Việt Nam đã và đang chuyển từ giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một xã hội khép sang một xã hội rộng mở (với phương châm sẵn sàng là bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi). Do sự chuyển đổi đó nên xã hội Việt Nam cũng có sự biến đổi hết sức sâu sắc trên nhiều phương diện, trong đó có sự biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp. Sự biến đổi này, một mặt tác động tích cực đến công cuộc đổi mới đất nước, nhưng mặt khác cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết.
Trang 1TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC HỌC MÁC-LÊNIN
Số thứ tự
Họ và tên .
Mã sinh viên: ……… ………
Lớp: ……… Khoa
Lớp tín chỉ:
HÀ NỘI, THÁNG NĂM 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC HỌC MÁC-LÊNIN
Tên đề tài:
Lý luận của Chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai
cấp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Họ và tên:
Số điện thoại:.
Thời gian học: Sáng/ Chiều - Thứ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP 2
1.1 Giai cấp 2
2.2 Đấu tranh giai cấp 4
CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 6 2.1 Đặc điểm và cơ cấu giai cấp ở Việt Nam 6
2.2 Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 9
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC THAM KHẢO 14
Trang 4MỞ ĐẦU
Việt Nam đã và đang chuyển từ giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một xã hội khép sang một xã hội rộng mở (với phương châm sẵn sàng là bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi) Do sự chuyển đổi đó nên xã hội Việt Nam cũng có sự biến đổi hết sức sâu sắc trên nhiều phương diện, trong đó có sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp Sự biến đổi này, một mặt tác động tích cực đến công cuộc đổi mới đất nước, nhưng mặt khác cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU
TRANH GIAI CẤP 1.1 Giai cấp
Quan điểm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư của C Mác là cơ sở
lý luận khoa học làm sáng tỏ bản chất của quan hệ giai cấp Năm 1919, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại” V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp như sau:
“Giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.”
Bản chất của quan hệ giai cấp
Nói giai cấp là nói đến hệ thống các nhóm người trong một hệ thống kinh tế
-xã hội cụ thể do chế độ đó tạo ra Mọi giai cấp trong lịch sử, trên cùng một hệ thống hoặc một hệ thống khác nhau, mỗi loại có đặc điểm riêng Một giai cấp nhất định cũng sẽ thay đổi khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi Tuy nhiên, định nghĩa của Lê-nin cho phép chúng ta nắm được những đặc điểm cơ bản, những dấu hiệu chung và ổn định nhất của các giai cấp, dù đó là những giai cấp của xã hội cổ đại,
xã hội phong kiến, hay xã hội tư bản hiện đại Giai cấp là một phạm trù kinh tế
-xã hội lịch sử, không phải là một phạm trù -xã hội đơn thuần Giai cấp không phải
là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của những hệ thống sản xuất
xã hội nhất định trong lịch sử Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất, là thể thống nhất của các mặt đối lập Do đó, ta không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu không đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó Nói dễ hiểu là, khi ta đề cập
Trang 6đến giai cấp tư sản thì bắt buộc phải đề cập ít nhiều đến giai cấp vô sản, và ngược lại
Về nguồn gốc giai cấp
Điểm xuất phát của C Mác khi nghiên cứu về xã hội là “con người hiện thực”, tức không phải con người chung chung, trừu tượng như một số các nhà triết học trước đó, mà đây là con người đang sống trong một đất nước nhất định, một dân tộc nhất định, một thời đại nhất định C Mác đã phát hiện ra một sự thật vô cùng hiển nhiên là: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và vài thứ khác nữa”(1) Đây là nhu cầu đầu tiên và tối thiểu của con người để họ có thể sống, tồn tại và muốn có những thứ đó con người buộc phải lao động, sản xuất Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp thống nhất hữu cơ giữa người lao động và tư liệu sản xuất Chừng nào trong xã hội có sự tách rời giữa người lao động và tư liệu sản xuất, hay nói cách khác, có tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lúc đó trong xã hội xuất hiện giai cấp Vì vậy, trong xã hội nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, với công cụ bằng đá, gậy gộc, cung tên con người làm ra sản phẩm chỉ đủ để tồn tại, duy trì nòi giống, chưa có sản phẩm dư thừa tương đối thì chưa xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do đó, chưa xuất hiện việc phân chia giai cấp trong xã hội Đến xã hội chiếm hữu nô lệ, do xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên trong xã hội xuất hiện giai cấp Chủ nô và nô lệ
là hai giai cấp cơ bản đối kháng trong xã hội này
Do điều kiện lịch sử thời kỳ bấy giờ, C Mác không nói rõ nguyên nhân dẫn tới việc phân chia giai cấp, nhưng ông cũng khẳng định rằng: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”
và đó là giai đoạn xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sau này Ph Ăng-ghen đã làm rõ hơn: “Quy luật phân công lao động là cái làm cơ sở cho sự phân chia thành giai cấp” Ngoài ra, Ph Ăng-ghen còn bổ sung, chiến tranh và cướp bóc đã đẩy nhanh quá trình phân hóa giai cấp: “Nhưng điều đó hoàn toàn không loại trừ việc sử dụng bạo lực, cướp bóc, mánh khóe và lừa bịp trong sự hình thành các giai cấp, và không cản trở giai cấp thống trị, một khi đã nắm được chính
Trang 7quyền sẽ củng cố địa vị của nó trên lưng các giai cấp lao động và biến việc quản lý
xã hội thành việc bóc lột quần chúng”
1.2 Đấu tranh giai cấp
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen trong điều kiện mới của lịch sử, V.I Lênin chỉ rõ: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống lại bọn có đặc quyền, đặc lợi và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản.” Như vậy, thực chất đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau (lợi ích cơ bản là những giá trị vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu nhất định của một giai cấp) Do sự đối lập về lợi ích mang tính đối kháng nên đấu tranh giai cấp là tất yếu
Bản chất của đấu tranh giai cấp:
Các hình thức đấu tranh giai cấp là đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và đấu tranh chính trị Muốn giải phóng về kinh tế, phải đấu tranh tư tưởng và tiến lên đấu tranh chính trị để giành chính quyền Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng
là một cuộc đấu tranh chính trị Trong cuộc đấu tranh giai cấp, mỗi giai cấp đều muốn tập hợp quanh mình những giai cấp khác, phù hợp về lợi ích cơ bản, lâu dài hoặc có thể là những lợi ích không cơ bản và tạm thời Đó là liên minh giai cấp trong đấu tranh giai cấp và đây là một yếu tố tất yếu trong đấu tranh giai cấp
Đấu tranh giai cấp là tất yếu trong xã hội có giai cấp
Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các giai cấp và tầng lớp bị trị Các giai cấp, tầng lớp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần Bởi sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích khác nhau Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp quy định mà do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp ấy tạo nên một cách khách quan Giai cấp bóc lột bao giờ cũng dùng
Trang 8mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp Lợi ích
cơ bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp
Nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, theo C.Mác là mâu thuẫn giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời Theo C Mác, đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển tới mức mâu thuẫn không thể giải quyết với quan hệ sản xuất đã lỗi thời trong lòng xã hội cũ C.Mác gọi đây là "tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây”
Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất… Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” đó chính là cách mạng xã hội hay đấu tranh giai cấp
Trang 9CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY 2.1 Đặc điểm và cơ cấu giai cấp ở Việt Nam
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta cũng biến đổi rất mạnh mẽ theo hướng chuyển từ cơ cấu “hai giai cấp, một tầng lớp” sang cơ cấu hai giai cấp và nhiều tầng lớp khác nhau Các giai cấp và các tầng lớp cũng biến đổi mạnh mẽ Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội định hướng, phát huy những xu hướng tích cực, đồng thời hạn chế những xu hướng không mong muốn
do sự biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp Ở nước ta cơ cấu - giai cấp mang 3 đặc điểm cơ bản sau:
+ Tính chất xã hội chủ nghĩa: đó là biểu hiện ở sự lãnh đạọ của Đảng Cộng sản, xác định hướng phát triển của cơ cẩu - giai cấp là theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân
+ Cơ cấu xã hội - giai cấp còn phát triển chậm biếu hiện ở chỗ giai cấp nông dân chiếm một tỷ lệ lao động lớn trong dân cư
+ Cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta mang tính quá độ và tính đa dạng, thống nhất Giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức còn chiếm tỷ lệ thấp, giai cấp nông dân còn chiếm tỷ lệ cao Tính đa dạng được biểu hiện ở cơ cấu nhiều giai tầng, tính thống nhất biểu hiện ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đó là một đặc trưng của cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ chuyển hóa, có sự biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc các thành phần xã hội, có sự phân hóa các tầng lớp xã hội trong quá 'trình hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Cơ cấu giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, người sản xuất nhỏ, tầng lớp doanh nhân Liên minh công – nông – trí thức là cơ sở của toàn xã hội, làm cơ sở chính trị – xã hội vững chắc cho chế độ mới Giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo, quyết định xu hướng phát triển của xã hội Nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trở thành người
Trang 10làm chủ xã hội Trí thức ngày càng có vai trò quyết định trong việc ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước Tầng lớp doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của mình, hoạt động theo luật pháp và định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Cơ cấu giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, người sản xuất nhỏ, tầng lớp doanh nhân Liên minh công – nông – trí thức là cơ sở của toàn xã hội, làm cơ sở chính trị – xã hội vững chắc cho chế độ mới Giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo, quyết định xu hướng phát triển của xã hội Nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trở thành người làm chủ xã hội Trí thức ngày càng có vai trò quyết định trong việc ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước Tầng lớp doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của mình, hoạt động theo luật pháp và định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Việt Nam
- Giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những yếu tố của giai cấp công nhân hiện đại và còn có những đặc điểm riêng của mình Đó là do ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam nên giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện sớm giữ vai trò lãnh đạo và giành ưu thế ngay từ khi có Đảng của mình Hơn nữa, sự gắn bó giữa công nhân và nông dân đã hình thành một cách tự nhiên, phần lớn xuất thân từ nông dân nên giai cấp công nhân Việt Nam đã mang sẵn trong mình mối liên minh với nông dân và luôn giữ được vai trò lãnh đạo trong quá trình cách mạng Việt Nam Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có nhiều người nông dân vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp và trở thành công nhân ở chính ngay quê hương mình Điều này càng tạo cho sự gắn bó của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, nông thôn một cách tự nhiên trên nhiều mặt của đời sống xã hội
- Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất
cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản
Trang 11Nông dân có phương thức sản xuất phân tán, năng suất thấp Theo V.I Lênin, nông dân có "bản chất hai mặt" một mặt họ là những người lao động (đây là mặt cơ bản nhất); mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ (đây là mặt hạn chế sẽ được khắc phục trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá) Tuy nhiên, nông dân không dựa trên tư hữu nhỏ này để bóc lột các giai cấp, tầng lớp khác Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội Họ vốn có cơ cấu không thuần nhất, không có sự liên kết chặt chẽ cả về kinh tế và cả về tư tưởng, tổ chức Trong một nước nông nghiệp thì họ là lực lượng chính trị - xã hội đông đảo nhất và khi được giác ngộ họ trở thành lực lượng cách mạng to lớn nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Giai cấp nông dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thực sự giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột và trở thành người làm chủ xã hội và đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Trí thức bao gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, có trình
độ học vấn đủ để am hiểu và hoạt động trong lĩnh vực lao động của mình Họ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng khoa học, văn học, nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý Sản phẩm lao động của trí thức tác động quyết định đến năng suất lao động, đến sự phát triển xã hội về cả mặt đời sống vật chất
và cả về đời sống tinh thần
Trí thức không có hệ tư tưởng riêng vì không có phương thức sản xuất riêng
và địa vị kinh tế - xã hội độc lập Vai trò và tư tưởng của họ phụ thuộc vào giai cấp thống trị xã hội Mặc dù vậy, trí thức luôn giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội
Trong các chế độ tư hữu đa số trí thức là những người lao động bị áp bức, bóc lột Khi được sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, trí thức trở thành người làm chủ
xã hội và đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trí thức đã có nhiều đóng góp trong quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đại bộ phận được đào tạo trong chế độ mới Họ xuất thân chủ yếu từ nông dân, công nhân và các tầng lớp lao động khác Do vậy
họ có mối liên hệ gần gũi với công nhân, nông dân và luôn là lực lượng cơ bản của