MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Trong sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước, hoạt động tuyên truyền đóng vai trò vô cùng quan trọng Công tác tuyên truyền chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩ[.]
Trang 1MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước, hoạt độngtuyên truyền đóng vai trò vô cùng quan trọng Công tác tuyên truyền chính làđộng lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của Đảng Hoạt động tuyêntruyền giúp Đảng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới toàn thể cán bộ,đảng viên, đặc biệt là tới quần chúng nhân dân Nếu làm tốt công tác tuyêntruyền thì sẽ tạo dựng được sự đồng thuận trong xã hội.Đồng thời cổ vũ nhândân cùng chính phủ thực hiện tốt những mục tiêu về kinh tế-xã hội đã đượcđặt ra
Qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, công tác tuyên truyền đã đượckhẳng định vị trí quan trọng trong công tác giáo dục, bồi đắp tư tưởng chínhtrị của cán bộ, đảng viên trẻ Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan đoànthể luôn quan tâm, chú trọng tới hoạt động tuyên truyền
Tuy nhiên, để hiệu quả tuyên truyền được kết quả cao, tâm lý của chủthể, tâm lý của đối tượng và các hiện tượng, quy luật tâm lý trong tuyêntruyền cũng có vai trò rất lớn.Người làm tuyên truyền muốn đạt được thànhcông cần phải nắm vững và biết cách vận dụng các quy luật tâm lý trongtuyên truyền
Ngày nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã vàđang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, điều đó khiến vai trò của tầng lớptrí thức ngày càng quan trọng.Họ là những người có nhiều đóng góp trong quátrình xây dựng CNXH và hội nhập khu vực, quốc tế
Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù trong xã hội Đặc điểm của tríthức Việt Nam có những nét tương đồng với những đặc điểm tâm lý chungcủa dân tộc, của nhóm xã hội trong xã hội Việt Nam Tuy nhiên, tầng lớp trí
Trang 2thức cũng có những đặc điểm tâm lý riêng, khác biệt với vai trò phản ánh hoạtđộng đặc thù của tầng lớp này.
Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của đội ngũ trí thức hiện nay
là rất cần thiết Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài tiểu luận “Đặc điểm tâm lý củađội ngũ trí thức và ý nghĩa của nó với hoạt động tuyên truyền ở Việt Nam”
Tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp mình hiểu rõ hơnnhững điểm khác biệt giữa tâm lý của trí thức Việt Nam với tâm lý chung củadân tộc, của nhóm xã hội trong xã hội Việt Nam Từ đó sẽ rút ra những kinhnghiệm trong việc thực hiện công tác tuyên truyền
1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của trí thức Việt Nam và ý nghĩa củanhững đặc điểm đó với hoạt động tuyên truyền ở Việt Nam.Thông qua việcnghiên cứu, tìm hiểu, tôi mong muốn có thể vận dụng những kết quả nghiêncứu vào việc thực hiện hoạt động tuyên truyền tại Việt Nam
1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần hoàn thành nhữngnhiệm vụ sau: Tìm hiểu về đặc điểm tâm lý của trí thức Việt Nam, từ đó đánhgiá ý nghĩa của những đặc điểm đó với hoạt động tuyên truyền ở Việt Nam
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng:
Tầng lớp trí thức Việt Nam
Trang 32.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Tiểu luận tập trung nghiên cứu đặc điểm tâm lý của tríthức Việt Nam và ý nghĩa của những đặc điểm đó với hoạt động tuyên truyền
ở Việt Nam
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, phản ánh trung thực những đặc điểm tâm lý của tríthức Việt Nam Bên cạnh đó tôi còn sử dụng một số phương pháp như:phương pháp lí thuyết nền,nghiên cứu tài liệu , phân tích và tổng hợp tài liệu
4 Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu, kết thúc và danh mục tham khảo tiểu luận gồm:
Chương 1.Những vấn đề lý luận về đề tài nghiên cứu
Chương 2.Đặc điểm tâm lý của tầng lớp trí thức Việt Nam
Chương 3.Ý nghĩa của đặc điểm tâm lý của tầng lớp trí thức Việt Namđối với công tác tuyên truyền tại Việt Nam
Chương 4 Một số vấn đề và phương pháp khắc phục trong công táctuyên truyền với tầng lớp trí thức Việt Nam
Trang 4Chương 1: Những vấn đề lý luận về đề tài nghiên cứu
1 Khái niệm tầng lớp trí thức
Từ “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vàonửa đầu thế kỷ 19, và sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ởPháp sau công xã Paris (1871) Những từ này thể hiện ý nghĩa: tầng lớp tríthức là những người không chỉ có học vấn, trình độ chuyên môn cao mà họcòn là những người có chính kiện, sự quan tâm đến các vấn đề chính trị-xãhội của thời đại
Karl Marx cho rằng trí thức là những người “Phê bình không nhân
nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”.
Có thể hiểu ý của Karl Marx như sau: người trí thức phải có tráchnhiệm xã hội “Những gì đang hiện hữu” ám chỉ những vấn đề còn bất cậpcủa các chính sách xã hội đang hiện hành chứ không ám chỉ những chính sáchphù hợp và đúng đắn.Theo quan điểm của Marx thì người trí thức phải có đủtri thức và năng lực để phê phán, tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợplý.Ngoài ra, họ cũng là những người có tầm nhìn xa trông rộng
Tầng lớp trí thức Việt Nam là một tầng lớp xã hội đặc thù trong xã hộiViệt Nam
2 Khái niệm tâm lý học tuyên truyền
Tâm lý học tuyên truyền là một khoa học nghiên cứu sự xuất hiện vàvận hành của các hiện tượng, các trạng thái, các quy luật tâm lý và ảnh hưởngcủa chúng đến hiệu quả tuyên truyền
Đối tượng của tâm lý học tuyên truyền nằm ở bản chất của các hiệntượng tâm lý của con người Nói cụ thể hơn, đó là tâm lý của người tuyên
Trang 5truyền khi thực hiện các hoạt động tuyên truyền, tâm lý của cá nhân hoặcnhóm xã hội trong hoặc sau tuyên truyền Ngoài ra, đó còn là sự chi phối củacác quy luật tâm lý trong tuyên truyền
Tâm lý học tuyên truyền có 3 nhiệm vụ khác nhau:
- Xác lập hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học riêng, nằm trong cấutrúc hợp lý, mang tính đặc thù của mình
- Phát hiện quy luật hình thành và phát triển của các hiện tượng, cáctrạng thái, thuộc tính tâm lý, trong tuyên truyền
- Nghiên cứu vận dụng các hiện tượng, trạng thái, các quy luật tâm lýnhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tuyên truyền
3 Đặc điểm tâm lý của đội ngũ trí thức Việt Nam
Đội ngũ trí thức Việt Nam là một tầng lớp xã hội đặc thù trong xã hội
Họ không chỉ mang những đặc điểm tâm lý chung của dân tộc, của nhóm xãhội trong xã hội Việt Nam mà còn có một số đặc điểm tâm lý riêng phản ánhhoạt động đặc thù của tầng lớp này
Trang 6Chương 2: Đặc điểm tâm lý của đội ngũ trí thức Việt Nam
1 Một số đặc điểm về nhận thức của trí thức Việt Nam
1.1 Tư tưởng “Thái bình thịnh trị”
Trong xã hội phong kiến, tầng lớp trí thức Việt Nam thường thể hiện tưtưởng “thái bình thịnh trị”.Tư tưởng này luôn được thể hiện với một tinh thầnthiết tha, trang trọng trong tất cả triều đại phong kiến
Tư tưởng “thái bình thịnh trị” thể hiện ý thức về quốc gia, dântộc.Người trí thức khao khát một quốc gia bình yên, ấm no.Tư tưởng đó đãkhẳng định trách nhiệm của tầng lớp trí thức đối với dân tộc
Một tấm gương sáng trong lịch sử Việt Nam để minh chứng cho tưtưởng “thái bình thịnh trị” của tầng lớp trí thức đó là cụ Nguyễn Đình Chiểu.Ông là một cây bút đấu tranh không mệt mỏi vì sự độc lập và hòa bình củadân tộc.Khi giặc chiếm quê ông, ông lập tức dọn về sống ở quê vợ là CầnGiuộc Đến năm 1862, triều đình Huế ký với Pháp Hòa ước Nhâm Tuấtnhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu lập tức cùng giađình chạy về “tỵ địa” ở Ba Tri-Bến Tre Đến năm 1867, ba tỉnh miền TâyNam Kỳ cũng mất nốt vào tay Pháp.Nguyễn Đình Chiểu hết chốn “tỵ địa”,nên mới chịu sống luôn ở Ba Tri cho đến ngày cuối đời
Ngày nay, tư tưởng “thái bình thịnh trị”vẫn tiếp tục được tầng lớp tríthức gìn giữ và phát huy Tầng lớp trí thức Việt Nam vẫn luôn có khát vọng
về đất nước độc lập, tự do, dân giàu, nước mạnh và một xã hội văn minh
Một đất nước hòa bình, phát triển về mặt kinh tế và xã hội sẽ là đòn bẩythúc đẩy tầng lớp trí thức làm việc và cống hiến.Đất nước phát triển sẽ tạođiều kiện tốt để tầng lớp trí thức có cơ hội học tập và làm việc
Trang 71.2 Tư tưởng về danh và thực
Danh ở đây có thể hiểu là danh dự, danh tiếng.Người trí thức Việt Nam
từ xưa tới nay luôn trọng danh dự.Họ luôn có ý thức hành động sao cho xứngđáng với danh dự của mình.Họ muốn xây dựng danh tiếng, danh dự bằngchính thực lực, chính hành động thực tiễn của mình
Có danh mà có thực thì cái danh càng rực rỡ, danh bền mà tiếng vang
xa Nếu chỉ hữu danh vô thực thì trước sau cũng sẽ bị người đời mỉa mai vì
“cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”
Trước đây, chúng ta có những cái tên vô cùng tiêu biểu như Tôn ThấtTùng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên….đó đều là những người trí thức
để biết vận dụng tri thức của mình để cống hiến cho tổ quốc
Ngày nay, người trí thức Việt Nam càng ý thức được tầm quan trọngcủa thực tiễn Bởi lẽ những tri thức, hiểu biết nếu chỉ nằm trên lý thuyết thìcũng không được đánh giá cao.Người trí thức cần phải biết cách biến tri thứccủa mình thành công cụ để áp dụng trong thực tế nhằm phục vụ xã hội vànhân dân Lợi ích do tri thức mang lại phải là lợi ích xã hội thiết thực Hànhđộng thực tiễn đã trở thành phương châm sống của tầng lớp trí thức ngày nay
Không thiếu những tấm gương trí thức trẻ vẫn ngày đêm miệt mài vậndụng tri thức để tạo ra thành quả thực tiễn có ích cho xã hội Ví dụ như hai em
nữ sinh lớp 12 của trường THPT Giao Thủy(Nam Định) đã sáng chế ra chiếcmáy cấy lúa không dùng động cơ, đã được nông dân Giao Thủy tiếp nhận vớilời khẳng định: máy hoạt động tốt, cây lúa thẳng hàng và bám bùn nhơ cấytay, khoảng cách đều nhau (có thể điều chỉnh), mỗi lần cấy được 4 hàng Máykhông dùng nhiên liệu, không gây ô nhiễm.không quá tốn kém mà ai cũng cóthể sử dụng Máy nặng 15 kg, đạt năng suất bằng 5 thợ cấy chuyên nghiệp!
Trang 8Có thể thấy, người trí thức luôn ý thức được tri thức phải đi đôi vớihành động thực tiễn.Hành động phải xứng đáng với cái danh để người đờikính phục.
1.3 Tư tưởng về hiền tài và chiêu hiền đãi sĩ
Không ít trí thức trong nhiều giai đoạn lịch sử đều có cùng tư tưởng
“khí vận quốc gia quan hệ với nhân tài”.Có nghĩa nếu muốn đất nước phát
triển, thái bình thịnh trị thì phải bồi dưỡng người tài giỏi.“Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".Nếu muốn đất nước ngày càng phồn
vinh, thịnh vượng, phát triển bền vững thì cần tôn trọng nhân tài, đề caongười trí thức
Tư tưởng coi trọng hiền tài xuất hiện ở Việt Nam từ sớm, trở thànhtruyền thống tư tưởng của dân tộc ta.“Chiêu hiền đãi sĩ” là một chính sáchđược áp dụng xuyên suốt các thời kỳ lịch sử của dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một tấm gương sáng, điển hình về tưtưởng trọng dụng nhân tài Người cho rằng việc dùng người phải đúng vớinăng lực, sở trường của người đó.Phải hiểu họ có tài ở điểm nào để vận dụngtài năng đó làm việc có ích cho xã hội Nếu dùng người không đúng công việchay không biết trọng dụng nhân tài thì sẽ làm thui chột nhân tài, có hại choĐảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng
Như vậy, có thể thấy, trọng dụng nhân tài quả là hệ trọng, thiêng liêng,đóng vai trò không thể thiếu trong việc củng cố sự phát triển của đất nước
1.4 Tư tưởng lấy dân làm gốc
Trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc, nhiều trí thức tiêu biểu đã đề xuất
tư tưởng: nước lấy dân làm gốc Điển hình là Nguyễn Trãi khi khẳng
định:”Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền
cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết” Nhìn lại lịch
Trang 9sử, ta có thể thấy các bộ luật Cảnh Trị, Hồng Đức, Chính Hòa đều thể hiệnquan điểm: phải tận tâm với người dân, yêu thương nhân dân, đối xử với nhândân công bằng, liêm chính.
Người trí thức đã coi tư tưởng “lấy dân làm gốc” trở thành vấn đề cơbản trong hành động và suy nghĩ của họ
Trong tác phẩm "Dân vận" đăng trên Báo Sự Thật số ra ngày
15-10-1949 với bút danh "X.Y.Z", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta
là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Bao nhiêu quyền hạn đều củadân.Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.Sự nghiệp khángchiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủtrung ương do dân cử ra Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Chủ tịch HồChí Minh đã sớm nhận ra sức mạnh của Nhân dân trong sự cấu kết với cộngđồng dân tộc, giai cấp với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phónggiai cấp, giải phóng con người Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp
luận và phương châm hành động trong hoạt động cách mạng của Người “Dễ
mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân Trong thế
giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” Mỗi thắng lợi
của cách mạng Việt Nam trong lịch sử dựng nước, giữ nước đều do nhân dânquyết định
Ngày nay, tư tưởng lấy dân làm gốc không chỉ thể hiện trong suy nghĩcủa trí thức mà đã trở thành một chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta.Chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân.Để có thể xây dựng được một nhà nước như vậy, Đảng vàNhà nước rất cần sự tham mưu của tầng lớp trí thức.Tầng lớp trí thức chính lànhững người đi đầu trong việc thực hiện đường lối của Đảng
Trang 101.5 Những biểu hiện hạn chế về mặt nhận thức của tầng lớp trí thức Việt Nam.
Tầng lớp trí thức Việt Nam không chỉ có những tư tưởng tích cực màcòn tồn đọng một số biểu hiện hạn chế về mặt nhận thức
- Tầng lớp trí thức Việt Nam sinh ra trong một nền sản xuất nhỏ, cònnhiều yếu tố lạc hậu, vì vậy cũng bị ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng tiểu nông,manh mún Tác hại của tư tưởng này chính là khiến sự sáng tạo bị hạn chế.Hạn chế tầm nhìn xa, trông rộng của trí thức, đặc biệt là những trí thức có vaitrò hoạch định, tham mưu chính sách của đất nước.Sự ảnh hưởng này có thểgây ra hậu quả lớn, nghiêm trọng đối với sự phát triển của đất nước
- Ngày nay, đất nước ta đang chịu sự tác động của nền kinh tế thịtrường Văn hóa phương Tây đã và đang thâm nhập mạnh mẽ vào đời sốngcủa người Việt Nam Điều này khiến một bộ phận nhỏ của trí thức Việt Nam
đã chạy theo lối sống thực dụng, coi trọng đồng tiền một cách thái quá Đặtđồng tiền lên trên tất cả, trên cả đạo đức Một số trí thức đã sử dụng vốn hiểubiết của mình để tiếp tay cho những người làm hàng giả, hàng kém chấtlượng Họ đã thương mại hóa những giá trị tinh thần cao quý Khi làm nghiêncứu khoa học, họ cố làm cho nhiều, chạy theo số lượng hơn chất lượng để lấythành tích Những sản phẩm nghiên cứu của họ nặng về hình thức, thiếu chiềusâu.Những trí thức đó đã khiến hình ảnh người trí thức trở nên xấu hơn.Họ trởthành người vụ lợi, lúc đó, tri thức của họ sẽ không còn là công cụ có ích cho
xã hội.Thế giới ngày càng nhiều biến động, điều đó khiến một bộ phận tríthức đã đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội chân chính.Họ xem phươngTây là mẫu mực trong mọi lĩnh vực.Lý tưởng sống của họ đã bị dao động,thậm chí là tha hóa
Những hạn chế về mặt nhận thức này gây ảnh hưởng đến nhận thức, tưtưởng và hành động của tầng lớp trí thức Hoạt động của tầng lớp này chủ yếu
là hoạt động tinh thần, hoạt động mang tính sáng tạo cao Do đó, tư duy của