Do đó, để bổ sung cơ sở dữ liệu về thực vật, vi phẫu và bột dược liệu phục vụ công tác định danh và kiểm nghiệm tính đúng của dược liệu Chè vằng, tôi tiến hành khóa luận: “ Nghiên cứu đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗
BÙI CHÍ THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, VI PHẪU
VÀ BỘT DƯỢC LIỆU CỦA LOÀI CHÈ VẰNG
(JASMINUM NERVOSUM LOUR.) VÀ LOÀI DỄ
NHẦM LẪN THU THẬP TẠI TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DƯỢC HỌC
Hà Nội - 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗
BÙI CHÍ THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, VI PHẪU
VÀ BỘT DƯỢC LIỆU CỦA LOÀI CHÈ VẰNG
(JASMINUM NERVOSUM LOUR.) VÀ LOÀI DỄ
NHẦM LẪN THU THẬP TẠI TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Và cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn bên cạnh, động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên tôi chắc chắn khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo thêm của các thầy cô và các bạn để tôi sẽ hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn trong những nghiên cứu tiếp theo của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2023
Bùi Chí Thanh
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Khóa phân loại chi Nhài (Jasminum L.) (Theo Bùi Hồng Quang
(2016)[11]) 16
Bảng 3 2 So sánh đặc điểm hình thái của loài Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 20
Bảng 3 3 So sánh đặc điểm vi phẫu của loài chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 27
Bảng 3 4 So sánh đặc điểm bột dược liệu của loài chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 30
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1 1 Phân bố chi Jasminum L[33] 6
Hình 3 1 Cành của Chè vằng 17
Hình 3 2 Lá Chè vằng 17
Hình 3 3 Hoa Chè vằng 18
Hình 3 4 Quả Chè vằng 18
Hình 3 5 Cành Nhài năm gân 19
Hình 3 6 Lá Nhài năm gân 19
Hình 3 7 Hoa Nhài năm gân 20
Hình 3 8 Tổng quát vi phẫu cành cây Chè vằng (x10) 21
Hình 3 9 Vi phẫu cành cây Chè vằng (x40) 22
Hình 3 10 Ảnh tổng quát vi phẫu lá Chè vằng(x10) 22
Hình 3 11 Ảnh vi phẫu gân chính lá Chè vằng (x40) 23
Hình 3 12 Ảnh vi phẫu phiến lá Chè vằng (x40) 23
Hình 3 13 Tổng quát vi phẫu lá Nhài năm gân(x10) 24
Hình 3 14 Vi phẫu gân lá Nhài năm gân(x40) 25
Hình 3 15 Vi phẫu phiến lá Nhài năm gân(x40) 25
Hình 3 16 Tổng quát cành Nhài năm gân (x4) 26
Hình 3 17 Vi phẫu cành Nhài năm gân (x40) 26
Hình 3 18 Bột cành Chè vằng 28
Hình 3 19 Bột lá Chè vằng 28
Hình 3 20 Bột lá Nhài năm gân 29
Hình 3 21 Bột cành Nhài năm gân 30
Trang 5Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về chi Jasminum L trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu phân loại, thành phần loài chi Jasminum L 3
1.1.2 Phân bố chi Jasminum L 5
1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu 6
1.1.4 Giá trị sử dụng 7
1.2 Tổng quan về chi Jasminum L và loài Jasminum nervosum Lour ở Việt Nam 8
1.2.1 Nghiên cứu phân loại, thành phần loài, phân bố 8
1.2.2 Giá trị sử dụng 10
Chương II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12 2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Nội dung nghiên cứu 12
2.2.1 Xác định tên khoa học loài Chè vằng Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum thu thập ở tỉnh Hòa Bình 12
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và dễ loài nhầm lẫn 12
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 12
2.3 Phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 12
2.3.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý 13
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh 13
2.3.4 Phương pháp vi phẫu 14
2.3.5 Phương pháp phân tích bột dược liệu 14
2.4 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 15
2.4.1 Hóa chất sử dụng 15
2.4.2 Thiết bị sử dụng 15
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
1 Xác định tên khoa học 16
Trang 61.1 Xác định tên khoa học của loài Chè vằng và loài nhầm lẫn 16
1.2 Đặc điểm hình thái của loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài nhầm lẫn 17
1.3 So sánh đặc điểm hình thái của loài Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 20
2 Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và dễ loài nhầm lẫn 21
2.1 Đặc điểm vi phẫu cành Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) 21
2.2 Đặc điểm vi phẫu lá Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) 22
2.3 Đặc điểm vi phẫu cây dễ nhầm lẫn 24
2.4 So sánh đặc điểm vi phẫu của loài Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 27
3 Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 27
3.1 Đặc điểm bột cành Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) 27
3.2 Đặc điểm bột lá Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) 28
3.3 Đặc điểm bột cây dễ nhầm lẫn 29
3.4 So sánh đặc điểm bột dược liệu của loài chè vằng và loài dễ nhầm lẫn 30
Chương V BÀN LUẬN 31
Chương V KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 36
Trang 7MỞ ĐẦU
Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá là nơi có nền “văn minh cây cỏ”, “văn minh tre gỗ” Do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thực vật phát triển nhiều về số lượng và phong phú về chủng loại, nên
từ xa xưa đời sống của người Việt Nam nói chung đã gắn bó mật thiết với các loài thực vật Sự gắn bó mật thiết với thực vật đã được thể hiện từ trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt Nam, từ hoạt động sản xuất (trồng trọt) đến đời sống vật chất (ăn mặc, cư trú, đi lại, đồ dùng ) và cả đời sống tinh thần (tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật ) Như vậy, việc sử dụng thực vật nói chung hay lá cây nói riêng trong chăm sóc sức khỏe cũng là một yếu tố văn hóa khởi nguồn từ nền “văn hóa thực vật” này
Khi y học hiện đại chưa phát triển ở Việt Nam thì việc sử dụng lá cây trong y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe cho con người là rất phổ biến Lá của các loại cây thuốc và các loại cây thông thường được sử dụng phổ biến khắp cả nước và áp dụng cho mọi lứa tuổi, mọi giới tính khi có nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trải qua thời gian, cùng với sự tiến bộ của y học và khoa học công nghệ, việc sử dụng các loại lá trong chăm sóc sức khỏe đã giảm dần Chỉ còn người già hoặc trung niên sống
ở vùng nông thôn hay ở miền núi thi thoảng vẫn còn dùng lá thuốc để chữa bệnh
Chè vằng (hay còn gọi là lá vằng) có tên khoa học là Jasmium nervosum Lour
thuộc họ Nhài (Oleaceae) Loài cây này hiện nay mọc hoang trên toàn nước Việt Nam, từ Bắc chí Nam Tại miền Bắc có ở Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Tại miền Nam, đồng bào thường dùng dây vằng để đan rế và đánh dây thừng
vì dây vằng vừa dai lại vừa dẻo Từ lâu, ở miền trung Chè vằng được người dân biết đến như một loại nguyên liệu để nấu uống thay trà Cây chè vằng mọc khắp nơi từ rừng sâu đến vườn nhà Người ta hái về cắt nhỏ, ngắn bằng gang tay rồi đem phơi nắng, nấu uống giải khát hàng ngày Theo dân gian, uống lá vằng sẽ giúp thanh nhiệt, kích thích tiêu hóa, tạo giấc ngủ sâu và tốt cho phụ nữ sau khi sinh Để đáp ứng nhu cầu thị trường, Chè vằng thu hái tự nhiên và chế biến thành cao lá vằng (sản phẩm từ Chè vằng) thuận tiện hơn cho việc sử dụng Đây là sản phẩm rất được người dân khắp nơi trên cả nước yêu chuộng và tin dùng, nó được xem như là đặc sản của vùng đất miền Trung Chính những sản phẩm này đã góp phần cải thiện đời sống của người dân
Trang 8Tuy nhiên thực tế cho thấy, người dân vẫn thường thu hái nhầm với loài khác
cùng chi Jasminum L Do đó, để bổ sung cơ sở dữ liệu về thực vật, vi phẫu và bột
dược liệu phục vụ công tác định danh và kiểm nghiệm tính đúng của dược liệu Chè
vằng, tôi tiến hành khóa luận: “ Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vi phẫu và bột
dược liệu loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài nhầm lẫn thu thập
tại tỉnh Hòa Bình”
Với các nội dung chính sau:
- Xác định tên khoa học của loài Chè vằng
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.)
và loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum thu thập ở tỉnh Hòa Bình
- Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
- Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
Trang 9Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về chi Jasminum L trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu phân loại, thành phần loài chi Jasminum L
Chi Jasminum đã được C Linnaeus (1753)[31] đặt tên và mô tả lần đầu trong cuốn “Species plantarum” Ông đã mô tả và công bố 6 loài, trong đó bốn loài có ở
Ấn Độ (J vulgatius, J azoricum, J indicum và J humile), 1 loài ở châu Âu, châu Úc (J luteum) Thời gian này, ông cũng công bố 2 loài nhưng lại xếp vào chi Nyctanthes (Nyctanthes sambac, N undulate sau này trở thành tên đồng nghĩa của loài J
sambac) Cách chia nhóm của C Linnaeus tuy chỉ là bước khởi đầu về cách phân
chia các loài, nhưng cũng chính là tiền đề cho các nhà nghiên cứu sau này, khi nghiên
cứu về chi Jasminum áp dụng và sắp xếp các loài của chi cho nghiên cứu của mình
A P De Candolle (1844)[17] trong công trình nghiên cứu của De Candolle
về chi Jasminum được mô tả khá kỹ các đặc điểm hình thái: Lá đơn lá mọc đối
hiếm khi cách, cuống lá có khớp ở giữa hay lá có 3-7 lá chét hoặc lá kép lông chim Cụm hoa dạng xim, hình chùm, nhiều hoa Đài dạng chuông, 5-8 thùy có răng ngắn hay hình dùi, hình ống, 5-8 thùy phẳng, xiên hay vặn xoắn Tràng màu trắng hoặc vàng, đôi khi pha tía Nhị 2, đính trên ống tràng, không thò ra ngoài Bầu 2 ô, vòi nhụy đơn giản, núm nhụy 2 thùy De Candolle đã dựa vào đặc điểm
cách mọc lá, độ dài của thùy đài để chia các loài thuộc chi Jasminum vào 4 nhánh
chính:
• Nhánh Unifoliolata: Bao gồm các loài lá đơn chủ yếu là mọc đối, hiếm khi
mọc vòng, cuống lá có khớp, gồm 1 lá chét Trong nhánh này ông lại chia thành 2 nhóm nhỏ là nhóm các loài có thùy đài hình dùi gồm 53 loài và nhóm các loài có thùy đài cụt hay có răng nhỏ, gồm 6 loài
• Nhánh Trifoliolata: Bao gồm các loài lá kép 3 lá chét, lá mọc đối, đài có răng,
hoa màu trắng, gồm 17 loài
• Nhánh Alternifolia: Bao gồm các loài lá kép lông chim, lá mọc cách, hoa màu
Trang 10C B Clarke (1882)[16] khi nghiên cứu hệ thực vật Ấn Độ đã chia họ Oleaceae
thành 4 tông khác nhau và chi Jasminum được xếp vào tông Jasmineae và tác giả
không sắp xếp các loài vào các nhánh theo quan điểm của De Candoll (1844), nhưng ông cũng đã dựa vào cách mọc lá và hình thái đài để phân chia thành 2 nhóm chính:
• Nhóm chính thứ 1: bao gồm tất cả các loài lá đơn: Nhóm lá đơn được chia thành 2 nhóm nhỏ hơn: nhóm thứ nhất có đặc điểm là đài có lông (14 loài) và nhóm thứ 2 có đặc điểm đài không lông (17 loài)
• Nhóm chính thứ 2: bao gồm tất cả các loài lá kép (13 loài)
C E Kobuski (1932)[25] dựa trên nền tảng nghiên cứu của De Candolle
(1844), sử dụng đặc điểm cách mọc lá của các loài, chia các loài trong chi Jasminum
ở Trung Quốc
P S Green (1997)[21] đã nghiên cứu các loài trong chi Jasminum thuộc nhánh
Pinnatifolia theo quan điểm của De Candole (1844) với những đặc điểm lá kép lông
chim, hoa màu trắng Tuy nhiên theo nghiên cứu của P S Green, nhánh Pinnatifolia
với những đặc điểm lá đơn, lá kép 3 lá chét, chủ yếu là lá kép lông chim lẻ; cụm hoa
dạng xim, hình ngù… là những đặc điểm điển hình của chi Jasminum và ông đã đặt lại tên nhánh Pinatifolia thành tên nhánh mới là Jasminum gồm 8 loài và 3 dưới loài
Như vậy dựa trên cơ sở nghiên cứu của De Candolle (1844), P S Green đã
đặt lại tên, bổ sung các đặc điểm hình thái, công bố nhánh Jasminum có 8 loài, 3 dưới
loài
P S Green (2001)[22] khi nghiên cứu về nhánh Trifoliolata thuộc chi
Jasminum trên các vùng bao gồm phía tây Australia, Đông Nam Á và Trung Quốc,
đã công bố 6 loài và 2 thứ, 3 dưới loài
Tiếp theo P S Green (2003)[20], nghiên cứu họ Oleaceae ở vùng lục địa Ấn
Độ, ông đã chia các loài trong chi Jasminum thành 4 nhánh, ông dựa vào đặc điểm
hình thái lá, cụm hoa, đài và tràng
P S Green đã tiến hành nghiên cứu họ Oleaceae ở nhiều vùng trên thế giới
Riêng những nghiên cứu về chi Jasminum có rất nhiều công trình đã công bố, trong
đó có nhiều vùng lân cận Việt Nam Ông cũng đồng quan điểm với De Candolle (1844) dựa vào đặc điểm hình thái, như cách mọc lá, để chia các nhánh, sử dụng các đặc điểm thùy đài, tràng để phân chia các loài trong các nhánh
Trang 11Wallander E., V A Albert (2000)[29] khi nghiên cứu dữ liệu trình tự gen ADN của các loài thuộc họ Oleaceae và các loài thuộc họ khác có quan hệ gần gũi
với họ Oleaceae, tác giả đã xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại của họ
Oleaceae và công bố hệ thống
P S Green(2004)[24] nghiên cứu hệ thống họ Oleaceae ông cũng đồng quan điểm của Wallander E., V A Albert (2000) và trong nghiên cứu của mình ông cũng công nhận 3 phân tông mới theo hệ thống của Wallander E., V A Albert (2000)
Như vậy quan điểm của P S Green được khẳng định chắc chắn hơn qua các
nghiên cứu hình thái và sinh học phân tử của các tác giả đã sắp xếp chi Jasminum thuộc tông Jasmineae và họ Oleaceae
Theo hệ thống phân loại Takhtajan (2009)[28], chi Jasminum L thuộc:
Giới: Plantae Ngành: Ngọc Lan
Lớp: Magnoliopsida Bộ: Hoa môi (Lamiales)
Họ: Nhài (Oleaceae)
Tông: Jasmineae Chi: Jasminum Loài: Jasminum nervosum Lour 1.1.2 Phân bố chi Jasminum L
Chi này có phân bố tự nhiên tại Châu Phi, Nam Trung Quốc, Đông Nam Á trải dài đến Tây Á như là Comoros, Congo, Gabon, Ghana, Guinea, Nam Trung Quốc Trung tâm, Đông Nam Trung Quốc, Hải Nam, Ấn Độ, Iran, Bờ Biển Ngà, Jawa, Philippines, Đài Loan, Campuchia,Việt Nam,… Sau đó di cư đến khu vực Địa Trung Hải cũng như Trung Mỹ và một số khu vực thuộc Nam Mỹ như là Đông Bắc Argentina, Bahamas, Bolivia, Đông Bắc Brazil, Đông Nam Brazil, Bulgaria, Đảo Caroline, Đảo Cayman, Anh, Bồ Đào Nha, Đông Nam Mexico, Nam Tư,…[19, 23]
Trang 12Hình 1 1 Phân bố chi Jasminum L[33]
1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu
1.1.3.1 Đặc điểm hình thái
Căn cứ vào các bản mô tả Bùi Hồng Quang (2016)[11] và Flora of China[27],
chi Jasminum L có đặc điểm hình thái như sau:
Cây bụi leo ít gai, cao 1-5 m, nhẵn hoặc có lông thưa Cành nhánh dạng ống
Lá đơn, mọc đối; cuống lá 2-10 mm, có đốt; phiến lá hình trứng hình mũi mác,
2,5-13 × 0,7-6 cm, hình quả trám, có 3 hoặc 5 gân từ gốc, gốc rộng hình mác đến cụt, hiếm khi hình tim, đỉnh nhọn đến mũi nhọn Hoa ở đầu hoặc ở nách, đơn độc hoặc trong các bao có 3-5 hoa; lá bắc dài hẹp, 1-13 mm Cuống 1-10 mm Đài hoa 7 hoặc
8 thùy, dài hẹp, (0,5-) 1-1,7 cm, thường mở rộng ra trong quả Tràng hoa màu trắng, hình bầu dục -thuôn hoặc hình đường; không lông, mép nguyên; ống tràng 1,3-2,6 cm; thùy 8-10, hình mác, (0,8-) 1,5-2,5 cm Quả mọng, mọc kép ( 2 phân quả) hoặc
1 nửa không phát triển (vì đây là đặc trưng của chi), hình cầu, 0,7-2 cm × 5-13 mm 1.1.3.2 Đặc điểm vi phẫu
Sandip Kumar Pahari (2017)[26] “Đánh giá dược lực học và dược tính của của
rễ cây Jasminum multiflorum Andr.” đã có nghiên cứu về vi phẫu của rễ và thông qua lát cắt ngang của rễ đã nêu ra các đặc điểm của vi phẫu rễ cây Jasminum multiflorum
Trang 13Andr Ông chỉ điểm ra những đặc điểm nhận biết có trong lát cắt mà chưa được mô
tả chi các đặc điểm vi phẫu rễ có trong bài nghiên cứu của mình
Preeti Garg and Vandana Garg (2022)[18] đã tiến hành nghiên cứu về thân của
Jasminum Multiflorum (Burm F.) và Jasminum Mesnyi (Hance) Ông đã nghiên cứu
về vi phẫu thân của hai loài Jasminum và chỉ ra các đặc điểm vi phẫu thân cây của
Jasminum Multiflorum (Burm F.) và Jasminum Mesnyi (Hance), mặc dù chưa mô tả
chi tiết nhưng ông đã nêu ra được các đặc điểm nhận biết có trong lát cắt ngang của thân
1.1.4 Giá trị sử dụng
Akash Jain (2011)[15] ông đã nghiên cứu về cây làm thuốc và trong đó ông có
nghiên cứu việc sử dụng các loài Jasminum làm thuốc Trong quá trình nghiên cứu ông đã tìm thấy một số cây thuộc loài Jasminum có thể sử dụng làm thuốc, nguyên
liệu làm thuốc, các cây này có những đặc tính dược lực học, tác dụng dược lý để điều trị một số bệnh như: đau bụng kinh, vô kinh, nấm ngoài da, bệnh phong,… Dưới đây
là những cây làm thuốc trong quá trình nghiên cứu về loài Jasminum :
- Jasminum grandiflorum Linn (Nhài Tây Ban Nha, Nhài thông thường,
Chameli, Jati): Rễ dùng chữa đau đầu, suy nhược thần kinh, táo bón kinh niên, đầy hơi, thắt cổ, vô kinh, hắc lào, bệnh ngoài da, chóng mặt,… Lá có tác dụng chữa đau răng, chữa răng lung lay, viêm loét miệng, phong, bệnh ngoài da, chảy máu tai, rong kinh, đau bụng kinh, loét,…
- Jasminum sambac (hoa nhài Ả Rập, hoa nhài Ấn Độ, Sampaguita, Mogra): Rễ
được dùng ngoài trị vết thương và rắn cắn Lá và hoa có đặc tính hạ sốt và thông mũi Hoa được dùng trị tiêu chảy, đau bụng, viêm kết mạc và viêm da
Lá và rễ dùng chữa ỉa chảy, sốt, đau nhức và như một chất gây mê
- Jasminum mesnyi Hance (Nhài anh thảo, Nhài Nhật, Japani chameli): làm
giảm mức đường huyết lúc đói và cũng cho thấy hoạt tính chống oxy hóa trong ống nghiệm theo cách phụ thuộc vào liều lượng bằng các thử nghiệm nhặt gốc DPPH và oxit nitric
- Jasminum angustifolium Linn (Nhài dại, Banmallika): Chống lại khối u, giảm
tế bào ung thư phúc mạc, bảo vệ gan
- Jasminum auriculatum (Nhài kim, Juhi, Juyi): Nấm ngoài da, bỏng rát, loét,
đau răng
- Jasminum arborescens Roxb (Cây Lài): Giun sán
- Jasminum amplexicaule Buch.-Ham: Kết lị, tiêu chảy và đau bụng
Trang 14- Jasminum lanceolarium (Jasminum lanceolaria, Jasminum lanceolarium
Roxb.)
- Jasminum nudiflorum (hoa nhài mùa đông, hoa nhài cứng cáp): Hoa và lá sử
dụng trong trị sưng tấy, mưng mủ, vết bầm tím hoặc chảy máu do chấn thương
1.2 Tổng quan về chi Jasminum L và loài Jasminum nervosum Lour ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu phân loại, thành phần loài, phân bố
1.2.1.1 Chi Jasminum L
Loureio (1790)[32] là người đầu tiên nghiên cứu họ Oleaceae và chi
Jasminum ở Việt Nam, ông mô tả và công bố 1 loài mới J nervosum, trong cuốn
Flora Cochinchine Loài này thuộc nhánh lá đơn (Unifoliolata DC.)
F.Gagnepain năm (1933)[30] trong "Flore général de L' Indochine" đã xây dựng khóa định loại, mô tả đặc điểm hình thái cho 9 chi, 60 loài và 3 thứ thuộc họ
này Trong số đó, chi Linociera sau này là tên đồng nghĩa của Chionanthus Trong
công trình của mình, ông đã công bố 29 loài mới trong đó 28 loài phát hiện ở Việt Nam, hiện tại 5 loài vẫn là đặc hữu cho Việt Nam
Mặc dù công trình nghiên cứu của F Gagnepain đến thời điểm này đã 90 năm, hệ thống phân loại, số lượng các loài, danh pháp thực vật đã có sự thay đổi, nhưng đến hiện tại công trình của ông vẫn được coi là nghiên cứu đầy đủ và hoàn
chỉnh nhất về phân loại chi Jasminum, cũng như họ Oleaceae ở Việt Nam
Phạm Hoàng Hộ (1970)[6] nghiên cứu chi Jasminum L ở Việt Nam, ông
mô tả ngắn gọn và có hình vẽ sơ bộ 17 loài thuộc chi phân bố ở miền nam Việt Nam Năm 1992 và năm 1999[7, 8], ông mô tả vắn tắt các đặc điểm hình thái, sinh
thái, phân bố và vẽ hình sơ bộ của 33 loài và 1 thứ thuộc chi Jasminum L ở Việt
Nam Mặc dù không phân chia thành các nhánh nhưng ông cũng đã xếp 2 loài lá kép ba lá chét và nhóm lá đơn riêng rẽ Nghiên cứu của ông là 1 trong những tài
liệu phân loại chi Jasminum L rất có giá trị của người Việt Nam
Hà Thị Dụng (1984)[5] nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê
danh lục có 9 loài thuộc chi Jasmnim L
Trần Đình Lý (2003)[10] công bố danh lục, mô tả một số đặc điểm như
sinh học, sinh thái của 29 loài thuộc chi Jasminum L trong hệ thực vật Việt Nam
Bùi Hồng Quang (2016)[11] đã nghiên cứu về chi Nhài và phân loại họ
Nhài (Oleaceae) Ông đã dựa vào đặc điểm hình thái và sắp xếp các chi Jasminum
Trang 15trong họ Nhài (Oleceae), ông đã mô tả về đặc điểm hình thái và đưa ra được khóa
định loại của các chi Jasminum giúp chúng ta có cái nhìn nhận về chi Jasminum
dễ dàng và cụ thể hơn
Phân bố:
Các loài trong chi này phân bố rải rác khắp các vùng núi thấp và trung du; đôi khi thấy ở cả đồng bằng, chủ yếu từ Hà Tĩnh trở ra: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh,…[3, 9, 14]
1.2.1.2 Chè vằng - Jasmium nervosum Lour
Loài Chè vằng có tên khoa học là Jasmium nervosum Lour., thuộc họ Nhài
Các tên đồng nghĩa của loài Chè vằng[33]:
- Jasminum anastomosans Wall ex DC
- Jasminum elegans (Hemsl.) Yamam
- Jasminum finlaysonianum Wall ex G.Don
- Jasminum hemsleyi Yamam
- Jasminum lindleyanum Blume
- Jasminum silhetense Blume
Trang 16- Jasminum anastomosans var silhetense (Blume) C.B.Clarke
- Jasminum cinnamomifolium var axillare Kobuski
- Jasminum nervosum var elegans (Hemsl.) L.C.China
- Jasminum undulatum var elegans Hemsl
- Jasminum smalianum Brandis
- Jasminum stenopetalum lindl
- Jasminum subtriplinerve Blume
- Jasminum trinerve Roxb
- Jasminum trineuron Kobuski
- Jasminum amplexicaule var elegans (Hemsl.) Kobuski
- Jasminum laurifolium var villosum H.Lév
- Jasminum nervosum var villosum (H.Lév) L.C.China
- Jasminum subtriplinerve var parvifolium Regel
Phân bố:
Ở Việt Nam, chè vằng có rải rác ở hầu hết các tỉnh thộc vùng núi thấp, trung
du và cả đồng bằng Không thấy cây mọc ở vùng núi cao trên 1500 m Cây có thể sống, thích nghi tốt ở nhiều dạng lập địa, vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là các kiểu lập địa đất nghèo dinh dưỡng[1]
Trang 17viêm nhiễm Trong dân gian, để điều trị kinh nguyệt không đều và các bệnh liên quan
về kinh nguyệt Theo một cách dân gian khác việc sắc lá cây tươi được sử dụng như một chất khử trùng cho các vết thương và lá tươi được sử dụng để đắp lên các ổ áp
xe và viêm vú Ở dạng thuốc sắc, nước Chè vằng được sử dụng cho tắm chống lại bệnh chốc lở Nước thu được bằng cách nghiền rễ trong dấm được áp dụng tại chỗ để
chữa các vết mưng mủ Ngoại trừ cây hoa Nhài ( Jasminum sambac), 6 loài còn lại
đều thuộc nhóm cây bụi có cành vươn dài hoặc dây leo và đều có tên gọi chung là
“Vằng” hay “Chè vằng” Nhóm “Chè vằng” có hình thái bên ngoài tương đối giống
nhau, hoa màu trắng và có công dụng làm thuốc tương tự: Jasminum lanceolatum
Roxb., J multiflorum (Burm.f.) Andr., J nervosum Lour., J longisetum Gagnep…[1]
Ngoài các tác giả trên còn có một số tác giả công bố về công dụng các loài
thuộc chi Nhài (Jasminum L.) như Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi, Đỗ Tất Lợi …, các
tác giả đã cung cấp về thông tin giá trị sử dụng của các loài
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về Jasminum nervosum Lour tại Việt
Nam còn chưa chuyên sâu về đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu của Chè vằng
và loài dễ nhầm lẫn cùng chi để giúp phân biệt, định danh, kiểm định tính đúng của
dược liệu Mô tả về cây chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) còn khá đơn giản, chưa
chuyên sâu vào các vấn đề để có cái nhìn nhận về cây chè vằng một cách thiết thực hơn Nếu có những đặc điểm cụ thể như vậy sẽ giúp phân biệt các loài trong cùng
một chi với nhau, tránh nhầm lẫn giữa cây Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) với các loài trong chi Jasminum Đặc điểm vi phẫu cũng như bột dược liệu chưa được mô
tả chi tiết về cây Chè vằng
Trang 18Chương II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) thuộc họ Nhài (Oleaceae) được
thu thập tại Hòa Bình
- Loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum vẫn được người dân thu hái lẫn với Chè
vằng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định tên khoa học loài Chè vằng Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài
Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum thu
thập ở tỉnh Hòa Bình
- Xác định tên khoa học của loài Chè vằng và loài nhầm lẫn
- Mô tả và so sánh các đặc điểm hình thái của 2 loài Chè vằng thu được: phân tích, mô tả và so sánh các đặc điểm hình thái của loài như cơ quan sinh dưỡng (thân, cành, lá…) và cơ quan sinh sản (cụm hoa, quả…)
- So sánh đặc điểm hình thái của 2 loài Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và dễ loài nhầm lẫn
- Mô tả các đặc điểm vi phẫu của cành, lá của của loài chè vằng thu được
- So sánh đặc điểm vi phẫu của Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
- Mô tả và so sánh đặc điểm bột dược liệu (cành và lá) của loài Chè vằng
- So sánh đặc điểm bột dược liệu của Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Với đề tài khóa luận này, chúng tôi tập trung tham khảo tài liệu để nắm được các thông tin cơ bản về:
• Vị trí phân loại và danh pháp của loài
• Nguồn gốc và vùng phân bố của loài
• Đặc điểm hình thái và sinh thái của loài
• Giá trị sử dụng loài
- Kế thừa các số liệu và phương pháp nghiên cứu:
Trang 19• Kế thừa số liệu, kết quả từ các bài báo, các nghiên cứu trong và ngoài nước
• Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
- Các tiêu bản được lưu giữ tại các phòng tiêu bản và bảo tàng
2.3.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý
- Phương pháp thu mẫu: tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc và
phương pháp thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)[13]
- Dụng cụ và xử lý mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, kéo cắt cây, giấy báo,
dây buộc, etyket, bút chì, bút bi, sổ ghi chép, cồn, máy ảnh
- Nguyên tắc thu mẫu: Đi thu thập mẫu cây chè vằng tại một số địa điểm, chúng
tôi đã thu thập đầy đủ các bộ phận của cây bao gồm: thân, lá, hoa và quả Đánh
số hiệu ở mỗi mẫu thu được, đồng thời ghi chép những đặc điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên của cây ngoài thiên nhiên mà sau khi khô có thể bị mất đi Sau khi thu và ghi chép xong cho vào túi đựng mẫu mang về để làm mẫu
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh
Là phương pháp dựa vào đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản, chủ yếu là cơ quan sinh sản vì nó có tính chất bảo thủ và ít phụ thuộc vào điều kiện môi trường
Để làm tốt phương pháp trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, phân loại các mẫu tiêu bản khô tại các phòng lưu trữ mẫu Các bước tiến hành như sau:
- Tập hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về các loài cần nghiên cứu
- Nghiên cứu và phân tích các mẫu tiêu bản đã được thu thập và lưu trữ tại: phòng tiêu bản cây thuốc của Viện Dược Liệu (NIMM) và các mẫu thu được trong các đề tài nghiên cứu Tham khảo các ảnh tiêu bản đang được lưu trữ tại các phòng tiêu bản trên thế giới: Royal Botanic Gardens, Kew; qua mạng internet Đối với hoa đã sấy khô, để quan sát được hình dạng ban đầu, tôi đã
áp dụng phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) :
+ Lấy từng hoa ra, cho vào ống nghiệm và đổ ngập nước
+ Đun sôi trên ngọn lửa đèn cồn để mẫu trở lại trạng thái bình thường, rồi vớt ra, thấm khô và cho lên lamen
+ Dùng kim nhọn hoặc kim mũi mác, lưỡi dao lam để tách từng bộ phận của hoa ra quan sát dưới kính lúp
- Mô tả các đặc điểm hình thái
Trang 20- Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
2.3.4 Phương pháp vi phẫu
Tiêu bản vi phẫu thân được cắt ngang ở đoạn thân thứ 3 tính từ đầu cành Tiêu bản vi phẫu lá được cắt ngang ở vị trí khoảng 1/2 - 1/3 dưới gần gốc lá trưởng thành Sau đó, các mảnh cắt được nhuộm và làm tiêu bản vi phẫu
Quan sát, mô tả và chụp ảnh các đặc điểm vi phẫu qua kính hiển vi
Các bước thực hiện bao gồm:
Cắt mẫu và tẩy nội chất
- Bước 1 Cố đinh mẫu trên dụng cụ cắt vi phẫu cầm tay microtome và cắt bằng dao lam Sử dụng phẫu thức cắt ngang Cắt những lát mỏng qua thân, rễ, lá Thân rễ cắt ngang, rễ cắt ở rễ chính, có thiết diện phù hơp; lá cắt ngang gân giữa và một phân phiến lá hai bên, đoạn 1/3 kể từ cuống lá, lá đươc chọn là lá bánh tẻ không quá già hoăc quá non, khảo sát trên nhiều lá để ghi nhận, mô tả đặc điểm chung Mẫu tươi được cắt trực tiếp không qua xử lý Tuy nhiên để lưu mẫu vật cho việc kiểm định sau này, mẫu được ngâm trong dung dich carnoy I trong 24h sau đó chuyển sang dung dịch bảo quản gồm cồn 70ᵒ
- Bước 2 Ngâm mẫu ngay sau khi cắt trong dung dịch cloramin 5% hoặc dung dich natri hypoclorit (nước Javen) trong 20-30 phút Rửa mẫu qua nước
- Bước 3 Ngâm mẫu trong dung dịch acid acetic 1% trong 10-15 phút để tẩy cloramin còn sót lại Rửa mẫu qua với nước
2.3.5 Phương pháp phân tích bột dược liệu
- Mô tả đặc điểm bột dược liệu bằng cảm quan: màu sắc, mùi vị
Trang 21- Theo “Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi” của Nguyễn Viết Thân (2003)[12].Tiến hành làm tiêu bản bột dược liệu: tách riêng phần thân
và lá của mẫu, sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 600C, tán thành bột mịn Rây lấy bột mịn, dụng kim mũi mác lấy bột dược liệu cho lên phiến kính đã nhỏ sẵn một giọt nước cất, đặt lamen và quan sát dưới kính hiển vi Xác dịnh những đặc điểm vi học của bột phần thân và lá của các loài chè vằng thu được, chụp lại ảnh bằng máy ảnh
2.4 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu
2.4.1 Hóa chất sử dụng
Hóa chất làm tiêu bản: Nước Javen, dung dịch acid acetic 5%, nước cất, glycerin 10%, cồn, thuốc nhuộm: đỏ carmin 0,5%, xanh methylene 1%
2.4.2 Thiết bị sử dụng
- Chụp ảnh mẫu nghiên cứu bằng máy ảnh Canon IXY 30s
- Kim mũi mác, dao lam, chổi lông, phiến kính, lamen…
- Kính hiển vi soi nổi Nikon SMZ 745T kết nối camera Nikon DS - Fi2 và máy tính
- Kính hiển vi Nikon Eclipse Ci kết nối camera Nikon DS – Fi2 và máy tính
- Tủ sấy WseVen
Trang 22Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Xác định tên khoa học
1.1 Xác định tên khoa học của loài Chè vằng và loài nhầm lẫn
Trong quá trình điều tra, thu thập chúng tôi ghi nhận được 2 loài thuộc chi
Jasminum đang được sử dụng phổ biến tại Hòa Bình có tên gọi là “Chè vằng” để làm
thuốc
Qua phân tích những đặc điểm hình thái về thực vật của mẫu Chè vằng ký hiệu
CV01 thuộc chi Jasminum thu được tại tỉnh Hòa Bình, đồng thời kết hợp so sánh đặc điểm này với khóa định loại chi Jasminum của Bùi Hồng Quang (2016)[11] khi
nghiên cứu phân loại họ Nhài(Oleaceae) tại Việt Nam, kết hợp với việc kiểm tra mẫu
tiêu bản của loài Jasminum nervosum đang được lưu trữ tại một số bảo tàng, phòng
tiêu bản: Kew(K000901407), phòng tiêu bản Trung tâm Tài nguyên Dược liệu-Viện Dược Liệu (NIMM856; 1414; 5899; 9678,… ),… Tôi kết luận mẫu thu thập được có
tên khoa học là Jasminum nervosum Lour
Từ kết quả phân tích đặc điểm hình thái về thực vật của mẫu Chè vằng ký hiệu CV02 thu được tại tỉnh Hòa Bình, đồng thời kết hợp so sánh đặc điểm này với khóa
định loại chi Jasminum của Bùi Hồng Quang (2016)[11] khi nghiên cứu phân loại họ
Nhài(Oleaceae) tại Việt Nam, kết hợp với việc kiểm tra mẫu tiêu bản của loài
Jasminum pentaneurum đang được lưu trữ tại một số bảo tàng, phòng tiêu bản: Phòng
tiêu bản Đại học Wien(WU0060942), Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Pháp (MNHN-P-P0023854;MNHN-P-P00887978),… Tôi kết luận mẫu thu thập được có
tên khoa học là Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz
Bảng 3 1 Khóa phân loại chi Nhài (Jasminum L.) (Theo Bùi Hồng Quang (2016)[11])
1B Lá đơn
6A Lá có vòng cung từ 2-5 gân xuất phát từ gốc
7B Đài chia thùy
8A Lá hình bầu dục-thuôn, hình trứng, hình mác
9A Cụm hoa hình tán ở đỉnh cành J longipetalum
Trang 239B Cụm hoa hình xim ở nách lá hay đỉnh cành
10A Cụm hoa có hoa dày đặc tạo hình đầu J pentaneurum
10B Cụm hoa có hoa thưa từ 1-5 hoa
11A Ống tràng phình to ở đoạn đính chỉ nhị J nervosum