1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn hóa học 9

34 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn hóa học 9
Tác giả Đào Thị Quyên
Trường học Trường THCS Phượng Cách
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 – 2023
Thành phố Quốc Oai
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 110,98 KB
File đính kèm biện pháp nâng cao hứng thú học tập.rar (96 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sáng kiến kinh nghiệm; một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn hóa học 9sáng kiến kinh nghiệm; một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn hóa học 9sáng kiến kinh nghiệm; một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn hóa học 9

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP OXIT AXIT PHẢN ỨNG VỚI DUNG DỊCH KIỀM

Lĩnh vực : Hóa học

Cấp học : Trung học cơ sở

Tên tác giả : Đào Thị Quyên

Đơn vị công tác : Trường THCS Phượng Cách

Chức vụ : Giáo viên

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC 9

Lĩnh vực : Hóa học

Cấp học : Trung học cơ sở

Tên tác giả : Đào Thị Quyên

Đơn vị công tác : Trường THCS Phượng Cách Chức vụ : Giáo viên

NĂM HỌC 2022 – 2023

Trang 2

MỤC LỤ

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I- Lí do chọn đề tài 1

1 Cơ sở lí luận 1

2 Cơ sở thực tiễn 1

II- Mục đích nghiên cứu 2

III- Đối tượng nghiên cứu 2

IV- Phạm vi và thời gian nghiên cứu 2

V- Phương pháp nghiên cứu 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

I- Tổng quan 3

1 Hứng thú là gì? 3

2 Lợi ích của việc nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học 4

II Quá trình thực hiện đề tài 4

1 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài 4

2 Thực trạng nghiên cứu 5

3 Những nội dung, biện pháp đã thực hiện 7

III Kết quả thực hiện 18

1 Kết quả nghiên cứu 18

2 Kết quả đối chứng 19

IV Bài học kinh nghiệm 20

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21

1 Kết luận 21

2 Khuyến nghị 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

PHỤ LỤC 1

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I- Lí do chọn đề tài

1 Cơ sở lí luận

Đất nước đang bước sang thời kì đổi mới, với sự phát triển nhanh chóng

và biến đổi liên tục của xã hội Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự thànhcông của cuộc cách mạng khoa học 4.0, tiến tới là cuộc cách mạng 5.0 đã tạo racho con người những cơ hội và thách thức mới Để bắt kịp với đà phát triển đấy,ngành Giáo dục của các quốc gia trên khắp thế giới ngày càng được chú trọng vàquan tâm Sự thay đổi, cải cách được nhiều nước tiến hành để hiện đại hóachương trình Giáo dục mà đặc biệt là chuẩn bị các năng lực phục vụ cho nhữngđòi hỏi của cuộc sống mới Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xcủa Đảng đã xác định: Giáo dục quốc dân nhằm mục tiêu hình thành và pháttriển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ Trong đó, phát triển

giáo dục và đào tạo phải tuân theo nguyên lý: “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lí luận phải gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường phải kết hợp với giáo dục xã hội; phương pháp giáo dục phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, kỹ năng thực hành, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên…”

2 Cơ sở thực tiễn

Trong hệ thống giáo dục, môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm,nghiên cứu về chất, sự biến đổi và ứng dụng của chúng Thực tế giảng dạy chothấy, nhiều học sinh (HS) cho rằng, các bộ môn khoa học tự nhiên, trong đó cómôn Hóa học thường khô khan, khó hiểu Chính vì vậy mà học sinh, đặc biệt làhọc sinh có học lực trung bình trở xuống thường rất khó tập trung trong giờ học

Từ đó, đặt ra thách thức cho bản thân mỗi giáo viên cần phải không ngừng thayđổi các phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học để khơi dậy sự hứngthú cũng như sự ham thích môn học của học sinh, tránh cho tiết học không bịkhô khan, nhàm chán

Hóa học gắn liền với thực tiễn, những tình huống diễn ra trong thực tiễn lànhững vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày của con người, có sự gần gũi,thân thiết với học sinh Chính vì vậy, việc sử dụng các tình huống thực tế, nhữngcâu chuyện, bài thơ, hay những bài tập hóa học, những thí nghiệm vui…sẽ tạocho các em một tâm thế học tập tốt, sự ham thích, muốn khám phá những kiếnthức mới để có thể lí giải cho những vấn đề đó Từ đó nâng cao chất lượng bộmôn, khơi dậy niềm yêu thích môn học của học sinh

Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên cùng với kinh nghiệm có

Trang 4

được qua nhiều năm giảng dạy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học 9”.

II- Mục đích nghiên cứu

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi nghiên cứu những biệnpháp hợp lý để nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học 9, giúp học sinh có tưduy tốt, có khả năng học tập linh hoạt, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn Từ

đó góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh

Giúp cho học sinh hiểu rõ được mối quan hệ giữa các kiến thức Hóa họcvới thực tiễn đời sống, từ đó khơi dậy sự hứng thú của học sinh thông qua nhữngbài thơ, một số câu chuyện hóa học, các hiện tượng thực tế trong đời sống

Đề ra những giải pháp cần thiết, hiệu quả và cụ thể việc áp dụng nhằmnâng cao chất lượng học tập đối với bộ môn Hóa học 9

III- Đối tượng nghiên cứu

1 Đối tượng

Tìm hiểu những biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học

9 trường trung học cơ sở

2 Khách thể

Học sinh lớp 9B, 9C của trường trung học cơ sở Phượng Cách

IV- Phạm vi và thời gian nghiên cứu

1 Phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ chương trình hóa học 9

2 Thời gian nghiên cứu

Từ đầu năm học 2022- 2023 đến tháng 4/2023

V- Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu

có liên quan đến đề tài trên báo chí và nhiều tài liệu khác

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm ở các giờ dạy trênlớp

- Phương pháp điều tra học sinh: Qua bảng hỏi

- Phương pháp kiểm tra đánh giá: Thông qua các bài kiểm tra khảo sát,bài kiểm tra định kì, đánh giá thông qua quá trình học trên lớp

- Phương pháp thống kê toán học:

Trang 5

biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, “vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức,

giúp học sinh (HS) học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạchnguồn của sự sáng tạo

Một cách khái quát có thể hiểu: Hứng thú là thái độ con người đốivới sự vật, hiện tượng nào đó Hứng thú là biểu hiện của xu hướng về mặtnhận thức của cá nhân với hiện thực khách quan, biểu hiện sự ham thíchcủa con người về sự vật, hiện tượng nào đó

J.Piaget (1896 – 1996) nhà tâm lý nổi tiếng người Thụy Sĩ nhấn mạnh:

cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó Ông cho

rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thúchẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa

Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượngcủa hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiếtthực của nó trong đời sống cá nhân Hứng thú học tập đóng vai trò quantrọng trọng việc nâng cao hiệu quả học tập của người học, là nguồn kíchthích mạnh mẽ làm cho các quá trình nhận thức diễn ra với tốc độ nhanh

có độ sâu và có hiệu quả hơn Tôi nhận thấy rằng thực chất của việc dạyhọc là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học Cònnếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì người dạy

dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho

HS, chưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực màtri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả Người học chỉ tự giác,

Trang 6

tích cực học tập khi họ thấy hứng thú Hứng thú không có tính tự thân,không phải là thiên bẩm Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảysinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi Hứng thú đượchình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫndắt, hướng dẫn, tổ chức của GV GV là người có vai trò quyết định trongviệc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS.

Vậy vấn đề gì thu hút sự chú ý, quan tâm tìm hiểu của học sinh? Khi trảlời được câu hỏi này, người giáo viên đã đặt mình vào vị trí của người học sinh,biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phù hợp với mong muốn, sở thích,nguyện vọng của học sinh Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp học sinhnhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó gắn liền với thực tiễn đời sốnghàng ngày mà nhiều khi bản thân các em thấy nhưng không thể giải thích được

2 Lợi ích của việc nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học

Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, giáo viên có vai trò rất quan trọng,trong đó có giáo viên bộ môn Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiếnthức khoa học về môn mình phụ trách mà còn có vai trò quan trong việc rènluyện cho học sinh các kỹ năng thực hành, các cách vận dụng những kiến thứccủa bộ môn vào thực tiễn cuộc sống… Để được như vậy, giáo viên phải khôngngừng tự học tập, đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh, từ đó dần hình thành hứng thú học tập bộ môn,góp phần nâng cao chất lượng học tập

Thực tế, qua quá trình giảng dạy tại trường trung học cơ sở, tôi nhận rarằng, trong giờ học nếu giáo viên chỉ tiến hành theo những phương pháp thôngthường theo trình tự và nội dung như sách giáo khoa thì giờ học sẽ trở nên khôkhan, nhàm chán, không tạo được tâm thế hứng khởi cho học sinh, từ đó các emcũng tiếp thu bài một cách thụ động Chính điều này dẫn đến tình trạng học vẹt,không nắm được kiến thức trọng tâm, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễncòn hạn chế Vì vậy tôi đã tìm tòi, sưu tầm những tình huống thực tế, các bàithơ, câu chuyện vui, thí nghiệm vui…có liên quan đến bộ môn Hóa Học để ápdụng vào bài dạy, từ đó kích thích được hứng thú học tập của các em, dần hìnhthành ham muốn khám phá ra những kiến thức mới và có thể áp dụng kiến thức

đó vào giải quyết những vấn đề trong thực tiễn Cũng nhờ vậy mà các em sẽ cảmthấy môn Hóa học trở lên gần gũi hơn, yêu thích môn học hơn và chất lượng bộmôn cũng được nâng cao

II Quá trình thực hiện đề tài

1 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài.

Trang 7

a Thuận lợi

Nhiệm vụ của bộ môn Hóa Học là nghiên cứu về chất, sự biến đổi củachất, có liên quan trực tiếp tới các tình huống thực tế, các thí nghiệm vui gắnliền với đời sống hàng ngày… nên học sinh cũng cảm thấy gần gũi, thân thuộchơn

Hơn nữa, ở lứa tuổi trung học cơ sở, các em có sự thay đổi về tâm sinh lí,các em cũng rất tò mò, luôn muốn tìm hiểu những điều mới lạ phát sinh trongcuộc sống Vì vậy việc gắn liền các hiện tượng thực tiễn, các thí nghiệm vui, câuchuyện hóa học…giúp các em thêm yêu thích môn học, từ đó chất lượng bộ môncũng sẽ được cải thiện

b Khó khăn

Thông thường, phương pháp dạy học thường được giáo viên sử dụngtrong nhiều năm qua là phương pháp truyền thống Trong phương pháp này,giáo viên sẽ đóng vai trò chủ đạo, tổ chức các hoạt động dạy học và cung cấpnội dung kiến thức theo trình tự có trong sách giáo khoa; còn học sinh sẽ làngười tiếp nhận kiến thức đó Phương pháp này có thuận lợi là học sinh nắmđược kiến thức của bài ngay trong giờ học Tuy nhiên nó có những hạn chế như:các em tiếp thu bài một cách thụ động nên kiến thức rất nhanh quên, hạn chế khảnăng tư duy sáng tạo của các em, đông thời khả năng vận dụng kiến thức bộmôn vào thực tiễn còn kém… Bên cạnh đó, thực tế giảng dạy nhiều giáo viên ítchú trọng đến việc đưa các vấn đề thực tiễn vào giảng dạy, điều này khiến chomôn Hóa Học trở lên khô khan, khó hiểu, các em cũng không thấy hứng thú vớimôn học

Không những thế, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, với sự

ra đời của các kênh giải trí như Facebook, Zalo, TikTok…đã thu hút sự chú ýcủa các em, cũng gây ảnh hưởng lớn đến sự tập trung trong học tập của học sinhhiện nay Vì vậy chất lượng bộ môn chưa cao

2 Thực trạng nghiên cứu

a Tình hình học sinh trước khi thực hiện đề tài.

- Trước khi bắt tay vào đề tài tôi đã tìm hiểu qua giáo viên chủ nhiệm vềhọc lực của học sinh, đồng thời đã làm khảo sát về học lực, thái độ của các em

đối với môn hóa học (Phiếu điều tra ở phần phụ lục).

Sau khi điều tra tôi thu được kết quả như sau:

* Về thái độ của học sinh các lớp với môn hóa học:

Lớp

Thái độ

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

Trang 8

Số liệu ở bảng trên cho thấy

- Các em học sinh lớp 9 đã được học hóa từ lớp 8 nhưng không ít học sinhthấy môn này khó, khô khan Đòi hỏi học sinh phải đầu tư nhiều thời gian học,tìm hiểu trước khi đến lớp

- Số học sinh không yêu thích môn học có số lượng khá cao ở cả 2 lớp

- Kết quả về học lực cho thấy: số học sinh đạt học lực giỏi chỉ đạt 22,2%(9B) và 34,2% (9C), số học sinh đạt học lực trung bình cao, đạt 22,2% (9B) và15,8% (9C)

Do đó việc cần thiết là đổi mới giờ dạy học Hóa Học để học sinh có hứngthú, đồng thời phát triển tư duy, sáng tạo của học sinh… giúp cho học sinh hứngthú hơn trong giờ học Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, bên cạnh việc thực hiệndạy học theo hướng đổi mới, bản thân tôi đã học hỏi, tìm tòi sử dụng các biệnpháp khác nhau như thường xuyên liên hệ thực tiễn trong bài dạy, sử dụng thínghiệm vui, câu chuyện hóa học Với cách làm này, trước hết sẽ tạo cho các emmột tâm thế hứng khởi khi học bài, đồng thời kích thích hứng thú học tập củacác em

Tôi đã tiến hành thực nghiệm trên 2 lớp mình giảng dạy: 9B, 9C và chiathành 2 nhóm:

Trang 9

+ Nhóm lớp thực nghiệm: 9C

+ Nhóm lớp đối chứng: 9B

Đối với nhóm thực nghiệm: Trong quá trình giảng dạy, tôi tích hợp thêmkiến thức về thực tiễn, cho học sinh xem thí nghiệm vui qua video hoặc cho họcsinh trực tiếp làm, kể lại chuyện của các nhà khoa học…

Đối với nhóm đối chứng: Dạy học bình thường, có liên hệ thực tiễn nhưng

ít, không minh họa nhiều

3 Những nội dung, biện pháp đã thực hiện.

3.1 Biện pháp 1: Sử dụng các tình huống thực tế trong giảng dạy

Con người có một đặc tính đó là luôn thích tìm tòi những điều mới lạ vì

nó mang lại sự tò mò, kích thích, cũng như những điều bổ ích khi biết thêmnhững thông tin mới từ thế giới xung quanh Không chỉ các em học sinh mà bảnthân người lớn chúng ta cũng vậy Khi được cung cấp những thông tin gắn liềnvới thực tế sẽ gây sự chú ý của học sinh, kích thích các em quan tâm và hứngthú tìm hiểu sự việc đó Vì lí do đó, việc giáo viên khai thác, cung cấp kiến thứcmới lạ về thế giới xung quanh liên quan tới hóa học sẽ giúp các em hiểu rõ tầmquan trọng của hóa học đối với đời sống và sản xuất

* Ví dụ 1: Khi dạy bài 2: “Một số oxit quan trọng”- Phần canxi oxit

- Thực hiện: GV đặt câu hỏi tình huống bài như sau: “ Tại sao khi cho vôi sống vào nước (ở hố tôi vôi), ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người và động vật.”

- Sau khi tìm hiểu về canxi oxit, GV cho HS trả lời câu hỏi tình huống đãđặt ra ở đầu giờ và kết luận:

Khi tôi vôi xảy ra phản ứng tạo thành canxi hidroxit theo phương trình

CaO + H2O ❑

Ca(OH)2Phản ứng này tỏa ra rất nhiều nhiệt, nhiệt đó làm nước sôi lên, bốc hơiđem theo cả những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành khói mù trắng Do nhiệt tỏa ranhiều nên nhiệt độ của hố vôi rất cao Do đó con người và động vật cần tránh xa

hố tôi vôi để tránh rơi xuống hố vôi gây nguy hiểm đến tính mạng

* Ví dụ 2: Khi dạy bài 2: “Một số oxit quan trọng” – Phần lưu huỳnh đioxit

- Thực hiện: Sau khi tìm hiểu về tính chất của lưu huỳnh đioxit, GV đặt

câu hỏi : “Theo em hiện tượng mưa axit là gì? Tác hại như thế nào?”

- GV tổ chức cho HS hoạt động cặp đôi, trả lời câu hỏi, giải thích được:Khí thải của các nhà máy, động cơ ô tô, xe máy…có các khí gây ô nhiễmmôi trường như SO2,NO, NO2…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước có

Trang 10

sẵn trong không khí (với các xúc tác là ozon hoặc oxit kim loại trong khói, bụinhà máy…) tạo ra axit

2SO2 + O2 + H2O ❑

H2SO42NO + O2 ❑

2NO24NO2 + O2 + 2H2O ❑

4HNO3Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit

Tác hại: Mưa axit là nguồn ô nhiễm ở một số nơi trên thế nhất là ở cáckhu vực công nghiệp Mưa axit làm hư hỏng các tượng đài làm từ đá vôi, đáphiến…

CaCO3 + H2SO4 ❑

CaSO4 + CO2 + H2OCaCO3 + 2HNO3 ❑

Ca(NO3)2 + CO2 + H2O

* Ví dụ 3: Khi dạy bài 7 “Tính chất hóa học của bazơ”

- Thực hiện: Sau khi học xong về tính chất hóa học của bazơ, GV đưa câu hỏi vận dụng liên hệ thực tiễn: “ Em có biêt vì sao khi bị ong, kiến đốt, bôi vôi vào sẽ đỡ đau hơn?”

- HS hoạt động cá nhân, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, có thể giải thích đượchoặc không giải thích được:

Theo kinh nghiệm dân gian truyền lại thì khi bị côn trùng đốt, nếu bôi vôivào vết đốt thì vết thương sẽ mất đi và không còn cảm giác ngứa rát nữa Hiệntượng này, ngày nay hoá học đã giải thích được rõ ràng: trong nọc độc của một

số côn trùng như: ong, kiến, muỗi… có chứa một lượng axit fomic gây bỏng da

và đồng thời gây rát, ngứa Ngoài ra, trong nọc độc ong còn có cả HCl, H3PO4,cholin… nên khi bị ong đốt, da sẽ phồng rộp lên và rất rát Người ta thường lấyvôi hay dung dịch xút để bôi vào vết côn trùng đốt Khi đó xảy ra phản ứngtrung hoà làm cho vết phồng xẹp xuống và không còn cảm giác rát ngứa

HCOOH + Ca(OH)2 ❑

Ca(HCOO)2 +H2O+ Dựa vào nội dung này, HS tỏ ra thích thú với những kiến thức mà các

em đã được lĩnh hội, từ đó các em có thể ứng dụng kiến thức này vào thực tế

* Ví dụ 4: Khi dạy bài 9 “ Tính chất hóa học của muối”

- Thực hiện: Sau khi tìm hiểu xong về tính chất của muối, GV đặt ra câu

hỏi thực tế mà các gia đình nông thôn gặp nhiều: “ Tại sao khi nấu nước giếng

ở một số vùng, lâu ngày thấy xuất hiện lớp cặn ở đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào?”.

- HS hoạt động nhóm, giải thích được:

Trong tự nhiên, nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời- là nước cóchứa các muối axit như: Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2

Trang 11

Khi nấu nước lâu ngày thấy xảy ra phương trình hóa học:

Ca(HCO3)2 ❑

CaCO3 + CO2 + H2OMg(HCO3)2 ❑

MgCO3 + CO2 + H2O

Do CaCO3 và MgCO3 là chất kết tủa nên lâu ngày sẽ đóng cặn Để tẩy lớpcặn này thì dùng giấm (dung dịch CH3COOH 5%) cho vào ấm đun sôi để nguộikhoảng một đêm rồi rửa sạch

Sau khi trả lời được câu hỏi này, HS có thể giải thích được các vấn đềthường gặp trong cuộc sống, đồng thời kích thích sự hưng phấn, tìm tòi của HS.Đây cũng là hiện tượng mà học sinh có thể quan sát và thực hiện được dễ dàng

* Ví dụ 5: Khi dạy bài 16: “ Tính chất hóa học của kim loại”

- Thực hiện: khi tìm hiểu về tính chất của kim loại, GV đưa câu hỏi vận

dụng liên hệ thực tế như sau: “Vì sao ta hay dùng bạc để đánh gió khi bị cảm”.

- GV hướng dẫn HS trả lời câu hỏi và giải thích:

Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H2Stương đối nhiều Chính lượng H2S này tồn tại trong cơ thể sẽ làm cho con ngườimệt mỏi Khi dùng bạc đánh gió, Ag sẽ tác dụng với khí H2S, làm giảm lượngkhí H2S trong cơ thể và dẫn sẽ hết bệnh Miếng bạc sau khi đánh gió sẽ có màuđen xám do:

4Ag + 2H2S + O2 ❑

2Ag2S + 2H2OViệc “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa và cho đến tậnbây giờ vẫn sử dụng để chữa cảm Cách làm này dựa trên cơ sở khoa học màmọi người đều cần phải biết để áp dụng trong đời sống hàng ngày

* Ví dụ 6: Khi dạy bài 27 “Cacbon”

- Thực hiện: Khi dạy đến phần tính chất của cacbon, GV đặt câu hỏi cho

HS trả lời: “Vì sao khi cơm bị khê, người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi?”

- HS vận dụng kiến thức vừa học, giải thích được: “Do than củi xốp cótính hấp phụ nên hấp phụ mùi khét của cơm khê, làm cho cơm đỡ mùi hơn”.Cũng từ đó, HS liên hệ đến lõi lọc nước trong các máy lọc nước Trong máy lọcnước có những quả lọc, trong đó một quả lọc là chứa thành phần than hoạt tính.Than hoạt tính giúp lọc các chất hữu cơ độc hại, mùi lạ của nước

Qua nội dung này, HS biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyếtnhững tình huống thực tế xảy ra trong cuộc sống

* Ví dụ 7: Khi dạy bài 28 “Các oxit của cacbon”

- Thực hiện: Sau khi tìm hiểu xong về tính chất hóa học của khí cacbondioxit CO2, GV đặt câu hỏi: “Làm thế nào đề tạo khói màu trên sân khấu?”

Trang 12

- HS dựa vào kiến thức vừa học về nước đá khô, có thể giải thích được:Trong các buổi biểu diễn ca nhạc haу trong các đám cưới, người ta thường tạokhói trắng bằng cách thả các ᴠiên đá băng khô (CO2 rắn) ᴠào các lу đựng nướcnóng CO2 rắn thăng hoa nhanh, làm giảm nhiệt độ của ᴠùng không khí хungungquanh lу nước khiến cho hơi nước ngưng tụ tạo thành đám ѕương mù màu trắng.ương mù màu trắng.

Để tạo hiệu ứng khói màu, người ta chiếu ánh ѕương mù màu trắng.áng màu lên màn ѕương mù màu trắng.ương nàу

- Đây là một hiện tượng thực tế mà các em thường xem trên ti vi hay gặptrong buổi biểu diễn ca nhạc, đám cưới HS tỏ ra khá là thích thú với hiện tượngnày và cũng biết cách giải thích hiện tượng xảy ra

* Ví dụ 8: Khi dạy bài 29: “Axit cacbonic và muối cacbonat”

- Thực hiện: Sau khi học xong nội dung bài học, GV đặt câu hỏi thực tế

có lồng ghép với môn văn học: “Em hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ

“Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học như thế nào?”

- HS liên hệ kiến thức vừa học, kết hợp với mục em có biết, có thể giảithích được: Thành phần chủ уếu của đá là CaCO3 Khi gặp nước mưa ᴠà khíCO2 trong không khí, CaCO3 chuуển hoá thành Ca(HCO3)2 theo PTHH ѕương mù màu trắng.au:

CaCO3 + CO2 + H2O ❑

Ca(HCO3)2Khi nước chảу cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguуên lí dịch chuуển cânbằng thì cân bằng ѕương mù màu trắng.ẽ chuуển dịch theo phía phải Kết quả là ѕương mù màu trắng.au một thời giannước đã làm cho đá bị bào mòn dần

- Hoặc cũng trong bài này, tôi yêu cầu HS giải thích sự hình thành thạchnhũ ở các hang động Sau khi tìm hiểu về tính chất của muối cacbonat, HS cóthể giải thích được:

+Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO3 Khi trời mưa,nước mưa kết hợp với CO2 trong không khí tạo thành môi trường axit nên hòatan được đá vôi Những giọt nước mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá thành nhữnghình dạng đa dạng, theo thời gian sẽ tạo thành hang động

CaCO3 + CO2 + H2O ❑

Ca(HCO3)2+ Khi nước có chứa Ca(HCO3)2 ở đá thay đổi về nhiệt độ và áp suất nênkhi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng sau:

Ca(HCO3)2 ❑

CaCO3 + CO2 + H2O+ Quá trình này diễn ra liên tục, như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngàycàng nhiều, dày tạo thành những hình thù đa dạng Đây là một hiện tượngthường gặp trong các hang động núi đá, như ở Phong Nha- Kẻ Bàng( QuảngBình) Từ đó HS sẽ biết được quá trình hình thành các hang động với nhữnghình dạng phong phú là do thiên nhiên tạo ra dựa trên những biến đổi hóa học

mà ra

Trang 13

* Ví dụ 9: Khi dạy bài 41: “Nhiên liệu”

- Thực hiện: Sau khi học xong bài nhiên liệu,GV đặt câu hỏi: “Vì sao đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá lại còn tro?”.

- HS hoạt động nhóm, trả lời câu hỏi của GV, nêu được:

+ So với gỗ và than đá thì xăng và cồn là những hợp chất hữu cơ có độthuần khiết cao Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy hoàn toàn tạo thành CO2 vàhơi nước, tất cả chúng đều bay vào không khí Xăng tuy là hỗn hợp nhiềuhidrocacbon, nhưng chúng đều là những chất dễ cháy Vì vậy, dù ở trạng tháihỗn hợp nhưng khi đốt đều cháy hết

+ Còn với than đá và gỗ, cả hai đều có những thành phần rất phức tạp.Nhưng gỗ thường dùng còn có các khoáng vật, những khoáng vật này đều khôngcháy được Vì vậy sau khi đốt cháy gỗ sẽ còn lại và tạo thành tro Than đá cũngvậy, trong thành phần của than đá ngoài cacbon và các hợp chất hữu cơ phức tạpcòn có các khoáng là muối silicat Nên so với gỗ, khi đốt cháy than còn chonhiều tro hơn

+ Qua câu hỏi này, nhằm kích thích tư duy của học sinh Đây là một hiệntượng thực tế thường gặp nhưng để giải thích không phải là dễ

* Ví dụ 10: Khi dạy bài 44: “Rượu etylic”

- Thực hiện: Sau khi học xong bài rượu etylic, GV cho câu hỏi thảo luận:

“Tại sao rượu giả có thể gây ngộ độc, thậm chí gây tử vong”.

- Giải thích: Để thu được nhiều rượu( rượu etylic), tăng lợi nhuận, người

ta pha thêm một ít rượu metylic (cồn công nghiệp) để làm tăng nồng độ cồn lên.Chính rượu metylic gây ngộ độc, nó tác động vào hệ thần kinh và nhãn cầu, làmrối loạn chức năng đồng hóa của cơ thể gây nên sự nhiễm độc

- Sau khi biết được thông tin này, HS có sự cảnh giác cao hơn với các loại

đồ uống bên ngoài cũng như tuyên truyền cho người thân của mình biết cáchtránh các loại rượu bia không tốt ở bên ngoài

* Ví dụ 11: Khi dạy bài 52: “Tinh bột”

- Thực hiện: GV mở bài đặt câu hỏi vấn đề như sau: “Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?”

- HS có thể có thể giải thích dựa vào kiến thức môn Sinh học lớp 8 Saukhi dạy xong phần phản ứng thủy phân của tinh bột, GV yêu cầu giải thích hiệntượng trên, yêu cầu nêu được:

+ Cơm chứa một lượng lớn tinh bột còn trong tuyến nước bọt của người

có các enzim ( enzim amilaza, enzim mantaza) Khi nhai kĩ, cơm sẽ được trộnđược với các enzim trong tuyến nước bọt, một phần tinh bột sẽ được chuyển hóathành đường glucozo, chính vì vậy khi ta nhai cơm kĩ sẽ thấy ngọt

Trang 14

(C6H10O5)n amilaza , H2O

C12H22O11 mantaza , H2O

C6H12O6(Tinh bột) (Mantozo) (Glucozo)+ Qua phần này, HS sẽ cảm thấy hứng thú với những hiện tượng thực tếgặp trong đời sống HS cũng có thể tự kiểm nghiệm được khi ăn, từ đó nâng caohứng thú của HS

3.2 Biện pháp 2: Sử dụng thí nghiệm vui

Dựa trên kiến thức hóa học cơ bản trong chương trình hóa 9, tôi xây dựng

hệ thống “Thí nghiệm vui” giúp HS phát triển khả năng quan sát, phân tích tổnghợp và giải thích được các hiện tượng từ thí nghiệm Các em biết vận dụng kiếnthức vào thực tiễn cuộc sống, giải thích các hiện tượng tự nhiên thực tế có liênquan, các thí nghiệm vui này giúp các em giảm căng thẳng sau những giờ họccăng thẳng, làm các em thêm yêu thích môn học, say mê và hứng thú học tập

* Ví dụ 1: Khi dạy bài 7: Tính chất hóa học của bazơ

- Thực hiện: GV thực hiện thí nghiệm vui “Hoa trắng hóa hồng” để HS

quan sát, sau đó yêu cầu HS giải thích về hiện tượng các em quan sát được

- Cách tiến hành: GV chuẩn bị sẵn giấy ăn tẩm dung dịch NaOH đã phơikhô, phát cho HS gấp hoa sẵn từ tiết trước Khi vào bài dạy, GV dùng một bìnhnước bí ẩn để xịt lên hoa cho HS quan sát HS dễ dàng nói được hiện tượngnhững cánh hoa màu trắng chuyển sang màu hồng, yêu cầu HS giải thích hiệntượng trên

- Giải thích: Bình nước bí ẩn đó có chứa dung dịch phenolphtalein gặpcánh hoa có tẩm dung dịch NaOH nên cánh hoa chuyển từ màu trắng sang hồng

- Từ thí nghiệm vui này, không chỉ kích thích sự thích thú của HS mà còngiúp các em nhớ bài tốt hơn

* Ví dụ 2: Khi dạy bài 16: Tính chất hóa học của kim loại

- Thực hiện: GV chuẩn bị “Cây phủ tuyết” Dùng phoi đồng ghép lại

thành cây (chỉ có cành, không có lá), sau đó thả chìm cây này vào cốc thủy tinhchứa dung dịch AgNO3 Yêu cầu HS nêu hiện tượng xảy ra

- Hiện tượng: Sau một thời gian, cây sẽ bị phủ đầy “tuyết trắng”

- Giải thích: Do kim loại Cu hoạt động hóa học mạnh hơn Ag, nên khinhúng “cây” vào dung dịch AgNO3, Cu sẽ đẩy Ag ra khỏi dung dịch muối

Trang 15

* Ví dụ 3: Khi dạy bài 18: Nhôm

- Thực hiện: Tiến hành thí nghiệm “Làm nước “sôi” mà không cần đun nóng” GV chuẩn bị 1 sợi dây kim loại đặc biệt màu trắng, rót “nước” vào 1/3

ống nghiệm, rồi nhúng vào đó sợi dây kim loại đó vào Yêu cầu HS nêu hiệntượng quan sát được

- Hiện tượng: Khi nhúng sợi dây kim loại màu trắng vào “nước”, ngay lậptức “nước” sẽ sôi sùng sục,hơi nước bay ra Nếu nhấc sợi dây kim loại ra,

“nước” trong ống ngừng sôi, nếu nhúng sợi dây vào nó lại sôi tiếp

- Giải thích: “Nước” ở đây chính là dung dịch HCl và cần được đun nóngtrước khi biểu diễn Sợi dây kim loại màu trắng là nhôm Khi nhúng nhôm vàodung dịch HCl nóng, phản ứng sẽ xảy ra nhanh, mãnh liệt Bọt khí hidro thoát ramạnh trông như nước đang sôi sùng sục Ngoài ra, phản ứng mạnh, tỏa nhiềunhiệt làm nhiệt độ dung dịch tăng dần lên và nước bay hơi mù mịt giống vớihiện tượng nước đang sôi

* Ví dụ 4: Khi dạy bài 38: Axetilen

- Thực hiện: GV thực hiện thí nghiệm vui vào bài “Đốt cháy nước đá”.Lấy 1 ít nước đá cho vào chậu thủy tinh (Bên dưới chậu có để sẵn một cục “đá”nhỏ), sau đó bật diêm đốt trên miệng chậu thủy tinh Yêu cầu HS nêu hiện tượngxảy ra và giải thích (HS có thể giải thích đúng hoặc sai) Sau khi học xong, HSvận dụng kiến thức vừa học vào giải thích hiện tượng em quan sát được

- Hiện tượng: Khi đốt trên miệng chậu thủy tinh, nước đá bốc cháy vớingọn lửa xanh mờ

- Giải thích: Cục “đá” đặt sẵn trong chậu thủy tinh chính là canxi cacbuaCaC2 (đất đèn) Khi cho nước đá vào, CaC2 tác dụng với nước và giải phóng khíC2H2

CaC2 + H2O ❑

C2H2 + Ca(OH)2Khí C2H2 thoát ra trên mặt nước đá, khi đốt khí sẽ cháy, người nhìn sẽthấy hiện tượng như là nước đá đang cháy vậy

2C2H2 + 5O2 t →04CO2 + 2H2ONhư vậy với thí nghiệm này, HS tỏ ra vô cùng thích thú với hiện tượngmình quan sát được

3.3 Biệp pháp 3: Sử dụng những câu chuyện, câu đố vui và thơ hóa học

để tạo hứng thú cho học sinh

Thơ ca thường sử dụng những ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vầnđiệu nên nội dung được truyền tải đến HS cũng nhẹ nhàng, lôi cuốn Vì Hóa học

là môn Khoa học tự nhiên nên những kiến thức hóa học đơn thuần sẽ rất cứng

Trang 16

nhắc, khô khan Cũng vì vậy mà HS khó tiếp thu bài hơn, và giờ học cũng căngthẳng hơn Nếu GV biết cách sử dụng thơ ca về hóa học để truyền tải nhữngkiến thức đó thì HS sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, sâu sắc, dễ hiểu và dễnhớ hơn.

Những câu chuyện liên quan tới hóa học được lồng ghép trong các bài họcgiúp các em giảm căng thẳng sau những giờ học mệt mỏi, đồng thời cũng thấymôn học trở lên thú vị hơn

Những câu đố vui kích thích tính mày mò, sáng tạo của HS, đồng thờigiúp cho giờ học bớt căng thẳng, mệt mỏi

* Ví dụ 1: Khi dạy bài “Ôn tập đầu năm”

- Thực tế giảng dạy tôi nhận thấy, nhiều HS khi học đến lớp 9 rồi vẫnchưa nhớ được hóa trị của các nguyên tố hóa học, trong khi đó đối với hóa họcthì hóa trị có vai trò rất quan trọng Nếu không nhớ được hóa trị thì HS khôngviết được công thức của chất cũng như không viết được phương trình phản ứng

Vì vậy, khi dạy bài ôn tập đầu năm, tôi sẽ củng cố lại kiến thức về hóa trị thôngqua bài thơ sau:

BÀI CA HÓA TRỊ Kali (K), Iot (I), Hidrô (H) Natri (Na) với Bạc (Ag), Clo (Cl) một loài

Là hoá trị I bạn ơi

Nhớ ghi cho kỹ kẻo rồi phân vân

Magiê (Mg), Kẽm (Zn) với Thuỷ Ngân (Hg) Oxi (O), Đồng (Cu), Thiếc(Sn) thêm phần Bari (Ba) Cuối cùng thêm chú Canxi (Ca)

Hoá trị II nhớ có gì khó khăn Bác Nhôm (Al) hoá trị III lần

In sâu trí nhớ khi cần có ngay

Cacbon (C), Silic (Si) này đây

Có hoá trị IV không ngày nào quên Sắt (Fe) kia lắm lúc hay phiền

II, III lên xuống nhớ liền ngay thôi Nitơ (N) rắc rối nhất đời

I, II, III, IV khi thời lên V Lưu huỳnh (S) lắm lúc chơi khăm Xuống II lên VI khi nằm thứ IV Phot pho (P) nói đến không dư

Có ai hỏi đến thì ừ rằng V

Trang 17

Em ơi, cố gắng học chăm Bài ca hoá trị suốt năm cần dùng.

* Ví dụ 2: Khi dạy bài 2 “Một số oxit quan trọng”

- Thực hiện: Khi tìm hiểu về tính chất của oxit axit- Lưu huỳnh đioxit,

GV kể cho HS nghe một câu chuyện:

“ Ngày 5/12/1952 tại nước Anh (nơi được mệnh danh là xứ sở sương mù)

đã xảy ra sự kiện “màn khói giết người” làm chấn động thế giới Người dân trong thành phố Luân Đôn cảm thấy tức ngực, khó thở và ho liên tục Chỉ trong vòng 4,5 ngày đã có hơn 4000 người chết trong đó phần lớn là trẻ em và người già, hai tháng sau lại có thêm hơn 8000 người nữa chết.

Nguyên nhân của “màn khói giết người” này là do khói than (SO 2 , bụi…) của các nhà máy quyện vào với sương mù buổi sáng sớm mùa đông gây ra”.

- Từ câu chuyên này, HS cũng rút ra được tác hại của ô nhiễm không khí tới sức khỏe của con người, và cũng từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

* Ví dụ 3: Khi dạy bài 13 “Luyện tập chương 1”

- Thực hiện: GV khởi động vào bài bằng 1 số câu đố vui Yêu cầu HS trả lời và giải thích

Câu đố 1: Axit gì nhận biết

Bằng quỳ tím đổi màuThêm vào bạc nitratTạo kết tủa trắng phau

Đáp án: Axit HCl

Câu đố 2: Axit gì cùng sắt

Tạo muối sắt hai, baTùy điều kiện dung dịchCòn làm sắt trơ ra

Đáp án: Axit H2SO4 đặc, nóng.

Câu đố 3: Axit gì không bền

Có tên, không thấy mặtĐiều chế muối cho kiềmCùng oxit tương tác

Đáp án: Axit H2CO3

Câu đố 4: Muối gì ở dạng quặng

Công dụng chẳng gì bằngXây nên nhà ta ở

Và sản xuất xi măng

Đáp án: Muối CaCO3 (Canxi cacbonat)

Ngày đăng: 25/10/2023, 20:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w