trong khi đó, cơ quan đại diện lãnh sự chủ yếu đảm nhận các nhiệm vụ về pháp lý và lợi ích cá nhân, doanh nghiệp của công dân và đại diện cho quốc gia của mình trong các vấn đề lãnh sự Các nhiệm vụ của cơ quan đại diện lãnh sự bao gồm cấp visa, xử lý các vấn đề hộ chiếu, đảm bảo quyền lợi của công dân nước ngoài tại quốc gia mình đại diện, giải quyết các vấn đề pháp lý và tranh chấp hành chính

Tuy nhiên, cả hai cơ quan đều có sự ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ biện chứng giữa các quốc gia Cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự đều đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ tin cậy và ổn định giữa các quốc gia Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thế giới ngày nay đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức đa dạng và phức tạp, bao gồm các vấn đề chính trị, an ninh, kinh tế, môi trường, văn hóa, xã hội

và y tế Việc giải quyết các thách thức này yêu cầu sự hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia, và đó là nhiệm vụ của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh

sự Đồng thời góp phần xây dựng các hiệp định và hợp tác đa phương, giúp đẩy mạnh thương mại và đầu tư, thực hiện các chương trình hợp tác về khoa học và công nghệ,

và giải quyết các vấn đề toàn cầu Các nhiệm vụ này yêu cầu các nhân viên ngoại giao có kiến thức chuyên môn sâu rộng, khả năng đàm phán và thuyết phục, và kỹ năng quản lý quan hệ với các đối tác ngoại giao

1.4 Nội dung quy định của pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự

1.4.1 Quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ công dân

1.4.1.1 Điều ước quốc tế quy định về bảo hộ công dân

Ở phạm vi toàn cầu, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự được thừa nhận một cách rộng rãi là cơ sở pháp lý quốc tế toàn cầu cho hạnh động bảo hộ công dân Các quy định của hai công ước là căn cứ xác định nguyên tắc bảo hộ công dân, cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân và những biện pháp bảo hộ công dân nói chung là những cơ quan này thực hiện tại nước ngoài cũng như giới hạn chung trong việc thực hiện bảo hộ công dân tại nước sở tại

Trang 25

Ở phạm vi khu vực, phổ biến nhất là các điều ước được ký kết giữa các nước châu âu, chủ yếu giữa các thành viên liên minh châu Âu (EU) Trước hết là những điều ước ghi nhận những quy định mang tính chất nguyên tắc trong học hoạt động bảo hộ công dân như Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu EC (TEC), nay là Hiệp ước thành lập EU (TFEU) năm 2009, Hiến chương về các quyền cơ bản EU năm

2009 Ngoài ra, còn có những điều ước ghi nhận những nội dung pháp lý về bảo hộ ngoại giao, lãnh sự như Công ước châu Âu về chức năng lãnh sự năm 1967… Các quy định này là căn cứ pháp lý xác định thẩm quyền của những cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của một nước thành viên EU trong việc bảo hộ đối với công dân của một nước thành viên EU khác tại một quốc gia thứ ba không phải là thành viên EU trong trường hợp quốc gia thành viên EU là người đó là công dân chưa thiết lập quan hệ đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của mình tại quốc gia thứ ba liên quan

Ở phạm vi song phương, những điều ước về ngoại giao, lãnh sự song phương được ký giữa hai quốc gia là cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động bảo hộ công dân giữa hai bên ký kết như thỏa thuận giữa Áo và Thụy Sĩ về hợp tác lãnh sự năm

1979 hay thỏa thuận giữa Áo và Hungary về hợp tác ngoại giao năm 2005… Nội dung của những điều ước này thường quy định chi tiết về chức năng của cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự tại quốc gia sở tại, trong đó bao gồm cả những nội dung liên quan đến chức năng bảo hộ công dân hoặc quy định về vấn đề bảo hộ công dân

và trợ giúp lẫn sự giữa các bên ký kết

Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề bảo hộ công dân đối với trường hợp đặc biệt

là người hai hay nhiều quốc tịch, cơ sở pháp lý quốc tế được thừa nhận rộng rãi nhất

là Công ước La Haye năm 1930 về xung đột luật quốc tịch Điều 4 Công ước quy định rằng: “Một quốc gia không thể tiến hành những hoạt động bảo hộ đối với công dân nước mình chống lại một quốc gia mà người đó cũng mang quốc tịch”13

13 Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thị Kim Ngân (2018) Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp

luật của một số quốc gia- Kinh nghiệm cho Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học Đại học Luật Hà Nội

Trang 26

1.4.1.2 Tập quán quốc tế quy định về bảo hộ công dân

Công ước Viên năm 1961 và Công ước Viên năm 1963 được thừa nhận rộng rãi là cơ sở pháp lý toàn cầu cho hoạt động bảo hộ công dân Tuy nhiên, trước đó cho đến cuối những năm năm không của thế kỷ XX, nguồn luật điều chỉnh quan hệ ngoại giao, lãnh sự giữa các quốc gia, bao gồm cả những vấn đề thẩm quyền của các cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh đại diện lãnh sự trong hoạt động bảo hộ công dân vẫn chỉ là tập quán quốc tế Hai công ước Viên về quan hệ ngoại giao và quan hệ lãnh sự ra đời là kết quả của quá trình phát triển hóa những tập quán quốc tế

đã tồn tại từ trước đó

Hiện nay, tập quán quốc tế vẫn giữ vai trò quan trọng bởi lẽ mặc dù đã được phát triển hóa trong hai công ước Viên thì bản thân những quy định về hoạt động của các cơ quan đại diện vẫn tồn tại độc lập với tư cách là một tập quán quốc tế và sẽ điều chỉnh các quan hệ có sự tham gia của quốc gia không phải là thành viên của công ước này Mặt khác, nhưng khẳng định trong chính lời nói đầu của hai công ước, những vấn đề chưa được quy định một cách thoả đáng trong công ước Viên sẽ tiếp tục được điều chỉnh bởi tập quán quốc tế

Bên cạnh đó, không ít quy định trong các điều ước quốc tế đa phương cũng được các quốc gia thừa nhận và áp dụng rộng rãi với tư cách như một tập quán quốc

tế, chẳng hạn quy định về bảo hộ ngoại giao đối với người hai hay nhiều quốc tịch trong Công ước La Haye 1930 về xung đột luật quốc tịch

1.4.2.Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ công dân

1.4.2.1 Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của Hiến pháp Vấn đề bảo hộ công dân ở Việt Nam mới được hình thành và phát triển và cũng trải qua những giai đoạn khác nhau, nhưng chỉ thực sự được đánh dấu kể từ khi bắt đầu có những quy định đầu tiên trong các văn bản pháp luật Đầu tiên là quy định tại hiến pháp 1946 “Công dân Việt Nam có quyền… tự do cư trú, đi lại trong nước

và ra nước ngoài.”14

14 Điều 10 Hiến pháp năm 1946

Trang 27

Hiến pháp 1959 đánh dấu cột mốc quan trọng khi lần đầu tiên xuất hiện một

quy định cụ thể về BHCD Điều 36 Hiến pháp 1959 quy định “Nhà nước bảo hộ

quyền lợi chính đáng của Việt kiều” 15 đây có thể nói là chế định quan trọng và có ý nghĩa trong công tác bảo hộ công dân ở giai đoạn này

Ở giai đoạn 1975-1980, bên cạnh những quy định của pháp luật Việt Nam, nhà nước cũng chủ trương tham gia các điều ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực bảo

hộ công dân ở nước ngoài, minh chứng là Công ước viên về quan hệ ngoại giao 1961

mà Việt Nam là thành viên từ năm 1980 Đặc biệt ở giai đoạn này với sự ra đời của

hiến pháp 1980, tại điều 75 một lần nữa nhà nước ta nhắc lại vấn đề: “ Nhà nước bảo

vệ quyền lợi chính đáng của Việt kiều” như một sự tiếp thu của Hiến pháp năm 1959

Hiến pháp 1992 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận

của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan

hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”16 Hiến pháp năm 1992 đã làm rõ hơn về đối tượng bảo hộ ở đây là “ người Việt Nam định cư ở nước ngoài” còn khẳng định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, giữ vai trò trung gian quan trọng giữa Việt Nam với các nước trong quan hệ quốc tế Công tác bảo hộ người Việt Nam định cư ở nước ngoài đặc biệt là hoạt động BHCD luôn cần được quan tâm và chú trọng

Hiến pháp 2013 đã được Quốc hội thông qua Hiến pháp mới kế thừa tinh thần

của những bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 2013 tại Khoản 3 Điều 17 đã ghi nhận

“Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ” và Điều 18 “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn

15 Điều 36 Hiến pháp năm 1959

16 Điều 75 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001

Trang 28

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”

1.4.2.2 Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của các văn bản luật và dưới luật

Bên cạnh Hiến pháp, trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài cũng được quy định trong các văn bản pháp luật quan trọng khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một, Luật quốc tịch năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014: Điều 6 Luật quốc

tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 : “Nhà nước cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài” Đối tượng được hưởng quyền bảo hộ công dân chính là công dân Việt Nam,

người mang quốc tịch Việt Nam theo một trong những căn cứ được quy định tại Điều

14 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) Cũng trong

Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) “Các cơ

quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật

và tập quán quốc tế để thực hiện bảo hộ đó”

Hai, Luật Tổ chức Chính phủ 2015

Điều 21 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của chính phủ trong bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân trong đó có nhiệm vụ: Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan đại diện của nhà nước tại nước ngoài và tại tổ chức quốc tế, bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…;

Ba, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009( sửa đổi bổ sung năm 2017)

Theo quy định của Luật Cơ quan đại diện ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2017, cơ quan đại

Trang 29

diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện nhiều nhiệm vụ trong đó có nhiệm vụ lãnh sự được quy định tại Điều 8 luật này:

“Bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam

Tạm thời đại diện thu xếp người đại diện cho công nhân Việt Nam tại tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận

Thực hiện việc thăm lãnh sự và liên hệ tiếp xúc với công nhân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt giam, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tại quốc gia tiếp nhận

Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh

Phối hợp với cơ quan hoặc người có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận để giúp công nhân Việt Nam hoàn thành giải quyết những vấn đề liên quan đến thừa kế tài sản hoặc nhận lại tài sản thừa kế…”

Điều 9 Luật Cơ quan đại diện năm 2009 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiếp tục quy định về nhiệm vụ của cơ quan đại diện Việt Nam trong việc hỗ trợ và bảo vệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như: tạo điều kiện và hỗ trợ cho người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập với xã hội tại quốc gia tiếp nhận, kiến nghị biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam, ngăn ngừa hành động phân biệt đối xử với cộng đồng người Việt ở quốc gia tiếp nhận…

Bốn, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020

Điều 71 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 quy định trách nhiệm của cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài như sau:

“Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng; xử lý hành vi vi phạm của người lao động Việt Nam đi

Ngày đăng: 26/10/2023, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phan Thanh Hà (2016). Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân Việt Nam. Luận án tiến sĩ. Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân Việt Nam
Tác giả: Phan Thanh Hà
Năm: 2016
4. Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Kim Ngân (2018). Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia- Kinh nghiệm cho Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học. Đại học Luật Hà Nội.IV. Các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia- Kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2018
1. Thái An (2018). Xe chở người Việt trúng bom ở Ai Cập: Thủ tướng chỉ đạo lập tức bảo hộ công dân,vietnamnet.vn, Truy cập ngày 14/04/2023 https://vietnamnet.vn/xe- cho-nguoi-viet-trung-bom-o-ai-cap-thu-tuong-chi-dao-lap-tuc-bao-ho-cong-dan-497569.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xe chở người Việt trúng bom ở Ai Cập: Thủ tướng chỉ đạo lập tức bảo hộ công dân
Tác giả: Thái An
Nhà XB: vietnamnet.vn
Năm: 2018
2. Theo Người Lao Động (2019). Người Việt đi du lịch nước nào nhiều nhất. Vietnamnet.vn. Truy cập vào 14/04/2023, từ https://vietnamnet.vn/nguoi-viet-di-du-lich-nuoc-nao-nhieu-nhat-556060.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt đi du lịch nước nào nhiều nhất
Tác giả: Theo Người Lao Động
Nhà XB: Vietnamnet.vn
Năm: 2019
3. Nghiêm Huê (2020). 190.000 lưu học sinh Việt Nam đang ở nước ngoài: Bộ GD&ĐT khuyến cáo khẩn. Báo Tiền phong. . Truy cập vào 14/04/2023, từ https://tienphong.vn/190000-luu-hoc-sinh-viet-nam-dang-o-nuoc-ngoai-bo-gddt-khuyen-cao-khan-post1223601.tpo Sách, tạp chí
Tiêu đề: 190.000 lưu học sinh Việt Nam đang ở nước ngoài: Bộ GD&ĐT khuyến cáo khẩn
Tác giả: Nghiêm Huê
Nhà XB: Báo Tiền phong
Năm: 2020
4. Lê Hiệp (2021). Bộ Ngoại giao thông tin việc tàu chở dầu mang cờ Việt Nam bị Iran bắt giữ, Báo Thanh niên, Truy cập ngày 14/04/2023 https://thanhnien.vn/bo- ngoai-giao-thong-tin-viec-tau-cho-dau-mang-co-viet-nam-bi-iran-bat-giu-1851397904.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Ngoại giao thông tin việc tàu chở dầu mang cờ Việt Nam bị Iran bắt giữ
Tác giả: Lê Hiệp
Nhà XB: Báo Thanh niên
Năm: 2021
5. Thùy Anh - Anh Tuấn (2021). 10 năm chiến dịch giải cứu công dân ở Libya: 10.200 lao động, 12 chuyến bay và 5 tấn hàng , Báo Quốc tế, Truy cập ngày 15/04/2023 https://baoquocte.vn/10-nam-chien-dich-giai-cuu-cong-dan-o-libya-10200-lao-dong-12-chuyen-bay-va-5-tan-hang-139421.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm chiến dịch giải cứu công dân ở Libya: 10.200 lao động, 12 chuyến bay và 5 tấn hàng
Tác giả: Thùy Anh, Anh Tuấn
Nhà XB: Báo Quốc tế
Năm: 2021
6. TTXVN/Báo Tin tức (2021). Bảo hộ công dân trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Báo Tin tức, Truy cập ngày 14/04/2023 https://baotintuc.vn/thoi-su/bao-ho-cong-dan-trong-boi-canh-dai-dich-covid19-20210205112034430.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ công dân trong bối cảnh đại dịch COVID-19
Tác giả: TTXVN, Báo Tin tức
Nhà XB: Báo Tin tức
Năm: 2021
7. An Nhi (2022). Năm 2021 Việt Nam có hơn 45.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Báo Dân trí. Truy cập vào 14/04/2023, từ https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/nam-2021-viet-nam-co-hon-45000-lao-dong-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-20220115115758687.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2021 Việt Nam có hơn 45.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài
Tác giả: An Nhi
Nhà XB: Báo Dân trí
Năm: 2022
8. Nguyễn Thảo (2022). Toàn cảnh vụ án 'chuyến bay giải cứu' đến ngày 31-12- 2022, Báo Pháp luật, Truy cập ngày 24/04/2023 https://plo.vn/toan-canh-vu-an-chuyen-bay-giai-cuu-den-ngay-31-12-2022-post714327.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh vụ án 'chuyến bay giải cứu' đến ngày 31-12-2022
Tác giả: Nguyễn Thảo
Nhà XB: Báo Pháp luật
Năm: 2022
9. Phóng viên (2022). Bộ Ngoại giao thông tin về công tác bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine, SOHA, Truy cập ngày 15/04/2023 https://soha.vn/bo-ngoai-giao-thong-tin-ve-cong-tac-bao-ho-cong-dan-viet-nam-tai-ukraine-20220302232857679.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Ngoại giao thông tin về công tác bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine
Tác giả: Phóng viên
Nhà XB: SOHA
Năm: 2022

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w