LỜI MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Đảng và Nhà nước luôn coi trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo, đặc biệt quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng kinh tế tri[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước luôn coi trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo, đặc biệt quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng kinh tế tri thức, xây dựng văn hóa con người Việt Nam Quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới xây dựng và phát triển đất nước cần phải đổi mới, từng bước hoàn thiện từ lý luận đến thực tiễn Điều này phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học Việt Nam
Toàn Đảng, toàn dân luôn trân trọng và kỳ vọng vào đội ngũ trí thức, rất mong muốn đội ngũ trí thức các nhà khoa học, tiếp tục không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức năng lực chuyên môn phát huy vai trò năng động sáng tạo, vươn lên trở thành nhân tố nòng cốt, tiên phong trong xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước thường xuyên lắng nghe
ý kiến tâm huyết của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học để đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo
Nhìn nhận ra tầm quan trọng của đội ngũ tri thức cũng như coi trọng việc nắm bắt đặc điểm tâm lý của đội ngũ tri thức là việc làm thiết yếu để có những hoạt động tuyên truyền hiệu quả ở Việt Nam hiện nay Vì vậy em xin phép chọn đề tài “Đặc điểm tâm lý của đội ngũ tri thức và ý nghĩa của nó với hoạt động tuyên truyền ở Việt Nam hiện nay”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nhìn nhận ra tầm ảnh hưởng của đội ngũ tri thức cũng như đặc điểm tâm lý của đối tượng này đối với công tác tuyên truyền từ dó rút ra nhận xét
và ý kiến đóng góp
Trang 22.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về đội ngũ tri thức cũng như đặc điểm tâm lý của họ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ tri thức và đặc điểm tâm lý của họ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM KHOA VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA ĐỘI
NGŨ TRI THỨC
1 Tâm lý là gì?
Tâm lý là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh do sự tác động của thế giới khách quan vào não, được não phản ánh, nó gắn liền, điều hành, điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của con người
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi, tìm hiểu về các hiện tượng ý thức và vô thức, cũng như cảm xúc và tư duy Đây là một bộ môn học thuật với quy mô nghiên cứu rất rộng
Các nhà tâm lý học tìm hiểu về những tính chất rõ nét của não bộ và những hiện tượng đa dạng liên kết với những tính chất trên Ở phương diện y sinh này, tâm lý học gắn bó chặt chẽ và là một phần của khoa học thần kinh
Từ phương diện khoa học xã hội, tâm lý học tìm hiểu về các cá nhân và cộng đồng bằng cách thiết lập những nguyên tắc chung và nghiên cứu những trường hợp đặc trưng
2 Tuyên truyền
Tuyên truyền là việc đưa ra các thông tin (vấn đề) với mục đích đẩy thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng nào đấy
mà người nêu thông tin mong muốn Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng
cố ở đối tượng tuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống, thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội
Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới
Trang 4quan phù hợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành
Mục tiêu tối hậu của tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng Tuyên truyền không chỉ lôi kéo cá nhân ra khỏi sự tin tưởng cũ, mà cần phải làm cá nhân đó tin mù quáng vào suy nghĩ mới và đưa đến hành động có lợi cho thế lực tuyên truyền Cá nhân bị tuyên truyền sẽ mất khả năng lựa chọn và phản xạ tự nhiên, và từ đó sẽ làm những hành động với sự tin tưởng không cần bằng chứng cụ thể
3 Đội ngũ trí thức là những ai
Trí thức là người có kiến thức sâu xa về một hay nhiều lĩnh vực hơn sự hiểu biết của mặt bằng chung của xã hội vào từng thời kỳ Trí thức là những người có trình độ cử nhân trở lên, làm công việc liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho xã hội
Trí thức là tầng lớp xã hội có trình độ học vấn cao nhất của xã hội Họ cũng là những người có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận sớm nhất, nhiều nhất, nhanh nhất những thông tin, tri thức xã hội Những lời nói, hành
vi của một người trí thức, đôi khi có thể ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội, định hướng hành vi xã hội
Định nghĩa này không chỉ xác định trí thức là những người “làm nghề lao động trí óc” mà còn chỉ ra những nhóm nghề nghiệp khác nhau được xem
là trí thức Định nghĩa trí thức theo Chủ nghĩa cộng sản khoa học Từ điển là
“Một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” (1986:360) Theo các tác giả cuốn từ điển này, việc tồn tại của trí thức với
Trang 5tính cách là một nhóm xã hội đặc biệt, gắn liền với sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí óc và lao động chân tay
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ cử nhân “Một người học xong đại học có thể gọi là
có trí thức” nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” Có nghĩa rằng, học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh
3.1 Khái niệm định tính.
Về mặt định tính, khái niệm “Trí thức” cơ bản đã rõ Theo các từ điển bách khoa, từ điển phổ thông, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lê nin và các bài viết gần đây thì “Trí thức” được hiểu là những người lao động trí óc, có học vấn cao, hiểu biết rộng, quan tâm về thời cuộc
Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng xác định: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội Ở đây, khái niệm về học vấn bao gồm những người được đào tạo có bằng cấp và và những người tự học, tự đào tạo
3.2 Tiêu chí định lượng là trình độ học vấn.
Định danh trên cho chúng ta khái niệm “Trí thức “với một số đặc trưng
cơ bản nhất Nhưng để thống kê cả nước hay từng địa phương, ai là trí thức và
có bao hiêu trí thức thì không thể Chính vì vậy, mà trong thực tế được hiểu đơn giản hơn Từ thời Pháp thuộc, ai có trình độ cao đẳng trở lên là đã được coi có trình độ học vấn cao và được ngầm định là trí thức Lâu nay, trong
Trang 6thống kê của cả nước và các địa phương, số lượng trí thức cũng bao gồm những người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên Các đề án xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các Bộ ngành, các Tỉnh, Thành phố gần đây (khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW) cũng xác định như vậy
Với cách hiểu đơn giản dựa vào tiêu chí học vấn thì không phản ánh đầy đủ nội hàm của “trí thức” Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định Ngược lại, cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên không phát huy được Nhưng đó là các trường hợp
cụ thể, không phổ biến, không đại diện Trình độ học vấn là điều kiện cần và trên bình diện toàn xã hội, trình độ học vấn là một thước đo khách quan, chung nhất Tuy nó không phản ánh đầy đủ, nhưng cơ bản cũng phản ánh được mối quan hệ giữa trình độ học vấn và chất lượng nguồn nhân lực trí thức Vả lại, chỉ bằng cách dựa vào trình độ học vấn mới thống kê được số lượng, cơ cấu, sự tăng trưởng, biến động trong từng thời kỳ, mới xây dựng được quy hoạch, chiến lược đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức Cũng giống như việc thống kê, đánh giá, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực của từng địa phương, từng ngành nghề và của cả nước, bên cạnh việc định tính, cần có các
số liệu xác định
Vấn đề là trong điều kiện ngày nay, trình độ học vấn tối thiểu phải ở mức nào mới được coi là trí thức Ngay từ năm 1947, Bác Hồ cũng đã đề cập đến trình độ học vấn tối thiểu của trí thức trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Bác quan niệm, đại ý: Một người học xong đại học, làm việc trí óc, có thể gọi là có trí thức Học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa
đủ Muốn thành một người trí thức hoàn toàn, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh Ngày nay, trình độ
Trang 7dân trí, trình độ khoa học và công nghệ của nước ta đã được nâng cao hơn rất nhiều so với trước cách mạng Trình độ dân trí, trình độ khoa học và công nghệ của nhân loại càng phát triển hơn Chính vì vậy mà, nhiều nhà khoa học
có xu hướng cho rằng, ngày nay, người được coi là trí thức phải là người lao động trí óc, có trình độ học vấn tối thiểu từ bậc đại học trở lên Cụ thể hơn, trí thức bao gồm những người có trình độ đại học trở lên làm việc trí óc trong các cơ quan Đảng, hành chính sự nghiệp, quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp,
tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp…
3.3 Quan điểm của Lê nin về đội ngũ trí thức
Lênin, nhà lý luận thiên tài, người lãnh đạo vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã có những đóng góp to lớn vào kho tàng
tư tưởng của nhân loại Một trong những nội dung của tư tưởng ấy là quan điểm về trí thức
Như nhiều nhà cách mạng chân chính, Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại” Nhưng những kiến thức khoa học nếu bị những kẻ có đặc quyền, những lực lượng thống trị phản động kiềm chế và sử dụng, thì sẽ trở thành vũ khí để
nô dịch quần chúng, Cách mạng vô sản phải có nhiệm vụ giành lại vũ khí đó
vì sự nghiệp giải phóng con người: “Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng, tri thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lượng sản xuất lên một chất lượng mới Do vậy “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi đến một năng suất lao động lớn hơn năng suất chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”
Thực tiễn cách mạng thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn của Lênin về vai trò của trí thức, Bác Hồ thấm nhuần tư tưởng này
Trang 8Người nói những câu nổi tiếng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”
Cùng với việc nhận thức đúng đắn vai trò của trí thức, Lênin chỉ ra rằng: “Cũng như bất cứ giai cấp nào khác của xã hội hiện đại, giai cấp vô sản không những chỉ tạo ra tầng lớp trí thức riêng của mình, mà còn thu nạp cả những người ủng hộ mình trong tất cả mọi người có học thức” Dó chính là con đường của quá trình hình thành đội ngũ tri thức mới, nhất là trong giai đoạn đầu khi giai cấp công nhân mới giành được chính quyền: một mặt, khôn khéo sử dụng và cải tạo trí thức cũ; mặt khác, tích cực đào tạo trí thức mới từ công-nông Với điều kiện cụ thể của nước Nga Xô Viết sau cách mạng tháng Mười, Lênin rất chú trọng đến việc sử dụng chuyên gia tư sản vì xã hội mới của nhân dân lao động
Từ góc độ cơ cấu xã hội- giai cấp, Lênin lưu ý: trí thức không phải là giai cấp, mà “là một tầng lớp đặc biệt” trong xã hội Từ vị trí của mình trong phân công lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất- cái dấu hiệu quan trọng nhất để xác định giai cấp, do đó không có khả năng đại biểu cho phương thức sản xuất nào cả, cũng không có
hệ tư tưởng độc lập Cho nên, trí thức luôn phải gắn với những giai cấp nhất định Với tư cách là một tầng lớp, và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của giai cấp thống trị do chính hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của nhà nước của giai cấp thống trị ấy tạo ra Tầng lớp này, tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị Quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho tầng lớp trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau Những bộ phân khác nhau đó sẽ ngả theo lực lượng này hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác Lênin luôn phê phán những ai coi trí thức là “siêu giai cấp” hoặc đứng trên giai cấp Người nói: “Nếu không nhập cuộc với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”
Trang 9Ngày nay, đứng trước những thành tựu to lớn của khoa học-kỹ thuật, những tư tưởng của chủ nghĩa kỹ trị đang tồn tại và phát triển dưới nhiều màu sắc khác nhau Nhưng tựu chung và đỉnh cao về mặt chính trị- xã hội của họ
là đi đến thổi phồng vai trò của trí thức, mà dẫn đến coi nhẹ hoặc phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại Vì vậy, những quan điểm của Lênin về trí thức trong cơ cấu xã hội- giai cấp vẫn là cơ sở để chúng ta nhận
rõ bản chất phi khoa học, mơ hồ hoặc phản chính trị của những tư tưởng này
4 Đặc điểm tâm lý của đội ngũ trí thức
4.1 Vai trò của đội ngũ trí thức
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò của trí thức đối với sự phát triển của xã hội Tác giả Đỗ Mười trong cuốn Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995 đã chỉ rõ vai trò to lớn của đội ngũ trí thức trước vận mệnh của dân tộc Người trí thức, theo quan điểm của tác giả, phải là người trước hết ý thức được trách nhiệm của mình với tương lai của đất nước, trăn trở với thời cuộc, tìm cách để góp phần đưa đất nước tiến kịp với bạn bè năm châu Vai trò của trí thức được thể hiện trên các khía cạnh cơ bản, đó là góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham gia 13 vào việc biên soạn hoặc đảm nhiệm vai trò tư vấn, phản biện, giám định các dự thảo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án KT - XH và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia Trí thức là đại diện cho trí tuệ của dân tộc, luôn nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với tiền đồ của Tổ quốc Những trí thức chân chính bao giờ cũng nặng lòng yêu nước, thương dân, dám rũ bỏ tị hiềm, mặc cảm để làm tròn trách nhiệm của mình với dân, với nước
Trang 104.2 Đặc điểm cơ bản của trí thức Việt Nam
Để có thể được coi là trí thức, người lao động phải đảm bảo những đặc trưng mang tính bắt buộc Tuy nhiên, như đã nói, ở mỗi quốc gia khác nhau, với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì đội ngũ trí thức ở quốc gia đó
sẽ có những nét đặc thù riêng Trí thức Việt Nam ngoài những điểm đặc trưng cần có trên, quá trình hình thành, phát triển còn mang những điểm đặc thù gắn liền với điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam
Thứ nhất, trí thức Việt Nam được hình thành từ nhiều thành phần xã hội, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau và lao động cống hiến trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Cùng sự phát triển của lịch sử dân tộc, trí thức Việt Nam được hình thành từ nhiều thành phần xã hội, giai cấp khác nhau Từ thời phong kiến, có nhiều trí thức sĩ phu xuất thân từ tầng lớp bình dân, do học hành đỗ đạt mà thành Trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với phương châm “toàn dân kháng chiến”, triệu người như một, hễ là người Việt Nam thì đem sức đem tài để đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ nền độc lập, hàng loạt trí thức trong xã hội được tập hợp, bao gồm trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản, sĩ phu phong kiến, trí thức bình dân được “vô sản hóa” và bộ phận trí thức cơ bản - trí thức vô sản - tạo thành một lực lượng có vai trò to lớn trong mặt trận dân tộc thống nhất, góp phần không nhỏ cho sự thắng lợi của các cuộc kháng chiến Trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, giao lưu, hợp tác toàn diện hiện nay, đội ngũ trí thức ngày càng được bổ sung phong phú từ nhiều giai tầng trong xã hội Sự phong phú đó một mặt mang lại sức mạnh tổng hợp cho đội ngũ trí thức và sự đoàn kết chặt chẽ các giai tầng trong xã hội, mặt khác đó cũng là một vấn đề khó khăn cần quan tâm trong việc tạo ra sự đồng thuận, nhất trí và hài hòa lợi ích trong xã hội Sự phát triển mạnh mẽ theo hướng tri thức hóa nền kinh tế làm cho vai trò của tri thức, thông tin ngày càng cao, đến mức