1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

66 15 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Linh
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Anh Đào
Trường học Học Viện Hành Chính Quốc Gia
Chuyên ngành Luật - Chuyên Ngành Thanh Tra
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sf sdfs df sd fssssssssssssssssss sdf sdfs df acfdsssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssss àdddddddddddddddddddddddddddddddddddd àdsssssssafsdggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggg gggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggg

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Linh

Lớp/Khoa: Luật- chuyên ngành Thanh tra/ Nhà nước và Pháp luật

Cán bộ hướng dẫn: TS Phạm Thị Anh Đào

Hà Nội – 2023

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Nhóm nghiên cứu xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học với đề tài “Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu mà nhóm tự viết, hoàn thiện độc lập,

không sao chép của bất cứ ai, các số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu là trung thực

và hoàn toàn chính xác

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn đã quan tâm, chỉ bảo tận tình, hướng dẫn nhóm trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn đề tài không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng chấm thi, các giảng viên để đề tài nhóm nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

TM Nhóm nghiên cứu Chủ nhiệm đề tài

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Kết cấu của đề tài 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 9

1.1 Khái quát về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân 9

1.1.1 Khái niệm quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân 9

1.1.2 Đặc điểm của quyền tham gia quản lý Nhà nước 10

1.1.3 Cơ sở hình thành quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân 11

1.1.4 Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân 14

1.2 Khái quát về bối cảnh chuyển đổi số 17

1.2.1 Khái niệm bối cảnh chuyển đổi số 17

1.2.2 Đặc điểm của chuyển đổi số 18

1.2.3 Bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay 19

1.3 Tác động của chuyển đổi số trong thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân 23

1.3.1 Tác động tích cực 23

1.3.2 Tác động tiêu cực 24

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG DÂN THỰC HIỆN QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27

2.1 Thực trạng công dân tham gia quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay 27

2.1.1 Các hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay 27

Trang 5

2.1.2 Các hình thức công nghệ áp dụng trong việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện

nay 40

2.2 Đánh giá việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số 43

2.2.1 Ưu điểm 43

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 43

Tiểu kết chương 2 48

Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 49

3.1 Bảo đảm ổn định chính trị 49

3.2 Bổ sung, hoàn thiện chế định pháp luật 50

3.3 Bảo đảm về kinh tế và xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số 51

3.4 Tích cực đẩy mạnh số hóa trong tổ chức nhà nước (chính phủ số) 52

3.5 Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, vận động, thúc đẩy hình thành công dân số 53

3.6 Không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức 54 Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là một quyền chính trị cơ bản, thể hiện tầm quan trọng, quyền làm chủ của công dân trong việc xây dựng và quản lý nhà nước Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân được coi là thước

đo sự dân chủ, sự tự do và tiến bộ xã hội, thể hiện bản chất và cơ chế nhà nước của một quốc gia Để thực hiện và đảm bảo thực hiện quyền này, trước hết cần có sự quản lý, điều hành chặt chẽ, toàn diện, hiệu quả của Nhà nước, đồng thời có sự hiểu biết, tích cực, tự giác thực hiện và phối hợp thực hiện của người dân Sự tiên quyết của Nhà nước trong thừa nhận quyền, đảm bảo thực thi và bảo vệ quyền thể hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân, với cơ chế hoạt động, sự ổn định

và phát triển của đất nước Sự đóng góp của nhân dân vào các quyết định, các hoạt động quản lý Nhà nước chính là chìa khóa cho việc xây dựng một xã hội công bằng

dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế- xã hội Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai

đoạn 2021 - 2030 với mục tiêu được đề ra là đảm bảo tiếp tục xây dựng một nền

hành chính dân chủ và hiện đại cũng như tinh gọn và hiệu quả để phục vụ nhân dân trên những chủ trương vốn có của Đảng và Nhà nước đã đặt ra trước đó Đồng thời đẩy mạnh công cuộc đổi mới Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa của nhân dân, lấy nhân dân làm gốc trong giai đoạn 2021- 2030

Tuy nhiên, trước sự thay đổi không ngừng của xã hội, của tư duy con người, đặc biệt là trước bối cảnh chuyển đổi số trong thời đại 4.0 hiện nay, yêu cầu sự nhạy bén, tiếp thu và thay đổi có chọn lọc được đặt ra với mọi chủ thể, vấn đề của xã hội,

và quyền tham gia quản lý nhà nước cũng vây Có thể thấy, thời đại 4.0 ngày nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã đem đến cho con người vô vàn tiện ích, hỗ trợ và thay thế cho con người trong rất nhiều lĩnh vực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hiệu quả công việc và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức Trong đó, chuyển đổi số là một trong những hoạt động đang được mọi quốc gia thúc đẩy phát triển và tích hợp ngày càng sâu rộng trong mọi lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu quả công việc bằng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến Chuyển đổi số đã từng bước thay đổi hình thức, cơ cấu nhiều hoạt động của con người, giúp thu hẹp khoảng cách địa lý; bình đẳng và văn minh hơn khi tiếp cận

Trang 7

thông tin, dịch vụ; và chính từ sự thay đổi đó đòi hỏi sự tương xứng, đồng bộ nhất định giữa những hoạt động mang tính đặc thù với hình thức mới tiện ích Việt Nam chúng ta cũng đang trên đà phát triển, chuyển đổi số đang dần được đẩy mạnh và là quá trình mang tính lâu dài, bền bì, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước luôn phải đảm bảo các tiêu chí, đảm bảo các nguyên tắc hoạt động, các quyền của công

dân

Với Quyết định 06/QĐ-TTg năm 2022 của Thủ tướng Chính Phủ về việc Quyết định phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2022-2025 Tầm nhìn đến năm 2030, đã cho thấy được tầm quan trọng của Chuyển đổi số trong tương lai

Với 7 quan điểm chủ đạo được đề ra trong đó có khẳng định công dân là trung tâm của chuyển đổi số, cần lấy con người và mục đích dân sinh là mục đích hàng đầu

mà chuyển đổi số hướng đến Chuyển đổi số quốc gia mang lại nhiều lợi ích trước mắt và sau này đối với Chính Phủ điện tử và hướng tới xa hơn là Chính Phủ số giai đoạn 2020-2030

Tuy nhiên, giữa cái mới và cái cũ luôn có những điểm mâu thuẫn nhất định cần tháo gỡ sửa đổi để phù hợp hơn Giữa những quy định pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân đã có từ trước với thực tiễn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số tồn tại nhiều vấn đề, vướng mắc như quy định pháp luật về hình thức thực hiện quyền chủ yếu là truyền thống, trực tiếp, bằng văn bản, Và để đảm bảo thực hiện quyền này trong bối cảnh mới – bối cảnh chuyển đổi số đòi hỏi sự đối sánh, nghiên cứu dưới nhiều góc độ và đưa ra những đánh giá toàn diện, khách quan, có đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể cho vấn đề

Chính vì lý do đó đã thúc đẩy nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Các công trình nghiên cứu về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân

Trong bài “Quyền con người về nhóm quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 – Cơ chế đảm bảo và giải pháp thực hiện” tác giả Nguyễn Ngọc Minh Anh đã nêu ra những khái niệm và thực trạng đảm bảo quyền chính trị,

Trang 8

dân sự ở Việt Nam hiện nay Đối với quyền chính trị, tác giả nêu lên quy định tại Hiến pháp Việt Nam về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, đưa ra số liệu

về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội Đồng Nhân Dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 để đánh giá việc thực hiện quyền của công dân Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp đảm bảo quyền ở Việt Nam như: nâng cao vai trò lãnh đạo, nâng cao chất lượng tuyên truyền, tăng cường đối thoại trong nước và quốc tế, [1]

Cuốn sách "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp – Cơ sở lý luận và thực tiễn" (2017) của tác giả Phan Trung Lý và Đặng Xuân Phương (Đồng chủ biên) đã nghiên cứu về bầu cử và bãi miễn đại biểu với tính chất là một hình thức của dân chủ trực tiếp Xuất phát từ cách tiếp cận này, các tác giả đã đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu như: Trách nhiệm của Nhà nước tổ chức để người dân thực hiện quyền bầu cử và 9 ứng cử; thẩm quyền của hội nghị hiệp thương; vấn đề thẩm tra, xác nhận tư cách đại biểu;

cơ chế bảo đảm quyền bầu cử khi có khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bầu cử; xây dựng cơ chế pháp lý để cử tri bãi nhiệm đại biểu dân cử [7]

Trong bài “Đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở Việt Nam” trên Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, tác giả Phạm Tuấn Anh đã phân tích vai trò của Nhà nước, những hạn chế, bất cập và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền tham gia quản

lý nhà nước của công dân trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế sâu rộng [2]

Tác giả Phan Văn Ngọc với “Đổi mới chế độ bầu cử Đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” đã nêu lên cơ sở lý luận đổi mới chế độ bầu cử Đại biểu Quốc hội

ở nước ta rất chi tiết, cụ thể Đồng thời tác giả cũng nêu lên những kinh nghiệm đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở một số quốc gia trên thế giới cùng với đánh giá những hạn chế, bất cập trong công tác này ở nước ta Từ đó, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp đổi mới, trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bầu cử, xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động bầu cử và quản lý [11]

Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta phù hợp với Hiến pháp mới” do Đặng Đình Luyến làm chủ nhiệm đã phân tích vai trò

Trang 9

của chế độ bầu cử, nghiên cứu chế độ bầu cử và bước đầu phân tích các quy định trong Hiến pháp 2013 có liên quan đến bầu cử, đánh giá sự tương thích, phù hợp giữa các quy định giữa pháp luật với Hiến pháp mới Đề tài đã chỉ ra những vấn đề nghiên cứu trọng tâm đó là: Khắc phục tình trạng bầu hộ, bầu thay; Tạo điều kiện

để công dân Việt Nam ở nước ngoài tham gia bầu cử; [8]

Trong “Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo”, tác giả Trần Thị Thúy Mai tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về tiếp công dân, thực trạng công tác tiếp dân, từ đó đưa ra các quan điểm, đề xuất giải pháp đổi mới công tác tiếp dân trong giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính [9]

“Khiếu nại, tố cáo hành chính - cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp”, nghiên cứu của tác giả Lê Tiến Hào đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là dưới góc độ pháp lý và chính trị, tác giả đã cho thấy tác động to lớn từ những bất cập, hạn chế của công tác giải quyết khiếu nại tố cáo Bên cạnh đó, tác giả đã có sự nhìn nhận những vấn đề mới đặt ra với công tác giải quyết khiếu nại tố cáo trong bối cảnh trước những yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Từ đó, tác giả đề ra định hướng và giải pháp đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của quy định về khiếu nại tố cáo hành chính, tạo điều kiện cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền của mình [5]

Hoàng Ngọc Dũng với bài “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam đã nêu lên tầm quan trọng của quyền khiếu nại của công dân đồng thời cho thấy nhiều mặt hạn chế, khó khăn tồn đọng trong việc thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền này ở Việt Nam Thông qua sự nghiên cứu, đánh giá chuyên sâu về quyền khiếu nại, tác giả đã đưa ra được nhiều giải pháp đảm bảo quyền này trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay rất chi tiết và thiết thực, có thể kể đến như: hoàn thiện cơ chế pháp luật phải bắt đầu từ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tiếp tục đổi mới công tác tiếp dân, nâng cao năng lực, phẩm chất công chức tiếp nhận khiếu nại, [4]

Trong “Chế độ bầu cử dân chủ” của tác giả Trần Nho Thìn trên Kỷ yếu Hội thảo "Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam” đã nêu lên những cơ sở và một số đánh giá về chế độ bầu cử [13]

2.2 Các công trình nghiên cứu về chuyển đổi số

Trang 10

Bài viết “Chuyển đổi số trong cải cách hành chính tiến tới xây dựng Chính phủ số” trên trang điện tử Báo Lao Động đã khái quát những nội dung liên quan tới chuyển đổi số trong Hội nghị “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa phương thức chỉ đạo, điều hành phục vụ người dân, doanh nghiệp” ngày 15/09/2022 do Văn phòng Chính phủ tổ chức, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Tại hội nghị, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi số trong cải cách hành chính, tiến tới xây dựng chính phủ số, công dân số [33]

Trên Báo Nhân dân, trong bài viết “Chuyển đổi số - “nền tảng” nâng cao chất lượng đảm bảo cho quyền lợi an sinh xã hội cho người dân” đã nêu lên bối

cảnh năm 2021 đầy khó khăn và thách thức dưới tác động nặng nề của hậu quả Covid -19 Từ đó nêu lên tầm quan trọng của quyền lợi xã hội của người dân, Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin chuyển đổi số trở thành nền tảng, cầu nối hữu hiệu nhất nhằm đảm bảo và nâng cao quyền lợi của nhân dân [39]

Trong “Going Digital: Making The Transformation Work For Growth And Well-Being của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nêu lên dự án

“Going Digital” với mục tiêu hợp tác, liên kết với các chính phủ, doanh nghiệp, lao động và xã hội dân sự để xây dựng các chính sách nhằm khai thác sức mạnh của cuộc cách mạng kỹ thuật số cho các thành viên của tổ chức và mang lại lợi ích chung toàn cầu [31]

Trong bài viết “Chuyển đổi số - Những tác động đến xã hội con người (phần 1)” trên trang thông tin Cục Chuyển đổi số quốc gia có đề cập đến những trụ cột chính của của cuộc cách mạng số, đồng thời cho thấy những trụ cột này gắn liền với các yêu tố kinh tế - xã hội, văn hóa – chính trị, có những tác động nhất định đến xã hội con người như trong lĩnh vực giáo dục, bảo vej môi trường, cơ hội bình đẳng, tiếp cận dịch vụ, [40]

Trong Báo Cáo Tham Luận Chuyển đổi số Quốc Gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2033 nhiệm vụ trọng tâm cho Ngành Tài nguyên và Môi trường có trình bày công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ chuyển đổi

số ngành tài nghuyên và môi trường Để đạt được các mục tiêu và triển khai thành công các nhiệm vụ trọng tâm đã đặt ra, Chương trình chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường đã xác định 08 nhóm giải pháp, trong đó nhóm giải pháp nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo được

Trang 11

coi là nhóm giải pháp có vai trò quan trọng, là tiền đề để triển khai các nhiệm vụ, cần được ưu tiên thực hiện [41]

Các nghiên cứu về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân và chuyển đổi số được các tác giả tiếp cận, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, đồng thời đưa ra nhiều lý luận, thực tiễn và đề xuất phương hướng, giải pháp cho vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Do đó, đây là một đề tài hoàn toàn mới và cần được quan tâm, nghiên cứu, khai thác sâu hơn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra đề xuất các giải pháp đảm bảo việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam Mong muốn đề tài trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập về hoạt động quản lý nhà nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Một là: Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tham gia quản lý nhà nước

của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số

+ Hai là: Đánh giá thực tiễn công dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm để đề ra những giải pháp để đảm bảo quyền tham gia quản lý Nhà nước

+ Ba là: Đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi

số ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài đề cập đến những quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân bao gồm các quyền: Quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền khiếu

Trang 12

nại, quyền tố cáo; quyền giám sát; quyền tham gia xây dựng văn bản pháp luật của công dân; quyền tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước

- Phạm vi về không gian: Bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và các chế định đảm bảo, bảo vệ quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, đặc biệt trong bối cảnh mới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chung: Dựa vào phương pháp này cho phép nghiên cứu, xem xét pháp luật một cách khoa học toàn diện và là cơ sở để thực hiện việc áp dụng, thi hành pháp luật trong đời sống xã hội Phương pháp chung sẽ bao gồm các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp quy nạp và diễn dịch; Phương pháp lịch sử và logic;

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá tài liệu qua các nghiên cứu trước để kế thừa, chọn lọc và xây dựng tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề và hệ thống lý luận cho đề tài;

- Phương pháp so sánh luật học: sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật và thực tiễn quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở Việt Nam;

- Phương pháp phân tích tài liệu: có thể hiểu là thông qua việc tiếp xúc những tài liệu sẵn có qua đó có thể nắm bắt một phần hoặc toàn bộ sự vật, hiện tượng liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Ngoài ra còn một số phương pháp khác như phương pháp tiếp cận hệ thống-cấu trúc; Phương pháp mô hình hóa;

6 Đóng góp của đề tài

- Đề tài làm rõ thêm về cơ sở lý luận về quyền tham gia quản lý Nhà nước của

công dân trong bối cảnh chuyển đổi số

- Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập

về hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số

Chương 2: Thực trạng công dân thực hiện quyền quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp bảo đảm việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.1 Khái quát về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân

Trường đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông trong

“Nghiên cứu xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực thông tin và truyền thông” cho rằng: “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước, do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội,

và hành vi hoạt động của công dân” [14]

Trong bài viết “Quản lý Nhà nước – Cơ hội việc làm vô cùng hấp dẫn” trên Cổng thông tin tuyển sinh Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam có đề cập: “Quản

lý nhà nước là cụm từ chia thành hai về Quản lí và Nhà nước Đó là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và phát triển đất nước theo hướng tích cực Hoạt động quản lí nhà nước được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước”[34]

Trong bài “Một số vấn đề lý luận về phân cấp quản lý nhà nước” trên trang điện tử kỷ niệm 75 năm Ngành Tư pháp Việt Nam, Quản lý nhà nước: “hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản

lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước)”[35]

Theo từ điển tiếng Việt, quyền công dân được hiểu là “quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền kinh tế văn hóa -

xã hội” [12]

Trong bài “Đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở Việt Nam”của tác giả Phạm Tuấn Anh nêu rằng: “Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là một quyền chính trị - pháp lý quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta” [2]

Từ những khái niệm, quan điểm trên và trong phạm vi của đề tài, nhóm

nghiên cứu mạnh dạn đưa ra khái niệm như sau: Quyền tham gia quản lý nhà nước

Trang 15

của công dân là một trong những quyền chính trị quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Trong đó, công dân được tham gia quản lý nhà nước thông qua những quyền cụ thể như: Bầu cử, ứng cử; khiếu nại, tố cáo; và được đảm bảo thực hiện trong khuân khổ Hiến pháp và pháp luật, nhằm phát huy quyền làm chủ của công dân và góp phần ổn định, phát triển đất nước”

1.1.2 Đặc điểm của quyền tham gia quản lý Nhà nước

Quyền tham gia quản lý Nhà nước là quyền cơ bản của công dân về lĩnh vực chính trị được pháp luật ta tôn trọng và bảo vệ Bởi thế quyền tham gian quản lý Nhà nước của công dân cũng có những đặc điểm nổi bật Điều này cho phép công dân có thể tham gia vào việc quản lý quản lý nhà nước của quốc gia thông qua các quyền cụ thể như quyền bầu cử ứng bầu cử, tạo ra các nhóm người dân, hoặc tham gia vào các hoạt động cộng đồng

Một là, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân mang đặc điểm

quyền chính trị Bản thân quyền này là một trong các quyền chính trị nên mang đầy

đủ các đặc điểm, tính chất của quyền chính trị như: gắn bó mật thiết với chế độ chính trị, với quyền lực nhà nước; đảm bảo tính công khai, tôn trọng quyết định đa số; tôn trọng quy định pháp luật quốc tế;

Hai là, Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân đa dạng về hình thức

thực hiện Có thể thấy, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp, với các quyền cụ thể như: Quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước; quyền trực tiếp như khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyền tố cáo các việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức;

Ba là, Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân được thể chế hóa

trong Hiến pháp và Pháp luật, được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ bằng quyền lực Nhà nước Tất cả các hoạt động liên quan đến quyền này đều phải tuân theo nguyên tắc công bằng và công lý, phải được Nhà nước và pháp luật công nhận, được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể

Bốn là, Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân mang tính dân chủ

Trong đó, người dân thể hiện quyền làm chủ, thể hiện vai trò của mình trong phạm

vi luật định đối với hoạt động của Nhà nước, đảm bảo nền dân chủ mà đất nước đang xây dựng, đảm bảo Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Trang 16

Trên các cơ sở quy định về quyền công dân, công dân có thể tham gia tích cực vào mọi lĩnh vực của quản lý Nhà nước và xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng, công bằng dân chủ và văn minh

1.1.3 Cơ sở hình thành quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân

Một là, xuất phát từ bản chất nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

Năm 1946 mốc đánh dấu lịch sử của dân tộc Việt Nam, khi lần đầu tiên Hiến pháp 1946 ra đời đã xác nhận tư cách công dân của người dân Việt Nam của nhà nước độc lập, có chủ quyền với các quyền cơ bản của công dân Đây là bản Hiến pháp có ý nghĩa bản lề thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân Tại điều 7 của Hiến pháp quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng

và đức hạnh của mình” Qua đó lần đầu tiên khẳng định tầm quan trọng của nhân dân trong công cuộc tham gia quản lý Nhà nước [16]

Trong bài báo “Dân vận” năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới bút danh

X.Y.Z khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành

và lực lượng đều ở nơi dân.” Qua đó đã phần nào khẳng định được vị trí của nhân

dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ chức đất nước [10]

Hiến pháp năm 1959 thêm một lần khẳng định sự phát triển mới trong việc ghi nhận quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân dưới góc dộ chính trị và thêm đảm bảo pháp lý cho điều đó Vốn dĩ nhiệm vụ của giai đoạn này là xây dựng

xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và đấu tranh giải phóng ở miền nam, tiền tới thống nhất đất nước Hành động ghi nhận quyền cơ bản của công dân cũng là để phục vụ chiến lược cách mạng Vì thế tại đây đã ghi nhận những quyền mới của công dân như quyền khiếu nại, quyền tố cáo…[17]

Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện nước nhà thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Tại Điều 6 Chương I của bản Hiến pháp khẳng định nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Bên

Trang 17

cạnh đó, tại Điều 56 Hiến pháp này còn quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội.” [18]

Hiến pháp năm 1992 trong thời điểm mà sự nghiệp đổi mới từ năm 1986

đang đòi hỏi việc tiếp tục với nội dung sâu sắc và toàn diện hơn, nhằm đưa đất nước

ta tiến tới một giai đoạn phát triển mới và giành được những thành tựu tuy mới

bước đầu nhưng rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực So với bản Hiến pháp 1980

rõ ràng Hiến pháp 1992 là một bản đổi mới, hoàn thiện, có kế thừa và bổ sung một cách hoàn chỉnh hơn Đó là sự hoàn thiện về các điều luật nói chung và quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân nói riêng, như tại Điều 53 của bản Hiến pháp:

“Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” [19]

Cuối cùng, tại bản Hiến pháp hiện hành của nước ta - Hiến pháp 2013, được

ra đời trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhằm thể chế hóa hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Theo đó Hiến pháp năm 2013 ra đời trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 nhưng quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về các quyền chính trị của công dân [20]

Qua sự hình thành và phát triển của 5 bản Hiến pháp, ta nhận thấy cơ sở căn bản của Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, công bằng dân chủ, đặt dân lên trên hết

Hai là, xu hướng dân chủ trong hoạt động chính trị

Nhà nước Việt Nam với bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, đây hơn hết còn là mục tiêu, là động lực phát triển của quốc gia Sự tuyệt đối của chủ nghĩa xã hội so với tư bản không chỉ là việc xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, không phân hóa giai cấp, vượt qua dân chủ tự sản thể hiện quyền làm chủ thực

sự của nhân dân Cũng bởi lẽ đó xu hướng ngày càng dân chủ trong hoạt động chính trị nói chung, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ngày càng được đề cao và chú ý

Trang 18

Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật được tôn trọng và đặt lên hàng đầu mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, công bằng , phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đứng dưới cơ sở đó nhân dân càng chắc chắn hơn về quyền lợi của mình Thực hiện quyền giám sát các hoạt động của cơ quan một cách chặt chẽ hơn, đồng thời về phía các cơ sở lãnh đạo cũng cần thực hiện một cách công khai đi kèm theo

sự minh bạch, thực chất, trách nhiệm để phát huy tối đa sự hiệu quả của nhiệm vụ

Ba là, quyền con người ngày càng được đề cao

Thế giới đang ngày càng phát triển bởi vậy đi kèm với sự bùng nổ của nền kinh tế chính là sự ngày một hoàn thiện của đời sống xã hội Theo đó xu hướng quyền con người ngày càng được đề cao

Đứng trước sự phát triển của nền văn hóa phẩm chất con người ngày càng biết và hiểu nhiều hơn về quyền của mình: Nền văn hóa phẩm chất là một yếu tố quan trọng để nâng cao quyền con người, bởi đó là những gì đang phát triển tích cực bên trong mỗi cá nhân người dân chúng ta, nhận thức rõ đâu là quyền lợi đâu là trách nhiệm Điều đó cung cấp cho cộng đồng một sự hiểu biết về quyền và nghĩa

vụ trách nhiệm của mình Làm đẹp cho bản thân không chỉ ở bên ngoài mà làm đẹp cho cả con người bên trong mình Không thể không kể đến sự đóng góp lớn mạnh của kinh tế đã thúc đẩy xu hướng quyền con người được nâng cao Nền kinh tế càng

tự do phát triển công dân càng có thể tự do hơn trong việc sử dụng quyền lợi của mình Đặc biệt khi công dân nắm trong tay nền kinh tế tự do, họ sẽ tự tin hơn đứng lên đòi lại quyền lợi cũng như bảo vệ nó một cách tốt hơn

Bên cạnh đó sự phát triển của chính trị chính là một chất xúc tác giúp cho quyền con người ngày càng được đề cao và bảo vệ Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ngày càng được quan tâm, đời sống xã hội của nhân dân ngày càng được chú trọng Đảng và Nhà nước đưa ra rất nhiều những chính sách phát triển để nâng cao quyền lợi của nhân dân, bởi lẽ đó mà xu hướng quyền con người càng được nâng cao Sự phát triển của giáo dục cũng giúp cho xu hướng về quyền con người bùng nổ Nền giáo dục nước nhà phát triển mạnh mẽ, không chỉ vậy mà còn phát triển trên nhiều hình thức, giáo dục qua nhiều phương tiện, kênh thông tin khác nhau đã giúp cho công dân ngày càng hiểu rõ hơn về quyền con người Biết mình có

Trang 19

quyền gì, biết quyền của mình được thực thi và bảo đảm như thế nào giúp công dân

có thể bảo vệ chính mình một cách tốt hơn, từ đó quyền con người đối với công dân luôn quen thuộc và sâu sắc hơn Cuối cùng, dưới sự tham gia của cộng đồng, của truyền thông đại chúng những trường hợp liên quan đến quyền của công dân được lan truyền nhanh chóng, được nhiều người biết tới một khi quyền con người bị xâm phạm hoặc bị giải quyết một cách không thỏa đáng cộng đồng sẽ tích cực tham gia vào việc bảo vệ quyền con người

Chính bởi những yếu tố trên, xu hướng phát triển nhằm nâng cao quyền con người nói chung và quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân nói riêng ngày càng được chú trọng Điều này đóng vai trò cơ sở để thực hiện, bảo đảm thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

1.1.4 Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân

Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, gồm hình thức tham gia trực tiếp và hình thức gián tiếp Các quyền cụ thể bao gồm:

Một là, quyền bầu cử và quyền ứng cử

Điều 27 Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định: “Công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định” [20] Điều 2 Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy luật của Luật này.” [21]

Có thể thấy, quyền bầu cử là quyền của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước Quyền bầu cử bao gồm việc đề cử giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, tức là quyền chủ động trong lụa chọn người đại diện cho mình của công dân

Quyền bầu cử không chỉ là quyền của công dân mà còn như một nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân Bởi nếu công dân không thực hiện quá trình bầu cử thì không thể thành lập các cơ quan lập pháp, hành pháp như luật định Nếu không có bầu cử thì không có đại biểu Quốc hội từ đó không thể thành lập các cơ quan, không

Trang 20

thể thực hiện việc bầu các chức danh khác theo pháp luật, không thể hình thành Nhà nước Không có nhà nước thì không thể thực hiện các nhiệm vụ đối nội, đối ngoại, cũng như phát triển đất nước, không đảm bảo được nguyên tắc là nhà nước: “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”

Quyền ứng cử là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo đảm để một công dân có thể tự ghi tên vào danh sách ứng cử viên để được bầu trong cuộc bầu cử làm đại biểu của cơ quan dân cử hoặc làm lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội Công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Hai là, quyền khiếu nại, quyền tố cáo và quyền giám sát

Khiếu nại được xem là quyền cơ bản của công dân, cá nhân có quyền khiếu nại khi có căn cứ, bằng chứng cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Tại khoản 1, Điều 30, Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [20] Căn cứ tại Điều 2, Luật khiếu nại

2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành

vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [22]

Theo Luật tố cáo 2018 tại khoản 1, Điều 2 quy định: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ” Theo đó, các hành vi bị tố cáo bao gồm

hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực [23]

Trang 21

Quyền giám sát là một trong những quyền cơ bản của công dân được hiểu là

sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động mang tính thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả từ trước đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh Căn cứ

tại khoản 2, Điều 8, Hiến pháp 2013: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu trạn chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.” [20]

Ở đây công dân thực hiện việc theo dõi quá trình, hoạt động làm việc của cơ quan Nhà nước ở nơi mình sinh sống, cư trú Điều này cũng thể hiện một cách cụ thể và sâu sắc hơn mối quan hệ tương tác giữa nhân dân với công tác hoạt động của

bộ máy Nhà nước Là sự khẳng định một nhà nước công bằng, dân chủ, văn minh,

cơ quan Nhà nước hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, từ đó chất lượng công việc tăng lên, tạo điều kiện tối đa cho sự phát triển kinh tế, đời sống ở Việt Nam

Ba là, quyền tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước

Thảo luận và biểu quyết các vấn đề trọng đại khi Nhà nước tổ chức trưng cầu

ý dân Căn cứ tại Khoản 1, Điều 4, Luật trưng cầu ý dân 2015 quy định: “Bảo đảm

để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.” [24]

Bên cạnh đó bằng cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhân dân được thông tin đầy đủ về chính sách, pháp luật nhà nước, trên cơ sở đó bàn bạc

và quyết định trực tiếp những công việc thiết thực, cụ thể gắn liền với quyền lợi và nghĩa vụ của người dân ở ngay cơ sở nơi họ sinh sống bao gồm: Những việc dân bàn và quyết định trực tiếp như chủ trương và mức đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi công cộng hoặc cơ sở hạ tầng; xây dựng hương ước, quy ước ; Những việc dân được thảo luận, tham gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết

định như dự thảo quy định, kế hoach phát triển kinh tế - xã hội của xã, quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương; các đề án định canh định cư, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đầu tư xậy dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý…

Bốn là, quyền tham gia xây dựng văn bản pháp luật của công dân

Trang 22

Nhân dân chủ yếu tham gia quản lý Nhà nước bằng cách tham gia thảo luận góp ý kiến xây dựng các văn bản pháp luật quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền

và lợi ích cơ bản của công dân như Hiến pháp, văn bản Luật chung, văn bản Luật tư…Trong quá trình thực hiện pháp luật, nhân dân có quyền và trách nhiệm đóng góp ý kiến, phản ánh với Nhà nước về những bất cập Thông qua các buổi Hội nghị, nhân dân đóng góp ý kiến để sửa đổi, bổ sung cũng như hoàn thiện Hiến pháp, các văn bản luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Tất cả nhằm để quyền và lợi ích của nhân dân được đảm bảo một cách tuyệt đối

Điều 6 Luật Ban hành Văn bản quy định pháp luật năm 2015, quy định:

“…cá nhân có quyền và được tạo điều kiện góp ý về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật các cơ quan,

tổ chức chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cá nhân tham gia góp ý kiến”

Ngoài ra Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định về sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật là: “… trong quá trình lập đề nghị xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật,

cơ quan lập đề nghị có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách trong đề nghị và lấy ý kiến của các cá nhân có liên quan, nghiên cứu giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý đó”

1.2 Khái quát về bối cảnh chuyển đổi số

1.2.1 Khái niệm bối cảnh chuyển đổi số

Tác giả Lê Vũ Quỳnh Châu (2022) trong “Chuyển đổi số trong quản lý

nguồn nhân lực tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” cho rằng: “khái niệm chuyển đổi số có thể được hiểu theo một cách tổng quan nhất là quá trình các ngân hàng sử dụng công nghệ tân tiến để chuyển đổi quy trình/dịch vụ truyền thống hiện có nhằm tạo ra những quy trình/dịch vụ mới, đáp ứng với sự phát triển của thị trường và kỳ vọng của khách hàng” [3]

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): “Số hóa là việc chuyển đổi dữ liệu tương tự và các quy trình thành định dạng mà máy có thể đọc được Số hóa là việc sử dụng các công nghệ và dữ liệu kỹ thuật số cũng như kết nối với nhau dẫn đến các hoạt động mới hoặc thay đổi đối với các hoạt động hiện có Chuyển đổi

số đề cập đến các tác động kinh tế và xã hội của số hóa và số hóa” (Tạm dịch) [36]

Trang 23

Theo thông tin cập nhật trên Cổng chuyển đổi số quốc gia, Chuyển đổi số là:

“quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số” [42]

Tác giả Hoàng Văn Hải, Lưu Thị Minh Ngọc có nêu trong Chuyển đổi số

trong quản trị đại học: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam: “chuyển đổi số

là quá trình chúng ta thay đổi cách sống, cách làm việc, và phương thức sản xuất với các công nghệ số đang liên tục thay đổi hiện nay” [6]

Theo Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, bối cảnh là “Hoàn cảnh chung khi một sự việc phát sinh và phát triển” [12]

Theo John Gilbert trong “On the Nature of “Context” in Chemical Education, International Journal of Science Education” thì bối cảnh là một thực thể văn hóa trong xã hội có tính thời gian, không gian, và liên quan đến hoạt động của con người [32]

Như vậy khái niệm về chuyển đổi số có khá nhiều tác giả nghiên cứu từ đó làm tiền đề cơ sở cho nhóm nghiên cứu kế thừa và phát huy khái niệm về chuyển đổi số Vì vậy, nhóm nghiên cứu mạnh dạn đưa ra khái niệm bối cảnh chuyển đổi

số: “là hoàn cảnh tổng thể về sự thay đổi của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách

làm việc và phương thức sản xuất trên nền tảng các công nghệ số”

1.2.2 Đặc điểm của chuyển đổi số

Mang yếu tố nền tảng phát triển: chuyển đổi số tạo nền tảng, điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động, mở ra nhiều tiềm năng, động lực phát triển mới Đồng thời kích thích sự sáng tạo, năng động của con người tạo ra nhiều giá trị, thực hiện nhiều mục tiêu dựa trên nền tảng công nghệ, kỹ thuật cao mà chuyển đổi số đem lại

Vận động liên tục: Công nghệ thông tin không ngừng cải tiến, nâng cao, làm mới nên chuyển đổi số theo đó mà vận động không ngừng Chính vì đặc điểm này, chuyển đổi số luôn đòi hỏi sự nhạy bén, thích ứng, chủ động sẵn sàng và theo đuổi lâu dài của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia trong quá trình thực hiện

Trọng tâm là con người: con người là chủ thể tạo ra công nghệ những cũng là chủ thể chịu tác động bởi công nghệ Mọi biến chuyển, phát triển hay suy bại của công nghệ đều liên kết chặt chẽ với tư duy, nhận thức của con người Con người thay đổi công nghệ và công nghệ cũng làm thay đổi con người ở nhiều góc độ khác

Trang 24

nhau nhưng đều nhằm phục vụ cho nhu cầu, lợi ích, sự tồn tại và phát triển của con người

Không chỉ vậy chuyển đổi số rất quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức, Nhà nước Nó mang lại cho chúng ta những cơ hội, mở ra nhiều tiềm năng hơn nữa bằng cách cho phép mở rộng quy mô hiệu quả, truyền bá tốt hơn, tiếp cận nhân dân

ở những mặt khác nhau và đạt hiệu quả cao hơn

1.2.3 Bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

1.2.3.1 Nguyên nhân chuyển đổi số diễn ra ở Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của loài người, khi nhắc đến những bước tiến vĩ đại, những dấu mốc quan trọng thay đổi từ đời sống đến tư duy của con người, không thể không nhắc tới những cuộc Cách mạng Công nghiệp Và gần đây nhất với chúng ta là cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư hay còn gọi là Công nghiệp 4.0 – thời đại của công nghệ kỹ thuật số ở tầng cao mới Cuộc Cách mạng công nghiệp này không chỉ đặt ra những nền tảng phát triển mới cho sự phát triển nhân loại mà còn đồng thời là cơ hội – thách thức to lớn cho mỗi quốc gia Công nghiệp 4.0 bản chất là một cuộc đua đường dài và mọi quốc gia trên thế giới đền là người đua và đều phải nhanh chóng đưa ra những định hướng chiến lược để đưa đất nước tiến nhanh hơn trên đường đua ấy, người không tiến lên trong đường đua này chính là người thua cuộc và bị thời đại bỏ quên Những công nghệ tiên tiến xuất phát từ cuộc cách mạng Công nghiệp này đang ngày càng phổ biến, hỗ trợ và thay thế cho con người trong rất nhiều công việc, từ cắt giảm chi phí vận hành, nâng cao năng suất, rút ngắn thời gian sản xuất, trong các tổ chức, doanh nghiệp cho đến nâng cao phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng tiên tiến, chất lượng đời sống người dân thêm tiện ích Công nghệ dần thay đổi lối sống, tư duy của con người, tạo ra nhiều giá trị mới, xu thế mới, trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy sự biến đổi nhanh chóng của nhu cầu xã hội, có tác động tương đối lớn tới các vấn đề về kinh tế, chính trị Cũng

do đó, chuyển đổi số ngày càng chứng minh tầm quan trọng mang tính chiến lược, gắn kết chặt chẽ với hoạt động sống của con người, trở thành yêu cầu của sự phát triển bền vững và lâu dài của xã hội

Nếu nói đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, thì chuyển đổi số cũng là một quá trình tất yếu trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ hiện nay, là yếu tố mang ý nghĩa chiến lược trong tiến trình

Trang 25

phát triển của mỗi quốc gia Và Việt Nam cũng vậy, đặt vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của đất nước ta, có thể thấy chuyển đổi số diễn ra là quá trình mang tính tất yếu khách quan, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa đảm bảo sự nhạy bén, chủ động trong bối cảnh toàn cầu hóa, tạo động lực mới, giá trị mới, cơ hội mới cho đất nước

Đặc biệt là giai đoạn 2019-2020 vừa qua, toàn cầu đã phải đối mặt với dịch bệnh Covid-19 chưa từng có trong lịch sử, gây ra những thiệt hại nặng nề về mọi mặt đời sống xã hội toàn nhân loại Mặc dù bằng sự nỗ lực kiên cường, nhân loại đã cùng nhau từng bước chống trọi và vượt qua đại dịch này bằng việc không ngừng nghiên cứu vacxin phòng bệnh; thực hiện các biên pháp ý tế và phong tỏa vùng dịch; huy động tối đa quân lực, vật lực cho các tâm dịch; trong đó, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin càng thêm khẳng định vai trò của mình với sự phát triển của nhân loại, công nghệ thông tin làm trung gian đảm bảo kết nối cho con người trong tình trạng không thể tiếp xúc trực tiếp; hạn chế sự gián đoạn từ công việc, học tập cho đến đời sống sinh hoạt; nhiều phát minh phục vụ trực tiếp cho phòng chống dịch; Nhưng cũng từ đây càng thấy rõ trên con đường phía trước nhân loại phải đối mặt với vô vàn những khó khăn thách thức, đễ tiếp tục một cách lâu dài và bền

bỉ thì Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung phải nắm bắt và nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật, tích hợp và quản lý công nghệ kỹ thuật vào mọi hoạt động của đất nước, mà chuyển đổi số là quá trình thực hiện điều đó

1.2.3.2 Quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam

Để nói về công cuộc chuyển đổi số ở Việt Nam không đơn thuần là những dấu mốc mà là cả một quá trình lâu dài, được chia thành những giai đoạn nối tiếp nhau

Ta có thấy sự chuyển biến đồng thời từ những doanh nghiệp, những nhà đầu

tư – đối tượng có liên quan mật thiết đến việc hình thành công nghệ kỹ thuật cao -

và thị trường, xã hội – đối tượng có nhu cầu công nghệ ngày càng cao Trước hết là

sự va chạm, tác động của khoa học kỹ thuật làm thay đổi tầm nhìn của các doanh nghiệp, khi khoa học công nghệ cao dần gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của các tổ chức, doanh nghiệp trong Cách mạng Công nghiệp 4.0

Theo một khảo sát của Trung tâm Xuất sắc về Kỹ thuật số Đại học RMIT Việt Nam có tên gọi là “Chuyển đổi số ở Việt Nam Khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)” về mục tiêu chuyển đổi số

Trang 26

và đánh giá hai yếu tố quyết định trong chuyển đổi số: năng lực quản lý chuyển đổi

và nền tảng kỹ thuật số theo từng khu vực kinh tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể khảo sát xác định mục tiêu của chuyển đổi của doanh nghiệp nhà nước có 75% lựa chọn là tối ưu hóa quy trình làm việc; 44% lựa chọn là gia tăng tính năng của sản phẩm và 21% lựa chọn là nâng cao trải nghiệm của khách hàng Với doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỉ lệ khảo sát là: 39% lựa chọn tối

ưu hóa quy trình làm việc; 45% lựa chọn gia tăng tính năng sản phẩm và 54% lựa chọn nâng cao trải nghiệm của khách hàng Qua đây phần nào cho thấy sự nhạy bén, tiếp thu và thay đổi tư duy trước sự biến chuyển của kinh tế xã hội với ba mục tiêu chính của chuyển đổi số là nâng cao trải nghiệm của khách hàng, tối ưu hóa quy trình làm việc và gia tăng tính năng của sản phẩm Bên cạnh kết quả này, khảo sát còn cho thấy sự thiếu sẵn sàng trong chuyển đổi kỹ thuật số của khu vực hai (công nghiệp) và sự tích cực đặc biệt của khu vực ba (dịch vụ) của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ đó ta thấy rằng, tuy còn nhiều điểm thiếu xót, sai lầm trong định hướng hay thực hiện định hướng thì về cơ bản đã có sự thay đổi tư duy, dịch chuyển về hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp hướng đến chuyển đổi số hiện quả

Điều này cho thấy từ phía các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đã nắm bắt được tầm quan trọng của chuyển đổi số, có mục tiêu, phương hướng rõ ràng, có sự tìm hiểu, tiếp cận, đánh giá kỹ càng và bước đầu chuẩn bị những điều kiện cần thiết

để chuyển đổi số đạt hiệu quả

Giữa lúc chuyển đổi số ở Việt Nam đang ở những bước đầu tiên, Đại dịch Covid-19 bùng phát làm đảo lộn, gián đoạn hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội đồng thời gây sự hoang mang, lo lắng cho nhân dân Nhưng không thể phủ nhận, từ sau đại dịch này, chuyển đổi số càng chứng minh được tầm quan trọng, ngày càng được các tổ chức, doanh nghiệp và đặc biệt là Nhà nước chú trọng, tạo điều kiện thực hiện Trong Hội nghị giao ban quản lý nhà nước hồi tháng 5/2020, Bộ Trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nhận định Covid-19 là động lực để đẩy nhanh chuyển đổi số trên bình diện toàn quốc gia Việt Nam với lợi thế có nhiều doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin mạng, đây là lúc phát huy đưa đất nước bứt phá, thay đổi thứ hạng

Trang 27

Cũng thấy rằng từ giai đoạn bùng phát dịch bệnh cuối năm 2019 đầu năm

2020 đến nay, Nhà nước ta đã phát huy mạnh mẽ vai trò quản lý, dẫn đầu của mình, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng tại hội nghị triển khai Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật đã nhấn mạnh: chuyển đổi

số là cuộc cách mạng về thể chế hơn là cách mạng công nghệ Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó đã nhấn mạnh việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số [27] Trên cơ sở đó, vào ngày 3/6/2020, Quyết định số 749/QĐ-TTg đã được Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt,

“Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030” chính thức có hiệu lực [30] Từ đó có thể thấy rằng, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành về Chuyển đổi số quốc gia, đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để đất nước chủ động hơn, tích cực hơn, mạnh mẽ hơn trong tiến trình chuyển đổi số

Tại buổi công bố Báo cáo chỉ số đánh giá chuyển đổi số năm 2020 được thực hiện theo phương thức họp trực tuyến trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn còn đang phức tạp, Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các cơ quan chuyên môn khác

đã đưa ra những ý kiến, đánh giá và định hướng thực hiện chuyển đổi số năm tiếp theo kết quả DTI 2020 (xếp hạng chuyển đổi số 2020) trong buổi công bố cụ thể như sau: DTI 2020 cấp tỉnh trung bình là 0,3026; DTI 2020 của các Bộ không cung cấp dịch vụ công trung bình là 02342 và DTI 2020 của các Bộ cung cấp dịch vụ công trung bình là 0,3982 Kết quả còn cho thấy ở cấp tỉnh, Đà nẵng đạt giá trị chuyển đổi số là 0,4874 – dẫn đầu cả nước về mức độ chuyển đổi số năm 2020 Bên cạnh đó, việc chuyển đổi nhận thức và kiến tạo thể chế trong năm 2020 được thực hiện tương đối tốt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện chuyển đối số ngày càng thuận lợi

Bộ Thông tin và Truyền thông còn cho thấy các cơ sở dữ liệu nền tảng của chính phủ số đã được đẩy mạnh triển khai, từng bước hoàn thiện, là điều kiện để triển khai chính phủ số thành công Đặc biết có thể nhắc tới là Cổng Dịch vụ công quốc gia đã tích hợp với dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành, địa phương đã giúp việc sử dựng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn,…Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành

Trang 28

chính từ trung ương đến địa phương đều được trang bị máy tính có cấu hình cao, có hòm thư điện tử công vụ trên mạng nội bộ, mạng internet, hầu hết sử dụng điện thoại cố định và điện thoại di động có kết nối mạng, có kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc gửi, nhận văn bản điện tử, trao đổi công việc qua thư điện

tử, cổng thông tin điện tử và được đào tạo để vận hành những chương trình, ứng dụng công nghệ được tích hợp trong hoạt động công vụ của mình

1.3 Tác động của chuyển đổi số trong thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân

1.3.1 Tác động tích cực

Chuyển đổi số đối với các cơ quan nhà nước là môi trường kỹ thuật thực hiện

số hóa hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện mục tiêu xây dựng Chính phủ số, làm thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước cũng như việc thực hiện và đảm bảo thực hiện các quyền của công dân

Dưới sự tác động của chuyển đổi số, nhiều hoạt động đời sống và công vụ được cải tiến, hiện đại và tiện lợi hơn Nhiều hoạt động thủ công truyền thống dần được thay thế bằng máy móc, tự động hóa và chuyên môn hóa giúp tiếp kiệm sức người đồng thời đem lại hiệu quả cao hơn Một số cách thức, thủ tục công vụ hành chính rườm rà, máy móc được thay đổi, số hóa, thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận, lưu trữ, tra cứu và giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho công dân

Chuyển đổi số với sự phổ biến của nhiều hình thức thiết bị và ứng dụng công nghệ thống tin trong đời sống xã hội như điện thoại thông minh, kính thực tế ảo, thiết bị nhà thông minh, báo điện tử, giúp nâng cao chất lượng đời sống, đảm bảo việc thực hiện các quyền của công dân Chuyển đổi số cũng là phương thức giúp người dân tiếp cận thông tin, hiểu quyền và thực hiện quyền một cách tốt hơn Công dân có quyền kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu với Cổng dịch vụ công Quốc gia, các cơ sở dữ liệu quốc gia, đảm bảo người dân có thể truy cập đến các dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành, địa phương qua một địa chỉ duy nhất trên mạng

Đặc biệt với việc xây dựng, phát triển các hệ thống thông tin, các phần mềm, dịch vụ phục vụ cho phát triển Chính quyền số, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính; hỗ trợ ứng phó thiên tai, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội Đẩy mạnh triển khai ứng dụng chữ

Trang 29

ký số chuyên dùng, điều hành tác nghiệp trực tuyến và gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước Thực hiện các chế độ báo cáo trên môi trường mạng phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và liên thông với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia Vận hành hiệu quả Trung tâm Một cửa liên thông; xây dựng mới Trung tâm Một cửa, nâng cấp Bộ phận Một của các cấp với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đáp ứng các yêu cầu phục vụ số hóa, chuyển đổi số Từ đó người dân sẽ nắm bắt được quyền tham gia quản lý Nhà nước nói riêng, cũng như các quyền và nghĩa vụ khác nói chung khắc phục được tối ưu các hạn chế do các buổi họp ở địa phương để lại, tiếp nhận thông tin ở bất cứ đâu và

có thể chia sẻ, hỏi đáp các vấn đề thắc mắc của cá nhân trong các tình huống dân sự

Quyền tham gia quản lý Nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

là một chủ đề quan trọng để thảo luận về sự phát triển của công nghệ và những tác động đến cách chúng ta quản lý Nhà nước Trong bối cảnh đó, các công nghệ số có thể cung cấp nhiều cơ hội để cải thiện quy trình quản lý, tăng cường trao đổi thông tin và tăng tính công bằng cho cộng đồng Đồng thời cũng đặt ra những thách thức

về bảo mật và quyền riêng tư liên quan đến việc sử dụng dữ liệu số Vì vậy quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân là chịu sự tác động không nhỏ từ bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

Trang 30

Trước hết đó là hành động thể hiện sự quan tâm của Chính phủ, người dân về động lực cải cách bộ máy hành chính, cụ thể là cải cách dịch cụ công, dịch vụ công trực tuyến, để hạn chế những vấn nạn ở các khâu nhỏ lẻ của quá trình thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian tiền bạc của người dân, thể hiện Chính phủ hoàn toàn minh bạch, liêm chính Việc phân tích dữ liệu thúc đẩy đổi mới cách thức quản lý,

mô hình quản trị theo hướng tích hợp công nghệ thông tin ở từng cấp cơ quan, cơ

sở Đồng thời, đây cũng là phương tiện để bảo vệ quyền riêng tư của từng người dân Từ đó việc “giám sát” Nhà nước, tổ chức của người dân được thực hiện dễ dàng và rõ nét hơn, tránh sự nghi ngờ thắc mắc

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 nhóm nghiên cứu đã thực hiện việc phân tích những lý luận

về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam thông qua những khía cạnh như: Khái quát về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đối số ở Việt Nam qua việc trình bày những nội dung có liên quan như khái niệm, đặc điểm về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân; chuyển đổi số,…Bên cạnh đó, nhóm còn khái quát quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

và xu hướng ảnh hưởng của chuyển đổi số trong thực tiễn quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân Qua đó làm tiền đề để nhóm thực hiện những nghiên cứu

về các vấn đề đặt ra ở Chương 2

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG DÂN THỰC HIỆN QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng công dân tham gia quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi

số ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Các hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng rõ rệt trong mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của công dân Có thể thấy sự thay đổi đưn giản nhất là sự “công nghệ hóa” các hoạt động kinh tế xã hội truyền thống như cắt tóc công nghệ, taxi công nghệ, ; nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đa dạng và đầy sáng tạo như giao đồ ăn nhanh, livestream bán hàng qua không gian mạng, youtuber, ìnluencer, ; phúc lợi xã hội, chất lượng đời sống cũng đang dần được nâng cao, thay thế bằng các thiết bị công nghệ chuyên dụng như học tập trực tuyến, khám bệnh từ xa, ứng dụng hỗ trợ người khuyết tật, Bên cạnh đó, công dân vẫn đảm bảo thực hiện các quyền công dân của mình, trong đó có quyền tham gia quản

lý nhà nước của công dân Xét bối cảnh khi chưa có Công nghiệp 4.0, chưa có khái niệm chuyển đổi số với bối cảnh chuyển đổi số như hiện nay, có thể thấy những sự thay đổi trong phương thức, quy trình và hiệu quả khi có sự xuất hiện của công nghệ

Trong hoạt động bầu cử, ứng cử:

Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khoa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 vừa qua đã thành công tốt đẹp trong bối đại dịch Covid-19 chưa từng có trong lịch sử Từ những nguy hại mà dịch bệnh này gây ra, đã có những quy định về phòng, chống dịch bệnh như hạn chế tập trung đông người, hạn chế tổ chức sự kiện, thực hiện giãn các xã hội, 5K, chính những quy định này lại

có sự mâu thuẫn, ảnh hưởng đến một số công tác thực hiện bầu cử, thậm chí ảnh hưởng tới quyền bỏ phiếu của cử tri Vì vậy, để đảm bảo có thể tổ chức bầu cử an toàn, thành công, đảm bảo về mặt pháp luật, Nhà nước đã có nhiều đối sách, phương hướng và đã ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, trực tiếp Trong đó phải

kể đến việc thay đổi nhiều hình thức thực hiện cũ, áp dụng công nghệ hiện đại kịp thời, sáng tạo như: tiếp xúc, vận động cử tri bầu cử bằng phát thanh, truyền hình,

Trang 33

báo đài thay vì hình thức trực tiếp; in ấn tiểu sử của các ứng cử viên gửi tới người dân; cập nhật tiểu sử, chương trình hành động của các ứng cử viên trên trang điện tử

về bầu cử chính thống; sử dụng hòm phiếu bầu cử lưu động;

Tùy thuộc vào đặc điểm địa lý dân cư và trình độ phát triển mà từng địa phương, từng cấp chính quyền thực hiện những biện pháp, cách thức khác nhau vừa đảm bảo hiệu quả của hoạt động bầu cử vừa đảm bảo không trái pháp luật Có thể

kể đến như vận động bầu cử trên các nền tảng truyền thông, mạng xã hội; ứng dụng công nghệ số trong lập danh sách, rà soát danh sách cử tri, phổ biến kiến thức, thông tin bầu cử; việc kiểm phiếu, tổng hợp kết quả bỏ phiếu;

Trong khiếu nại tố cáo:

Là phương tiện đảm bảo lợi ích của công dân và đảm bảo sự trọng sạch, vững mạnh của cơ quan nhà nước, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được quy định tương đối cụ thể, chặt chẽ qua các văn bản pháp luật Nếu các hoạt động kinh

tế, văn hóa, xã hội khác đều thực hiện rất dễ dàng, hiệu quả việc tích hợp công nghệ, thực hiện trực tuyến thì việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo giặp rào cản lớn về mặt pháp luật Bởi theo Điều 22 Luật Tố cáo 2018 quy định hai hình thức tố cáo gồm tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, không có quy định về việc tiếp nhận đơn tố cáo trực tuyến [23] “Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng tới năm 2030” đã bước đầu đã đạt được nhiều kết quả, đặc biệt trong việc cung cấp các dịch vụ công như giải quyết thủ tục hành chính; tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của người dân;…Tuy nhiên lại chưa thể thực hiện quyền tố cáo trực tuyến mặc

dù nền tảng trực tuyến là công cụ rất phổ biến và có thể hỗ trợ đắc lực trong công tác tiếp nhận và giải quyết tố cáo nếu được khai thác và sử dụng theo cơ chế pháp luật và sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước

Với sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng công nghệ, các trang mạng xã hội, nhiều cá nhân đã sử dụng những chức năng như chia sẽ trạng thái hoạt động, livestream (phát trực tiếp), đăng tải đoạn video ngắn, làm công cụ để tố cáo các hành vi được cho là vi phạm pháp luật Mặc dù không được coi là một hình thức tố cáo chính quy, nhưng hoạt động này có sự chia sẻ, truyền tiếp thông tin vô cùng nhanh chóng, dễ dàng truyền tải rộng rãi đến nhiều nền tảng, tiếp cận tới rất nhiều người, thâm chí còn tạo nên làn sóng dư luận mạnh mẽ, kêu gọi xử lý đòi lại công

Ngày đăng: 26/10/2023, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Minh Anh (2021), “Quyền con người về nhóm quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 – Cơ chế đảm bảo và giải pháp thực hiện”, tiểu luận kết thúc học phần, Khoa tiếng Hàn Quốc, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người về nhóm quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 – Cơ chế đảm bảo và giải pháp thực hiện
Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh Anh
Nhà XB: Khoa tiếng Hàn Quốc, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2021
2. Phạm Tuấn Anh (2014), “Đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 10(83) – 2014, tr 49- 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2014
3. Lê Vũ Quỳnh Châu (2022), “Chuyển đổi số trong quản lý nguồn nhân lực tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi số trong quản lý nguồn nhân lực tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác giả: Lê Vũ Quỳnh Châu
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2022
4. Hoàng Ngọc Dũng (2015), “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Ngọc Dũng
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc Gia
Năm: 2015
5. Lê Tiến Hào (2011), “Khiếu nại, tố cáo hành chính - cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khiếu nại, tố cáo hành chính - cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Tiến Hào
Nhà XB: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2011
7. Phan Trung Lý, Đặng Xuân Phương (2017), Xây dựng và hoàn thiện cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp – Cơ sở lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp – Cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phan Trung Lý, Đặng Xuân Phương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2017
8. Đặng Đình Luyến (2016), “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta phù hợp với Hiến pháp mới”, Đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta phù hợp với Hiến pháp mới
Tác giả: Đặng Đình Luyến
Nhà XB: Viện Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2016
9. Trần Thị Thúy Mai (2010), “Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo”, Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Trần Thị Thúy Mai
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2010
11. Phan Văn Ngọc (2018), “Đổi mới chế độ bầu cử Đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chế độ bầu cử Đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Văn Ngọc
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội
Năm: 2018
14. Trường đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông (2011), “Nghiên cứu xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực thông tin và truyền thông”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực thông tin và truyền thông
Tác giả: Trường đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
Nhà XB: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2011
15. Nguyễn Như Ý (1999), “Đại từ điển Tiếng Việt”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, Tr 1384.VĂN BẢN PHÁP LUẬT 16. Hiến pháp năm 1946 17. Hiến pháp năm 1959 18. Hiến pháp năm 1980 19. Hiến pháp năm 1992 20. Hiến pháp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
21. Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015
Năm: 2015
25. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
Năm: 2015
27. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Năm: 2019
28. Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/03/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/03/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025
Năm: 2019
29. Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 21/04/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 21/04/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
Năm: 2018
30. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030”TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030
Năm: 2020
31. OECD (2010), “Going Digital: Making The Transformation Work For Growth And Well-Being”, Meeting of the OECD Council at Ministerial Level, Paris, 7 - 8 June 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Going Digital: Making The Transformation Work For Growth And Well-Being
Tác giả: OECD
Năm: 2010
26. Nghị quyết số 170/NQ-CP ngày 31/12/2022 về Ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) Khác
32. John .K. Gilbert, On the Nature of “Context” in Chemical Education, International Journal of Science Education, 28(9), 2006, 957-976.MỘT SÓ TRANG WEBSITE Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w