TỔNG QUAN
Đại cương về tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) được xác định khi huyết áp tâm thu (HATT) đạt ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg, áp dụng cho người từ 18 tuổi trở lên Để chẩn đoán chính xác, huyết áp cần được đo ít nhất 2 lần trong mỗi lần khám và tại ít nhất 2 lần khám khác nhau.
Hầu hết các trường hợp tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là nguyên phát, không xác định được nguyên nhân, trong khi khoảng 10% là do nguyên nhân có thể xác định Để phát hiện nguyên nhân của THA, cần thực hiện khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng thông thường.
Các nguyên nhân thường gặp của THA thứ phát gồm [1]
- Suy giáp/cận giáp, tuyến yên
- Do thuốc hoặc liên quan đến thuốc (kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo,…)
- Hẹp eo động mạch chủ
THA là một trong số những nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật trên thế giới
Theo ước tính của Hội Tim Mạch Châu Âu và Hội Tăng Huyết Áp Châu Âu (ESC/ESH), số người mắc tăng huyết áp toàn cầu đã đạt 1,13 tỷ vào năm 2015 và dự kiến sẽ tăng lên khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025.
Tăng huyết áp (THA) và các bệnh tim mạch do xơ vữa (BTMXV) đang trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Việt Nam, chủ yếu do thay đổi chế độ ăn uống và lối sống trong bối cảnh phát triển kinh tế Tỷ lệ mắc THA ngày càng gia tăng, khiến Bộ Y tế Việt Nam đưa bệnh này vào chương trình phòng chống các bệnh không lây nhiễm Một cuộc điều tra quốc gia (2001-2008) cho thấy 25,1% dân số từ 25 tuổi trở lên mắc THA, với gần một nửa không biết mình mắc bệnh; chỉ 62% bệnh nhân được điều trị, trong đó 38,3% có huyết áp được kiểm soát Kết quả từ Chương trình tháng 5 đo huyết áp (MMM) 2017 cho thấy 28,7% người tham gia khảo sát mắc THA, trong khi 37,7% bệnh nhân dùng thuốc hạ huyết áp không đạt được kiểm soát huyết áp.
1.1.4 Phân độ tăng huyết áp
Theo khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (THA) năm 2018, có nhiều phương pháp phân độ THA dựa trên mức huyết áp đo được tại phòng khám, liên tục và tại nhà Huyết áp được phân loại thành các mức tối ưu, bình thường cao, và THA từ độ 1 đến độ 3.
Bảng 1.1 Phân độ THA theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch học Việt Nam 2022
HA bình thường – cao (Tiền THA) 130 - 139 và/hoặc 85 - 89
Cơn tăng HA ≥ 180 và/hoặc ≥ 120
THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và 60mmHg (ở người già) Điện tâm đồ có hình ảnh dày thất trái hoặc dày thành động mạch cạnh hoặc có mảng vữa
- Vận tốc sóng động mạch đùi- động mạch cảnh > 10 m/s
- Chỉ số cổ chân- cánh tay > 0.9
- Albumin niệu vi thể (30 - 300 mg/24 giờ hoặc tỷ số Albumin/Creatinin 30-
- Bệnh thận mạn giai đoạn 3 (mức lọc cầu thận 30 - 60 ml/phút/1.73 m 2 [1]
- Đái tháo đường: Đường máu khi đói ≥ 7.0 mmol/l (126mg/dl) trong 2 lần đo liên tiếp và/hoặc HbA1C > 7% (53 mmol/mol) và/hoặc đường máu sau ăn > 11 mmol/l (200 mg/dl)
- Bệnh tim thực thể hoặc bệnh thận:
+ Bệnh mạch não: nhồi máu não, xuất huyết não, tai biến mạch não thoáng qua + Bệnh mạch vành: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim,
+ Suy tim (bao gồm suy tim chức năng thất trái bảo tồn)
+ Bệnh lý động mạch ngoại biên
- Bệnh võng mạc tiến triển: xuất huyết hoặc xuất tiết, phù gai thị [1]
* Phân tầng nguy cơ tim mạch [1]
Việc đánh giá nguy cơ tim mạch là rất quan trọng để xác định nhu cầu điều trị, với các mức độ nguy cơ được phân loại thành thấp, trung bình, cao và rất cao, nhằm đánh giá nguy cơ tử vong và tần suất các sự kiện tim mạch Trong quá trình đánh giá, cần chú ý đến các thông số liên quan đến tổn thương cơ quan đích và tổn thương cơ quan ở mức cận lâm sàng Các biến đổi cận lâm sàng do tăng huyết áp (THA) là chỉ báo cho sự tiến triển của hệ tim mạch, do đó cần theo dõi định kỳ trong quá trình điều trị.
Bảng 1.2 Phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân THA [1]
Những yếu tố nguy cơ khác, tổn thương cơ quan đích hoặc tiền sử bệnh
Không có yếu tố nguy cơ Nguy cơ thấp Nguy cơ thấp Nguy cơ
Có 1-2 yếu tố nguy cơ Nguy cơ thấp
Có ≥ 3 yếu tố nguy cơ Nguy cơ thấp - TB Nguy cơ
Tổn thương cơ quan đích, bệnh thận mạn giai đoạn 3 hoặc đái tháo đường
Nguy cơ cao - rất cao
Bệnh thận mạn có triệu chứng, giai đoạn
≥4 kèm theo hoặc đái tháo đường có tổn thương cơ quan đích/ nhiều yếu tố nguy cơ
Sau khi phân tầng các yếu tố nguy cơ, việc xác định phương pháp xử trí cho từng bệnh nhân theo phân độ tăng huyết áp (THA) là rất quan trọng.
Điều trị tăng huyết áp
1.2.1 Nguyên tắc và mục tiêu điều trị
Bệnh THA là một tình trạng mãn tính cần được theo dõi thường xuyên và điều trị đúng cách, kéo dài Mục tiêu là đưa huyết áp về mức "huyết áp mục tiêu (HAMT)" và giảm thiểu tối đa "nguy cơ tim mạch (NCTM)".
Nguyên tắc chung: Theo khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp
2022 của Hội tim mạch Việt Nam:
Huyết áp mục tiêu (HAMT) cần đạt dưới 140/90 mmHg, và nên thấp hơn nếu bệnh nhân có thể dung nạp Đối với những người có nguy cơ cao đến rất cao, HAMT nên đạt dưới 130/80 mmHg Việc điều trị cần được thực hiện lâu dài kèm theo theo dõi chặt chẽ và định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
Điều trị tích cực cho bệnh nhân có tổn thương cơ quan đích là rất quan trọng Cần tránh hạ huyết áp quá nhanh để ngăn ngừa biến chứng thiếu máu ở các cơ quan này, trừ khi có tình huống khẩn cấp.
Bảng 1.3.Mục tiêu điều trị THA theo nhóm tuổi [1]
Ranh giới đích điều trị HATT (mmHg) Ranh giới đích điều trị HATTr (mmHg)
THA BMV Đột quỵ, TIA
120 nếu dung nạp Đích trong khoảng