Để có thể giải mã các lớp nghĩa của một kí hiệu ngôn ngữ hay biểu tượng trong văn học, nhà nghiên cứu cần phải có cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ với văn chương, ngôn ngữ với văn hóa m
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đàm Dương Phương Loan
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ THƠ HOÀNG CẦM
TỪ GÓC NHÌN LÍ THUYẾT KÍ HIỆU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Đà Nẵng, 2023
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đàm Dương Phương Loan
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ THƠ HOÀNG CẦM
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
2.1 Những nghiên cứu về Kí hiệu học trong văn học và ngôn ngữ 2
2.2 Những nghiên cứu liên quan đến Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn 7
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc luận văn 8
NỘI DUNG CHÍNH 9
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Lí thuyết kí hiệu học và hình tượng văn học 9
1.1.1 Kí hiệu học 9
1.1.2 Hình tượng văn học 18
1.2 Vấn đề nghiên cứu kí hiệu trong văn chương 20
1.2.1 Văn chương dưới góc nhìn kí hiệu học 20
1.2.2 Tính kí hiệu của hình tượng văn học 22
1.2.3 Phương thức thể hiện của hình tượng văn học từ góc độ kí hiệu 24
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cầm 27
1.3.1 Nhà thơ – nhà nghệ thuật Nguyễn Trọng Tạo 27
1.3.2 Nhà thơ Hoàng Cầm 29
1.4 Tiểu kết 31
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ HOÀNG CẦM TỪ GÓC NHÌN CÁI BIỂU ĐẠT 33
2.1 Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 33
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 33
Trang 82.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, xét ở cấp độ tín
hiệu thẩm mĩ biến thể 37
2.1.3 Nhận xét chung 52
2.2 Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 52
2.2.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 52
2.2.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể 57
2.2.3 Nhận xét chung 74
2.3 Mối tương quan trong biểu đạt bằng ngôn ngữ ở hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và thơ Hoàng Cầm 75
2.3.1 Sự tương đồng 75
2.3.1.1 Về hình thức biểu đạt 75
2.3.1.2 Về cấu tạo của các biến thể 75
2.3.2 Điểm khác biệt 76
2.3.2.1 Về hình thức biểu đạt 76
2.3.2.2 Về cấu tạo của các biến thể 77
2.4 Tiểu kết 77
CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ HOÀNG CẦM TỪ GÓC NHÌN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 79
3.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 79
3.1.1 Giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 79
3.1.2 Giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 84
3.1.2.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 84
3.1.2.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 86
3.1.2.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 90
3.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 93
Trang 93.2.1 Giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ
trong thơ Hoàng Cầm 93
3.2.2 Giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 98
3.2.2.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 98
3.2.2.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 101
3.2.2.3 Các biến thể quan hệ của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 104
3.3 Đối sánh giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm 107
3.3.1 Thể hiện đặc trưng cái tôi cô đơn, lạc lõng 108
3.3.2 Thể hiện sự khát khao hạnh phúc 110
3.3.3 Thể hiện đặc trưng tính mẫu 112
3.4 Tiểu kết 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Kết quả khảo sát tín hiệu hằng thể chỉ hình tượng người phụ nữ
2.2 Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể chỉ người
2.3 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người phụ
2.4 Kết quả khảo sát về các tín hiệu là danh từ/ danh ngữ liên quan
đến hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 41 2.5 Kết quả khảo sát các tín hiệu kết hợp là động từ trong thơ
2.11 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người phụ
2.12 Kết quả khảo sát về các tín hiệu là danh từ/ danh ngữ liên quan
đến hình tượng người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm 61 2.13 Kết quả khảo sát các tín hiệu kết hợp là động từ trong thơ
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp hữu dụng nhất của con người Nhờ có ngôn ngữ con người có thể nghe, nói, đọc, viết để khám phá toàn bộ mọi khía cạnh của thế giới Trong
đó, văn học là bộ môn khoa học sử dụng chất liệu cốt lõi là ngôn ngữ Mỗi tác phẩm văn học có thể dài, có thể ngắn, có thể là một bài thơ vài ba câu cũng có thể là một bản trường ca lớn hay thậm chí là một tiểu thuyết dài tập… nhưng đều được xem là một văn bản và được viết ra bằng các cách thức nghệ thuật, bao hàm các tính chất nghệ thuật, bằng một khuôn thức hoặc mô hình sáng tạo nghệ thuật đặc thù của ngôn ngữ, tuân thủ các đặc trưng của ngôn ngữ, được gắn kết theo các quy tắc ngữ pháp, được tổ chức theo trật tự cú pháp và đáp ứng cách thức sử dụng ngôn từ theo ngữ dụng học Trong những khuynh hướng nghiên cứu văn học, nghiên cứu dưới góc nhìn kí hiệu học đặc biệt được quan tâm trong nhiều năm trở lại đây
Được đánh giá là khuynh hướng nghiên cứu giàu tiềm năng, nghiên cứu văn học dưới lăng kính của kí hiệu học giúp giải mã ngôn ngữ biểu tượng một cách hiệu quả Để
có thể giải mã các lớp nghĩa của một kí hiệu ngôn ngữ hay biểu tượng trong văn học, nhà nghiên cứu cần phải có cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ với văn chương, ngôn ngữ với văn hóa mới giải mã được tầng nghĩa sâu nhất trong mối quan hệ của văn học với hiện thực, với nhà văn, với bạn đọc và với chính bản thân nó
Là những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm đều bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ khá sớm Nếu như thơ Nguyễn Trọng Tạo là những khúc hát ngân lên từ cõi nhớ của một kẻ lưu lạc cả một đời thong dong, là những câu thơ thấm đẫm nỗi niềm riêng biệt; thì Hoàng Cầm lại là một thứ thơ sang trọng, đẹp một cách mong manh, lung linh những sắc màu thiên nhiên và huyền ảo với các gam màu cổ tích, huyền sử đầy sáng tạo Thế nhưng ở cả hai nhà thơ đều có sự từng trải trong
số phận, khiến trực cảm thơ của Hoàng Cầm và Nguyễn Trọng Tạo có đôi nét tương đồng Tác phẩm của Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm có nhiều hình tượng hay và lạ, mang dáng dấp biểu tượng cao độ, đặc biệt là những hình tượng người phụ nữ xuất hiện trong thi phẩm của hai nhà thơ
Chính từ những lí do trên, tác giả luận văn đã quyết định lựa chọn đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và thơ Hoàng Cầm nhìn từ lí thuyết
Kí hiệu học” để đi vào phân tích, đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt cũng
như những điểm đặc sắc trong việc xây dựng hình tượng trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm, nhất là về hình tượng người phụ nữ khi nhìn từ góc độ kí hiệu học
Đề tài không chỉ làm rõ giá trị thơ ca của hai thi sĩ mà còn góp phần phát triển việc nghiên cứu tác phẩm văn chương nói chung trong tiến trình giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ
Trang 132 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về Kí hiệu học trong văn học và ngôn ngữ
Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX vấn đề kí hiệu học đã nổi lên như là một hiện tượng của thời đại và cho đến tận thời điểm hiện tại, kí hiệu học và những luận thuyết xoay quanh nó vẫn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và vận dụng trong các chuyên ngành khác nhau Ở những ngày đầu xuất hiện, kí hiệu học đã có sự phân chia theo hai truyền thống khoa học: Truyền thống thứ nhất bắt nguồn từ “cha đẻ của chủ nghĩa thực dụng” – Charles Sanders Peirce, xuất phát từ quan niệm xem kí hiệu học là yếu tố thứ nhất của mọi hệ thống kí hiệu học, “chú ý đến những hình ảnh xuất hiện trong lúc kí hiệu tác động đến người tri nhận” [7, tr 75]; Truyền thống thứ hai dựa vào các luận điểm của nhà ngôn ngữ học và nhân chủng học Ferdinand de Saussure, lấy cặp đối lập ngôn ngữ và lời nói (của văn bản) làm nền móng, nếu như ta tách ngôn ngữ với lời nói thì với F de Saussure nó đồng nghĩa với việc: “tách luôn: 1 cái gì có tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2 cái gì có tính chất cốt yếu với cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên” [39, tr 19]
“Nếu kí hiệu học của Saussure ‘đông cứng’ trong tiếp nhận, thì kí hiệu của Peirce
‘vận động’” [7, tr 78] Tuy có sự khác nhau trong hướng nghiên cứu, chúng vẫn có sự giống nhau cơ bản là: chọn một nhân tố giản đơn nhất, nhỏ nhất không thể chia cắt làm nền tảng, tất cả những gì sau đó đều được xem xét như là sự tương đồng với nó
Trong bài Về kí hiệu quyển (Lã Nguyên dịch), Lotman Iu M cho rằng, chúng ta
đang sống trong một thế giới kí hiệu Điều ấy cho thấy nghiên cứu kí hiệu học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm cho lĩnh vực này Hệ quả là kí hiệu học được đào sâu, đồng thời các vấn đề kí hiệu học trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp Iu M Lotman là nhà nghiên cứu chịu
sự ảnh hưởng của Trường phái hình thức Nga thế nhưng ông phát triển tư tưởng khoa học của trường phái này là để mở ra một hướng đi mới Cùng với Trường phái Tartu, nhà khoa học Xô Viết – Iu M Lotman đã để lại cho đời công trình nghiên cứu quý giá
Kí hiệu học văn hóa [16]
Tiếp thu những giá trị đi trước, ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đắt giá về phê bình kí hiệu học trong ngôn ngữ và văn chương Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn chương từ góc nhìn
kí hiệu học phải kể đến là Từ thi pháp học đến kí hiệu học của Hoàng Trinh, Những
luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học của Nguyễn Lai, Ngôn ngữ với văn chương của Bùi
Minh Toán , Tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn, Tín hiệu
thẩm mĩ - sóng đôi của Trần Văn Sáng, Tín hiệu thẩm mĩ truyền thống Ngữ Văn – điển
cố trong thơ hiện đại, trường hợp Nguyễn Bính của tác giả Bùi Trọng Ngoãn
Từ góc độ lí thuyết kí hiệu học văn hóa và Kí hiệu học văn học, chúng ta có thể tìm
thấy trong các công trình tiêu biểu sau: Trong cuốn Kí hiệu và liên kí hiệu, tác giả Lê
Trang 14Huy Bắc đã nhận định văn chương như là kí hiệu đa nhân cách bởi “khi nhân cách xuất hiện thì mới có văn học, và ngược lại văn học ra đời không nằm ngoài mục đích để hình thành và phát triển nhân cách [7, tr 87] Với ông “chúng ta sống trong kí hiệu và bản thân chúng ta cũng là một kí hiệu hay một tập hợp kí hiệu theo quan điểm nào đó” [7,
tr 95] Cũng bàn về kí hiệu học nhưng ở tác phẩm Kí hiệu học văn học, Lê Huy Bắc lại
có những phân tích tiệm cận hơn về kí hiệu ngôn ngữ văn chương hay có thể gọi ngắn gọn là kí hiệu ngôn từ Nó “vốn là nghệ thuật ngôn từ, đúng hơn là sự thăng hoa ngôn
từ mang đậm cảm xúc cá nhân nên tính kí hiệu của ngôn ngữ văn chương là kí hiệu của
kí hiệu” [6, tr 78] Ngoài ra, nhà phê bình Lê Huy Bắc có nhiều bài viết khác như Mặc
định học kí hiệu [4], Văn chương như kí hiệu đa văn hóa [5], Cổ mẫu như kí hiệu văn chương [3]… Là sự kế thừa các lí thuyết của Iu M Lotman, những nghiên cứu của Lê
Huy Bắc đã đóng vai trò quan trọng cho hướng nghiên cứu, giải mã tác phẩm văn học
từ lí thuyết kí hiệu học
Với quan điểm xem kí hiệu và các hệ thống kí hiệu là cơ sở của văn hóa, Trịnh Bá
Đĩnh trong chuyên luận Từ kí hiệu đến biểu tượng [11] đã nêu lên được mối quan hệ
giữa hình thức và nội dung của kí hiệu Do được xây dựng trên cơ sở lí luận của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới nên cuốn sách gần như đã nắm bắt một cách toàn diện các vấn đề xoay quanh lí thuyết kí hiệu và kí hiệu học, biểu tượng, biểu tượng nghệ thuật cũng như vấn đề biểu tượng trong tác phẩm văn học
Nhận thấy được sự cấp thiết và mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ văn chương của lí thuyết kí hiệu học, những năm gần đây việc nghiên cứu kí hiệu học ngôn ngữ dần được phủ sóng rộng khắp, mang đến nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ văn chương nói riêng Ở đây chúng tôi có thể kể
đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của
kí hiệu ngôn ngữ [19] của tác giả Nguyễn Thị Minh; Kí hiệu học: Khái niệm, phạm vi
và lĩnh vực nghiên cứu [30] của Nguyễn Quốc Thắng; Văn học dưới góc nhìn kí hiệu học [37] của tác giả Mai Thị Hồng Tuyết; Tín hiệu thẩm mĩ truyền thống Ngữ Văn – điển cố trong thơ hiện đại, trường hợp Nguyễn Bính [20] của tác giả Bùi Trọng Ngoãn; Đặc điểm về cấu trúc và nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ trong văn học [24] của tác giả
Trần Văn Sáng… Từ những vài viết này đã giúp công cuộc nghiên cứu kí hiệu học nói chung ở Việt Nam có thêm những bước tiến mới và ngày càng chạm đến gần hơn với cái cốt lõi của ngôn ngữ và văn học
Nhìn chung, việc xem xét ngôn ngữ như là một kí hiệu, những lí thuyết khai thác
ở mảng này đã có một chỗ đứng nhất định cho riêng mình bởi lẽ đối tượng nghiên cứu
của kí hiệu học, theo chúng tôi, không phải đơn thuần là kí hiệu mà chính là hệ thống của quá trình biểu nghĩa và quan hệ của các hệ thống này Việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học từ lí thuyết kí hiệu học không chỉ giúp chúng ta có một cái nhìn mới đối với tác phẩm văn chương mà nó còn giúp chúng ta nhận ra được các giá trị văn hóa tri nhận ẩn sau trong mỗi trang văn người Việt
Trang 152.2 Những nghiên cứu liên quan đến Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm
Hoài Thanh đã từng có nhận xét như thế này: “Tôi quyết rằng trong thi ca Việt Nam chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” Ấy vậy mà, chưa đầy 30 năm sau lịch sử văn học Việt Nam nói chung và nền thơ ca nói riêng lại một lần nữa chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và đông đảo đến thế của những cây bút trưởng thành từ các cuộc kháng chiến như: Hoàng Cầm, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo,… Mỗi thi sĩ lại mang trong mình một màu sắc riêng, từ đó văn đàn Việt Nam lại càng rực rỡ sắc màu Trong đó, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm chính là hai gam màu đặc biệt khác lạ
Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, trải dài ở nhiều thể loại khác nhau và thành công nhất có lẽ phải nói đến sự nghiệp thơ của họ Vốn là những trái tim dễ rung cảm với nỗi sầu nhân thế, trong suốt cuộc đời mình hai nhà thơ luôn cố gắng khắc họa chân thực nhất những buồn, vui, hạnh phúc hay đớn đau của phận người Bằng sự đổi mới không ngừng, Hoàng Cầm và Nguyễn Trọng Tạo đã trở thành các gương mặt sáng giá trong đội ngũ những nhà thơ mấy thập niên qua…
Hành trình đến với duyên nghiệp thơ của Nguyễn Trọng Tạo là hành trình tự tìm
tòi, khám phá bởi thơ ông là một chân trời mới lạ mà có thể chúng ta phải mất cả một đời để hiểu hết Đi vào khám phá thế giới thơ của Nguyễn Trọng Tạo, đã có không ít công trình khảo cứu ở các phạm vi và phương thức khác nhau:
Nguyễn Trọng Tạo viết về tình yêu bằng sự chiêm nghiệm cùng những triết lý sâu
xa, thâm thúy hóa thành sợi dây vô hình neo chặt vào hồn người Nhà thơ Mỹ Mary E Croy đã so sánh thơ tình của Nguyễn Trọng Tạo với Pablo Neruda – một nhà thơ người Chile từng đoạt giải Nobel: “Có sự tương đồng giữa thơ Nguyễn Trọng Tạo với thơ của Pablo Neruda Rất nhiều bài thơ tràn đầy nhạc điệu tình yêu – điều này làm chúng rất
ám ảnh Đối với cả Nguyễn Trọng Tạo và Neruda, bài hát tình yêu được sức mạnh thiên nhiên giải thoát khỏi những đè nén nhân tạo” [41] Trong phần lời giới thiệu của tập thơ
Kí ức mắt đen khi được dịch sang tiếng Anh, nữ nhà thơ này còn đặc biệt ưu ái Nguyễn
Trọng Tạo vì cho rằng: Thơ của Nguyễn Trọng Tạo là sự giới thiệu tuyệt vời về những
truyền thống trữ tình của Việt Nam, giúp người đọc phương Tây nhìn Việt Nam trong ngữ cảnh rộng hơn
Nhà thơ Vũ Cao lúc sinh thời đã nhận thấy sự khác biệt trong tư duy Nguyễn Trọng Tạo, ông cho rằng: “Nếu người đọc muốn tìm thấy ở thơ Nguyễn Trọng Tạo câu trả lời chức năng của thơ là gì thì khó mà có một lời giải đáp cụ thể Ta thấy thơ anh không nhằm phục vụ một nhiệm vụ hoặc cổ vũ một trào lưu gì Anh như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp ồn ào qua lại Thật khó có thể
Trang 16xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào Ngòi bút anh thoải mái với những điều không phải dễ nói ra ” [Dẫn theo 18] Nguyễn Trọng Tạo tìm cho mình một hướng đi riêng Trên chặng đường đầy chông gai ấy chàng giang hồ lãng du kia luôn khao khát gặp được những cảm xúc thơ mãnh liệt nhất để thỏa mãn cái trực cảm thơ mạnh mẽ nơi ông
Cũng nói về sự khác biệt và mới lạ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Nguyễn
Thụy Kha trong bài Người tận lực cho thơ đã có cảm nhận về sự bền bỉ và sáng tạo
không ngừng của cây bút thơ Nguyễn Trọng Tạo như sau: “Về thơ, cũng ngay từ dạo
ấy, Tạo đã có những đột phá mang khát vọng cách tân như không nhiều nhà thơ khác
thời đầu thanh bình…” [27, tr 532-533] Còn trong bài viết Nguyễn Trọng Tạo – Người
chọn thơ làm nghiệp in trên tạp chí Nhà Văn số Tết Nhâm Thìn 2012, tác giả Cao Xuân
Phát đã đưa ra nhận xét: “Thơ Nguyễn Trọng Tạo thường đặt ra những câu hỏi nóng bỏng trước đời sống và thời cuộc… Và ông tìm cách trả lời những câu hỏi đó Ông trả lời với tư cách người lính, tư cách công dân và tư cách nhà thơ” [23] Cũng nghiên cứu
về Nguyễn Trọng Tạo nhưng đứng từ góc độ lí luận phê bình nhà thơ Thanh Thảo đã có
một vài nhận định sâu sắc về lĩnh vực phê bình Nguyễn Trọng Tạo trong cuốn Mãi mãi
là bí mật, rằng là: “Những cảm nhận của Tạo nhiều khi còn bất ngờ và sâu sắc hơn là
những nhận định hay là những nhận xét thông minh của một nhà phê bình chuyên nghiệp” [29, tr 281]
Điểm qua các nghiên cứu về nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chúng tôi nhận thấy rằng hầu như các bài viết đều hướng đến khai thác các giá trị nội dung, nghệ thuật và tư tưởng trong thơ ông Có rất ít hay thậm chí là chưa có nghiên cứu nào thật sự đào sâu vào nghiên cứu thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc nhìn ngôn ngữ hình tượng hay lấy lí thuyết kí hiệu học làm nòng cốt giải mã Những thi phẩm của Nguyễn Trọng Tạo vẫn còn là một
“dư địa” quá rộng lớn đối với người nghiên cứu, khiến chúng ta chưa thể khám phá một cách có hệ thống
Trong dòng chảy thơ ca hiện đại Việt Nam, thơ Hoàng Cầm là một hiện tượng độc
đáo với những đặc trưng thơ riêng biệt không thể trộn lẫn Vẻ đẹp thơ ông toát ra từ thế giới tâm hồn, từ tình cảm bao la mà rất mực chân thành của một nhà thơ suốt đời tận tụy
vì nghệ thuật Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm từ bình diện ngôn ngữ học hay kí hiệu học một cách có hệ thống xuất hiện còn khá dè dặt
Theo Nguyễn Việt Chiến: “Trong thơ Việt Nam hiện đại, Hoàng Cầm đã tạo ra một trường - thẩm mĩ mới, nó vừa mang trong mình cốt cách của văn hoá vùng Kinh Bắc, vừa mở ra một không gian lớn của thơ trữ tình với những tìm tòi nhằm đưa cái đẹp dân gian vào hơi thở của mỗi bài thơ” [8, tr 59] Còn với Đỗ Lai Thúy, khi nhắc đến thơ Hoàng Cầm chính là nhắc đến “khoảng trắng trong thơ Hoàng Cầm là chỗ trống của giấc mơ Một cuốn băng ghi hình bị ý thức xóa đi chỉ còn lỗ chỗ những hình ảnh Đó còn là khoảng trắng của sự không nói, của im lặng Im lặng của khó nói, im lặng của lời nói bị hãm đà đột ngột, và im lặng của… đối thoại câm” [31] Cũng nói đến những
Trang 17“khoảng trắng” trong thơ Hoàng Cầm, Lê Thị Thanh Tâm khẳng định: “đó chính là lối
đi của một thứ tâm linh nhạy bén trong bản năng thơ của Hoàng Cầm” [28]
Có nhiều sự quan tâm đối với hồn thơ nhạy cảm đầy ẩn ức của Hoàng Cầm, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã tốn không ít giấy mực cho những sáng tác độc đáo của ông
Trong bài Hoàng Cầm, Nguyễn Bính và… Đỗ Lai Thúy có nhận xét: “Thơ Hoàng Cầm
là thơ ẩn dụ Hệ thống ẩn dụ của ông, một phần lấy nguyên từ cái “kho trời chung” của văn hóa dân gian, phần khác lấy có cải biến, còn lại là do cá nhân ông sáng tạo Thơ Hoàng Cầm tràn ngập ẩn dụ đêm, mưa trăng và gió” [33] Cũng ở bài viết, Đỗ Lai Thúy còn có vài so sánh giữa lối viết của Nguyễn Bính và Hoàng Cầm: “Hoàng Cầm cũng nhìn nông thôn từ bên trong cũng một tài thơ bẩm sinh như vậy, thế mà thơ ông khác xa thơ Nguyễn Bính Không hẳn là sự khác nhau của hai thổ ngơi, một đất Kinh Bắc tài hoa thanh lịch, một đất Sơn Nam chiêm khê mùa thối, hoặc khác nhau giữa hai thời đại, một tiền chiến và một hậu chiến” [33]
Thơ Hoàng Cầm là thế, nó gây khó khăn với cả những người có nhiều sự hiểu biết
về thi ca Nhắc đến thơ ông khiến Nguyễn Đăng Mạnh gặp nhiều nỗi băn khoăn: “Hình như có một không gian Kinh Bắc rất đỗi cổ kính trong thơ anh” [17, tr.26] Đây chính
là điều tạo nên sự khác biệt trong mỗi thi phẩm của Hoàng Cầm, màu sắc mà ta khó có thể bắt gặp ở một nhà thơ nào khác dù ở thời điểm đó hay đến tận ngày nay Tán thành
với ý kiến trên, Đỗ Đức Hiểu đã có lời khẳng định như vậy trong bài viết Hoàng Cầm:
“Tính hiện đại của thơ Hoàng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương (nhà thơ
đô thị với phố xá đô thị, sàn nhảy đô thị, tiệm hút đô thị…), mà là một vùng cỏ cây, sông
hồ nhẹ bay của thôn quê Kinh Bắc, được siêu thực hóa thành cỏ Bồng Thi, cầu Bà Sấm,
bến Cô Mưa và lá Diêu Bông” [17, tr.30]
Bởi có nhiều sự hạn chế, ở đây chúng tôi chỉ có thể đưa ra tên một số cuốn sách được cho là có nhiều sự đóng góp trong việc bình giảng, luận bàn về sự nghiệp sáng tác
của nhà thơ Hoàng Cầm: Quyển thứ nhất do Hoài Việt sưu tầm, biên soạn, có tên: Hoàng
Cầm, thơ văn và cuộc đời của Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997 Quyển thứ hai
do Tiến sĩ Nguyễn Xuân Lạc biên soạn là Hoàng Cầm và giai điệu thơ Kinh Bắc, tập
sách có sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sĩ, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng và được Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ xuất bản năm
2004 Quyển Hoàng cầm – Tác giả, tác phẩm, tư liệu và quyển Nhà văn và tác phẩm
trong nhà trường, về hai tác giả Nguyễn Đình Thi và Hoàng Cầm, được Nguyễn Bích
Thuận và Lê Lưu Oanh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn
Chúng tôi nhận thấy số lượng những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng lý thuyết kí hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong một tác giả cụ thể không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ về lí thuyết và/hoặc các phương diện nào đó của kí hiệu học Đặc biệt, cho đến nay, chưa có một công trình nào
nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo và thơ
Hoàng Cầm từ góc nhìn kí hiệu học như đề tài của chúng tôi
Trang 183 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu là hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn lí thuyết kí hiệu học
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về ngữ liệu khảo sát, luận văn dựa trên những tuyển tập sau:
- 152 bài thơ trong cuốn Nguyễn Trọng Tạo tuyển tập – Thơ và nhạc do Tuyến Nga,
Phạm Ngọc Ngoạn và Trần Quang Quý sưu tầm tuyển chọn, Nhà xuất bản Văn học, in năm 2019
- 128 bài thơ trong cuốn Hoàng Cầm về Kinh Bắc do Nhiều tác giả biên soạn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, in năm 2022 và cuốn Hoàng Cầm 100 bài thơ, Nhà xuất bản Dân Trí,
in năm 2022
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đi vào khai thác là sáng tỏ đề tài này, mục đích cốt lõi mà chúng ta hướng đến chính là Khảo sát, liệt kê và đánh giá hình tượng người phụ nữ như là một kí hiệu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm Đặt cách thức xây dựng hình tượng nhân vật của hai nhà thơ trong mối quan hệ so sánh từ cái chung đến cái riêng của từng tác giả Ngoài
ra, luận văn còn mong muốn góp thêm một khía cạnh mới trong việc tìm hiểu các tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cầm từ bình diện kí hiệu học ngôn ngữ
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Hướng vào những mục đích đã nêu trên đây, luận văn thực hiện những nhiệm vụ
- Đối sánh phương thức thể hiện và các lớp nghĩa mà Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm đã đưa vào hình tượng người phụ nữ trong thơ của mình, từ đó tìm ra nét tương đồng và dị biệt làm nên đặc trưng mỗi nhà thơ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp miêu tả ngôn ngữ
và phương pháp kí hiệu học với các thủ pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 19Ngoài ra, trong một chừng mực cho phép, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ - văn học… để giải quyết
những vấn đề mà nhiệm vụ đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài nghiên cứu Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng
Tạo và thơ Hoàng Cầm nhìn từ lí thuyết kí hiệu học, luận văn hướng đến những đóng
- Chỉ ra được các giá trị hình thức và nội dung của các ngôn ngữ hình tượng và
so sánh sự tương đồng và khác biệt trong việc thể hiện hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo – Hoàng Cầm
- Trong một phạm vi cụ thể, luận văn góp phần tổng kết, đánh giá sức sống của ngôn ngữ biểu tượng nhìn từ lí thuyết kí hiệu học trong văn bản thơ Nguyễn Trọng Tạo
và Hoàng Cầm
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Giới thuyết vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm từ góc nhìn cái biểu đạt
- Chương 3: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Cầm từ góc nhìn cái được biểu đạt
Trang 20NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1
GIỚI THUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lí thuyết kí hiệu học và hình tượng văn học
1.1.1 Kí hiệu học
1.1.1.1 Khái niệm kí hiệu / kí hiệu học
Kí hiệu học (Semiology hay Semiotics) là khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động của kí hiệu học và hệ thống kí hiệu Đây là một ngành khoa học rộng lớn, liên quan đến hầu hết tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người Từ những năm đầu của thế kỉ XX, hai nhà bác học là Charles Peirce (1839 – 1914) và Ferdinand de Saussure (1837 – 1913) đã đặt nền móng cho kí hiệu học như là khoa học
về kí hiệu Sau Thế chiến thứ hai, nhất là ở những năm 1960 – 1970, nhân loại chứng kiến sự trở mình mạnh mẽ của nó và đây cũng là bước ngoặt quan trọng mang tính cách mạng của khoa học xã hội – nhân văn Phong trào kí hiệu học phát triển rầm rộ, lan rộng
và được vận dụng ở nhiều nước Nhiều người vẫn chưa quên không khí náo nhiệt xung quanh hai tờ tạp chí thể hiện tinh thần quốc tế và ý nghĩa toàn cầu của kí hiệu học thời
ấy: Tel quel ở Pháp (tồn tại 22 năm, từ 1960 đến 1982) và Những công trình nghiên cứu
các hệ thống kí hiệu (Sign Systems Studies) của Trường phái Tartus – Moskva ở Liên
Xô (tồn tại trong khoảng 28 năm từ 1964 đến 1992)
Khi nói “kí hiệu học là học thuyết nghiên cứu kí hiệu”, bản thân các học giả phương Tây đã vô cùng không hài lòng; cũng có người nói kí hiệu học “nghiên cứu đặc điểm của hoạt động kí hiệu (semiosis) của nhân loại, cũng chính là “năng lực kí hiệu nguyên” của con người” Điều này vẫn không thoát khỏi định nghĩa theo kiểu trùng điểm từ đồng nghĩa Nhưng cũng có rất nhiều nhà kí hiệu học cho rằng, không thể định nghĩa kí hiệu hay kí hiệu học Kí hiệu học với tư cách là sự tìm tòi về quy luật tư duy phổ biến, mục đích của nó là làm rõ phương thức con người biểu đạt và nhận thức ý nghĩa Hiện nay trên thế giới đã có ba cách định nghĩa khác nhau về kí hiệu học:
(1) Cách định nghĩa mẫu mực và phổ biến nhất về kí hiệu học là định nghĩa dựa vào đối tượng: Kí hiệu học là khoa học về các kí hiệu và/hoặc về các hệ thống kí hiệu (2) Kiểu thứ hai là định nghĩa dựa vào phương pháp: Kí hiệu học là khoa học đem phương pháp ngôn ngữ học áp vào những đối tượng khác, không phải là ngôn ngữ tự nhiên
(3) Kiểu thứ ba là định nghĩa của Iu.M.Lotman Theo Lotman, kí hiệu học là khoa học về các hệ thống giao tiếp và các kí hiệu được sử dụng trong quá trình thông tin
Trang 21Định nghĩa theo cách thứ nhất có thể thấy ở công trình của U.Eco, phổ biến trong định nghĩa của các từ điển wikipedia.org, Oxford advanced learner’s dictionary 7th edition,… Dù được chấp nhận rộng rãi nhưng cách định nghĩa này lại quá chung chung Định nghĩa thứ hai cho thấy một khuynh hướng tiếp cận mà người ta gọi là truyền thống Saussure Quan điểm sau đây của I.I.Revzin tại cuộc thảo luận tại Trường học mùa Hè lần thứ hai ở Kääriku (1966) đã thể hiện rất rõ điều này: “Đối tượng của kí hiệu học là mọi khách thể có thể miêu tả bằng các phương tiện ngôn ngữ học” [Dẫn theo 15] Khuynh hướng này lấy ngôn ngữ học làm trung tâm, ngôn ngữ là trục quy chiếu để xem xét các hệ thống kí hiệu khác Định nghĩa thứ ba của Lotman gắn chặt với vấn đề giao tiếp và thông tin trong giao tiếp Nhìn lại quan điểm này có thể thấy Lotman đã chỉ ra đặc trưng cốt lõi nhất của kí hiệu và kí hiệu học Bởi không thể có kí hiệu nào tồn tại ngoài giao tiếp, ngược lại cũng không thể giao tiếp nếu không có kí hiệu Hơn nữa, cấu trúc của kí hiệu, nghĩa của kí hiệu chỉ có thể hình thành và sản sinh trong giao tiếp Nhận chân những giá trị nghiên cứu kí hiệu học theo dòng lịch sử, đến thời điểm hiện tại tuy số lượng công trình cũng như các định nghĩa về kí hiệu/ kí hiệu học đã đa dạng hơn rất nhiều song các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều quan điểm chưa có tính đồng nhất Ở Việt Nam, định nghĩa về kí hiệu và kí hiệu học cũng khá phong phú, trong số các quan điểm đó nổi bật hơn cả phải nhắc đến các công trình nghiên cứu của Lê Huy
Bắc và Trịnh Bá Đĩnh Trong hai cuốn sách Kí hiệu học văn học và Kí hiệu và Liên kí
hiệu, tác giả Lê Huy Bắc đã có những nhìn nhận bao quát về hai “cổ thụ” trong giới
nghiên cứu kí hiệu học là Charles Peirce và Ferdinand de Saussure từ đó nêu ra những suy nghĩ ngắn gọn nhưng vẫn rất đầy đủ về mặt nội hàm khi nói về kí hiệu và kí hiệu học; với ông: “Kí hiệu tái hiện hiện thực nhân danh sự vắng mặt của nó” [7, tr 9] Theo cách hiểu hiện đại, thì kí hiệu học được xếp vào dạng lí thuyết về nghĩa (theory of signification)” [6, tr 59] Đối với Trịnh Bá Đĩnh kí hiệu (sign) là “các sự vật, hiện tượng, hành vi của con người, hiện diện như một vật mang nghĩa, như phương tiện thông báo một nội dung nào đó” [11, tr 9]; Trịnh Bá Đĩnh có xu hướng quan tâm nhiều đến kí hiệu học văn hóa
Có thể thấy, khái niệm kí hiệu/ kí hiệu học thực sự là những khái niệm có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa sẽ thể hiện được một hay một vài đặc điểm của kí hiệu học Vì hướng tiếp cận của luận án, chúng tôi chú trọng hơn cả đến các khái niệm mà ở đó kí hiệu học gắn liền với ngôn ngữ học, lấy các mô hình ngôn ngữ học làm nền tảng
1.1.1.2 Cấu trúc của kí hiệu
Không chỉ đặt nền móng cho kí hiệu học, từ những lí luận ban đầu của mình Ferdinand de Saussure còn cơ bản thể hiện được cấu trúc của nó; mà sau này lí thuyết này còn vượt xa phạm vi kí hiệu học và trở thành lí thuyết khoa học độc lập – cấu trúc
luận Trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, khi nhắc đến cấu trúc đặc trưng
Trang 22của kí hiệu học F de Saussure luôn cho rằng: “một kí hiệu được cấu tạo bởi hai vế là
cái biểu đạt và cái được biểu đạt” [Dẫn theo 35, tr 63] Cái biểu đạt (Signifier) của ngôn
ngữ chính là “mặt vật chất”, “hình thức âm thanh” hay “hình thức ngữ âm” hoặc “cái vỏ tiếng”; hiểu một cách đơn giản thì cái biểu đạt là những gì có thể nghe được được một bài phát biểu hay nhìn thấy được như một bài viết nhưng tuyệt nhiên với Saussure cũng như những nhà kí hiệu học sau ông đều khẳng định rằng cái biểu đạt không chỉ đơn thuần là cái âm vật chất mà là sự liên kết bền chặt “không chỉ một sự vật với một tên gọi
mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh” [39, tr 138] Như vậy theo Saussure, cái biểu đạt không phải vật chất hay hình thức ngữ âm thuần vật lí và cái được biểu đạt không đồng nhất với vật được ám chỉ mà chỉ là những hình dung mơ hồ trong tâm trí con người Theo đó, ta có thể khẳng định rằng ở đây F de Saussure đang muốn nhấn mạnh sự tham gia của con người vào hệ thống kí hiệu
Thành tố còn lại trong khái niệm của Saussure là cái được biểu đạt (Signified), nó
không phải là một vật, mà là ý niệm, khái niệm về một vật Lã Nguyên còn nói thêm:
“Nghĩa (cái được biểu đạt) là cái thể hiện quan hệ giữa kí hiệu với một thực tại nào đó
có thể có thật hoặc không có thật, là cái khả thể, hoặc cái hư cấu Nó là cái tham chiếu, cái thông báo của kí hiệu, là mô hình của một hiện tượng đời sống nào đó trong tư duy, chứ không phải là đời sống mà kí hiệu chỉ ra” [21, tr 7] Từ đó ta thấy rằng, với Saussure
cả hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt đều là những vấn đề thuộc về tâm lí Chúng gắn bó mật thiết với nhau như một tờ giấy có hai mặt, có cái này thì hiển nhiên sẽ có cái kia
Đến nay, đã hơn 100 năm sau ngày Ferdinand de Saussure qua đời (1913), cấu trúc
kí hiệu của ông vẫn được các nhà khoa học nối tiếp nhau mở rộng và đào sâu thêm các khái niệm chỉ từ một mô hình cấu trúc ban đầu vô cùng đơn giản:
Trang 23liên tục trong khi đó mô hình cấu trúc kí hiệu của Saussure chỉ là mô hình tĩnh, tách rời khỏi giao tiếp Chính Roland Barthes trong biểu đồ trình bày về kí hiệu học huyền thoại
đã nhận ra điều này Theo đó, nhiều nhà khoa học như Romand Jakobson, Roland Barthes, Lazar Reznikov, Louis Hjelmslev, đã tiếp tục phát triển cấu trúc kí hiệu dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Như đã được nhắc đến ở trên, R Barthes không chỉ nhận thấy những thiếu sót trong mô hình của Saussure mà ông còn áp dụng lý thuyết cấu trúc kí hiệu học để kiến giải thần thoại bằng một sơ đồ phát triển hơn:
I CÁI BIỂU ĐẠT (SIGNIFIER)
II CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT
(SIGNIFIED)
III KÍ HIỆU
Với sơ đồ này, Roland Barthes đã phát triển mô hình cấu trúc kí hiệu, cái biểu đạt
và cái được biểu đạt ở một mức cao hơn Theo đó, kí hiệu được hình thành từ cái biểu đạt và cái được biểu đạt ban đầu lại kết hợp với nhau bằng mô thức của CÁI BIỂU ĐẠT
và CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT cao hơn tạo nên các KÍ HIỆU mới Hay nói một cách khái quát mô hình của R Barthes là sự nhân đôi hóa mô hình của Saussure Từ đây, quan niệm về cái biểu đạt, cái được biểu đạt và kí hiệu đã vượt ra ngoài khuôn khổ của cấu trúc luận giai đoạn đầu để hình thành nên một trào lưu mới với tên gọi giải cấu trúc hay hậu cấu trúc
Trong khi đó, lí thuyết của Charles Sanders Peirce cho thấy tất cả mọi vật đều được tri giác là kí hiệu nếu nó được mã hóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), do đó cấu trúc kí hiệu phải bao gồm 3 yếu tố:
- Cái biểu đạt (Representament), là phương tiện chuyển tải và tri giác được
- Đối tượng (Objet) là cái được biểu đạt/ được đại diện là vật thể tương liên với cái biểu đạt
- Cái thuyết giải (Interpretant) là cái trung gian giữa hai cái trên (cái biểu đạt và đối tượng) là cái lí giải quan hệ giữa hai cái đó, nghĩa là nhớ nó, trong tư duy người tiếp nhận sẽ có một tín hiệu tương thích được tạo ra
Nhìn vào mô hình này của C S Peirce ta thấy khái niệm “Representament” có ý nghĩa tương đồng với khái niệm cái biểu đạt của Saussure, khái niệm “Objet” thì có hàm nghĩa tương tự khái niệm cái được biểu đạt của Saussure Tuy nhiên, chính yếu tố thứ
ba là “Interpretant” đã tạo nên sự khác biệt và năng động hơn của Peirce khi đặt vào giao tiếp
Trang 241.1.1.3 Tính chất của kí hiệu
Được xem là phương tiện giúp lưu trữ, bảo quản và truyền tải thông tin từ người này sang người khác hay từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính vì lẽ đó kí hiệu sẽ có những đặc điểm riêng khác biệt hoàn toàn với một số yếu tố khác xuất hiện trong ngôn ngữ; từ đó chúng tôi đã nhận thấy kí hiệu có một số tính chất sau:
a) Tồn tại trong giao tiếp
Kí hiệu có rất nhiều tính chất khác nhau, tuy nhiên đặc điểm tồn tại trong giao tiếp có thể xem là tính chất quan trọng nhất của nó Trong suốt chiều dài lịch sử của bộ
môn kí hiệu học, quan điểm “kí hiệu chỉ có thể tồn tại trong giao tiếp” đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Quan điểm này được nhắc đến lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu của C S Peirce Với Peirce, kí hiệu lưu vào đầu óc con người từ
đó tạo ra trong đầu óc họ một kí hiệu tương đương hoặc hơn Vấn đề này đã được Umberto Eco phát triển lên thành lí thuyết về sự tạo thành kí hiệu không giới hạn M Bakhtin cũng sớm nhận ra môi trường tồn tại và phát triển của kí hiệu là giao tiếp Đồng nhất quan điểm trên, Iu M Lotman tiếp tục nhấn mạnh vào đặc trưng tồn tại trong giao tiếp của kí hiệu Như vậy, kí hiệu chỉ thực sự là nó khi được vận động liên tục trong đời sống thực tiễn; được tồn tại trong giao tiếp Đồng thời, sử dụng kí hiệu cũng là đặc trưng
cơ bản của giao tiếp ở mọi cấp độ
Để nhận thấy rõ ràng nhất sự tồn tại của kí hiệu trong giao tiếp, chúng ta có thể nhìn vào mô hình giao tiếp sáu thành phần của Roman Jakobson:
Ngữ cảnh quy chiếu Người phát - Thông điệp - Người nhận
Trang 25Nhìn vào mô hình này, ta thấy kí hiệu (mã) được tạo ra bởi người phát Người phát
sẽ lập mã/ mã hóa thông tin cần truyền tải vào các thông điệp Tiếp đó, người nhận muốn nhận được những thông tin này phải có sự tiếp xúc trong một bối cảnh nào đó Đặc biệt, người nhận phải biết được mã của kí hiệu được sử dụng trong thông điệp, từ đó mới có thể giải mã và hiểu được thông điệp Dù vẫn còn nhận lại nhiều sự tranh cãi song nhìn chung mô hình giao tiếp của R Jakobson đã cơ bản cho chúng ta thấy mối liên hệ mật thiết của kí hiệu và giao tiếp
b) Có tính quy ước
Khi nhắc đến tính quy ước của kí hiệu chính là đang nhắc đến quan hệ giữa hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt; bởi theo quan niệm của F de Saussure thì đó hoàn toàn là quan hệ có tính quy ước, võ đoán mà không thể lí giải được dưới bất kì hình thức nào Tất cả là do cộng đồng cùng thỏa thuận, quy ước
Tính quy ước của kí hiệu là một tính chất cơ bản vì nó nhắm đến tính độc lập,
hoàn chỉnh của một ngôn ngữ trong mối quan hệ với thực tiễn Quan điểm của F de Saussure nhấn mạnh đến cấu trúc bên trong của hệ thống ngôn ngữ, nó cho thấy quan niệm ngôn ngữ không phản ánh thực tế mà phụ thuộc vào cấu trúc của nó Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều mà nghiên cứu phủ định tính quy ước, võ đoán của kí hiệu; thế nhưng bộ phận các kí hiệu như vậy chỉ chiếm một phần nhỏ và trên thực tế mức độ võ đoán không hoàn toàn bị bác bỏ mà chỉ thấy hơn mà thôi, cụ thể ta có thể nhắc đến một
số trường hợp sau:
- Các từ tượng thanh, mà hình thức âm thanh của chúng là do mô phỏng âm thanh
tự nhiên: rì rào, đùng đoàng, róc rách, meo meo, gâu gâu, tắc kè, chính chòe,…
- Các từ được cấu tạo phái sinh từ các từ - tín hiệu gốc Từ gốc thường có tính võ đoán cao hơn còn các từ phái sinh (từ láy, từ ghép trong tiếng Việt) đã có tính lí
do ở mức độ nhất định giữa hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa
- Các nghĩa phái sinh, nghĩa chuyển Giữa nghĩa gốc và âm thanh của tín hiệu – từ
là mang tính võ đoán rất cao Nhưng giữa nghĩa chuyển (nghĩa phái sinh) ở từ đa nghĩa với nghĩa gốc và với âm thanh của từ đã có mối quan hệ có lí do: giống nhau ở một hay một số nét nghĩa nào đó
Như vậy, tính quy ước, võ đoán không chỉ có thể áp dụng cho kí hiệu ngôn ngữ
mà còn có thể được áp dụng cho nhiều hệ thống kí hiệu khác R Barthes trong cuốn
Những huyền thoại đã nhấn mạnh: “Mọi kí hiệu học đều có tiền đề là mối tương quan
giữa hai vế, cái biểu đạt và cái được biểu đạt Mối tương quan ấy diễn ra trên những đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau, và vì thế nó không phải là sự ngang bằng mà là sự tương đương, cần chú ý ở đây là trái với hoạt động ngôn ngữ thông thường cho tôi biết một cách đơn giản cái biểu đạt thể hiện cái được biểu đạt” [2, tr 237-238]
Trang 26Nhờ tính quy ước của kí hiệu mà con người có thể nhanh chóng hiểu được các lớp nghĩa ẩn sau một thông điệp Vì vậy, kí hiệu dần trở thành phương tiện để lưu giữ và truyền tải thông tin một cách hiệu quả Thêm vào đó, tính quy ước cũng giúp cho kí hiệu
có khả năng thay thế E Benveniste cho rằng vai trò của kí hiệu là biểu trưng/ đại diện/ thay thế Nó đóng vai trò như là vật thay thế cho một cái khác [Dẫn theo 35, tr 75] c) Có tính nhân tạo
Tính nhân tạo chính là do con người tự thỏa thuận ngầm mà hình thành Trong cuộc sống hàng ngày của con người ta không khó để bắt gặp các kí hiệu nhân tạo, chẳng hạn: các biển báo giao thông, đèn tín hiệu giao thông, tiếng còi tàu, ánh sáng đèn xe khi tham gia giao thông, các số nhà trên đường phố,… Nhưng những kí hiệu này có thời gian, không gian và công dụng hạn chế hơn rất nhiều so với kí hiệu ngôn ngữ Hiển nhiên, chúng ta cần có sự nhận định chính xác về kí hiệu nhân tạo và kí hiệu tự nhiên: mây đen báo hiệu sắp mưa, khói báo hiệu có lửa, trời đang nắng mà có mưa thì báo hiệu sắp có cầu vồng,…
d) Có tính hình tuyến
Các kí hiệu phải lần lượt được tạo ra và lần lượt được tiếp nhận, lĩnh hội chứ không thể xuất hiện đồng thời, đây là tính chất ta có thể nhận thấy rõ ràng nhất ở kí hiệu ngôn ngữ Tính hình tuyến chính là sự nối tiếp theo trật tự thời gian, chỉ có một chiều Điều này cũng thể hiện ở dạng ngôn ngữ viết, các kí hiệu chữ viết cũng cần kế tiếp theo hình tuyến, dù có viết theo thứ tự từ trên xuống dưới theo cột dọc và từ phải sang trái như chữ viết Trung Quốc, hay viết theo thứ tự từ trái sang phải theo hàng ngang và từ trên xuống dưới các hệ chữ La tinh Khi tiếp nhận tiếng nói và chữ viết cũng cần theo tính hình tuyến: âm tới âm, từ tới từ, câu tới câu, đoạn tới đoạn,… Chính tính chất này đã dẫn đến một hệ quả quan trọng đối với kí hiệu ngôn ngữ: trong ngôn ngữ không phải chỉ
có bản thân các tín hiệu mà cả thứ tự các tín hiệu cũng đóng vai trò trọng yếu trong việc thể hiện nội dung ý nghĩa: thay đổi nghĩa, làm mất nghĩa, thêm nghĩa biểu cảm, nhấn mạnh ý,… Mặc dù vẫn là những từ ngữ: “nó”, “không”, “bảo”, “đến”, “sao” nhưng khi thay đổi thứ tự thì sẽ có ra những câu khác nhau mang những ý nghĩa biểu cảm khác nhau:
- Sao nó bảo không đến?
- Không sao! Bảo nó đến
- Nó bảo sao không đến?
- Bảo nó: đến không sao
- …
Trang 27Nhờ tính hình tuyến mà văn chương có thể trần thuật, miêu tả diễn biến bất tận, không có giới hạn Song cũng chính vì tính hình tuyến mà ngôn ngữ lại bị hạn chế khi muốn diễn tả những sự kiện xảy ra đồng thời ở những điểm không gian khác nhau e) Có tính hệ thống
Kí hiệu luôn luôn tồn tại trong hệ thống Không có những kí hiệu siêu hệ thống: Đèn đỏ chỉ có ý nghĩa là dừng lại khi nó nằm trong cùng hệ thống với đèn xanh, đèn vàng – những kí hiệu giao thông Khi đặc đèn đỏ ngoài hệ thống trên tất nhiên nó sẽ không có ý nghĩa đó nữa Cũng tương tự như vậy, các từ “ăn”, “uống” chỉ mang nghĩa biết ơn khi nó được đặt trong một hệ thống: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” Nếu đặt nó ngoài bối cảnh của những câu tục ngữ đó, chúng sẽ không thể
có ý nghĩa như trên nữa Tính chất này ngay từ đầu đã được F de Saussure khẳng định:
“Kí hiệu không phải là những yếu tố rời rạc, mà là một tập hợp có tổ chức, có hệ thống, một chỉnh thể bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, tuỳ thuộc lẫn nhau, giá trị của yếu tố này là do sự đồng thời có mặt của yếu tố kia, trong hệ thống, quyết định” [Dẫn theo 22, tr 49]
1.1.1.4 Loại hình kí hiệu
Từ khi xuất hiện, ngành nghiên cứu kí hiệu học đã khiến các nhà khoa học phải bỏ nhiều công sức để tìm cách nhận diện các loại hình kí hiệu Ở đây, chúng tôi sẽ trình bày quan điểm của hai nhà nghiên cứu F D.Saussure và C S Peirce về các loại hình kí hiệu
a) Kí hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Nhìn vào những nhận định của F de Saussure về ngôn ngữ và bộ môn kí hiệu học chúng ta dễ dàng nhận thấy ông đã phân loại kí hiệu thành hai hệ thống kí hiệu: kí hiệu ngôn ngữ và những kí hiệu ngoài ngôn ngữ/ phi ngôn ngữ Đặc điểm của kí hiệu ngôn ngữ vốn đã được trình bày rất nhiều, do đó ở đây chúng tôi chỉ đặc biệt trình bày về kí hiệu phi ngôn ngữ thông qua những nghiên cứu của F de Saussure
Đối với Saussure, kí hiệu phi ngôn ngữ thường là ngôn ngữ của người câm điếc, tín hiệu quân đội, các nghi thức, nghi lễ, phong tục tập quán… Về sau, R Barthes tiếp tục làm rõ hơn về kí hiệu phi ngôn ngữ, theo ông các yếu tố phi ngôn ngữ ấy là hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ, âm thanh âm nhạc, vật thể, các tổ chức phức tạp của tất cả các yếu tố trên, cái tạo thành nội dung của nghi lễ, hội nghị và giải trí công cộng, chính
là những hệ thống có nghĩa Không dừng lại ở đó, bởi kí hiệu luôn tồn tại trong giao tiếp nên kí hiệu phi ngôn ngữ cũng không là ngoại lệ, vì vậy khi giao tiếp phi ngôn ngữ thông qua các kí hiệu phi ngôn ngữ để thực hiện thì các yếu tố như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ tay chân, ăn mặc, môi trường xung quanh… đều có thể được xem là kí hiệu phi ngôn ngữ Thực tế, trong các cuộc trò chuyện, thông tin từ ngôn ngữ chỉ chiếm khoảng 35%,
Trang 28còn 65% thông tin thu nhận từ các kí hiệu phi ngôn ngữ Điều đó cho thấy vị trí cực kì quan trọng của kênh kí hiệu phi ngôn ngữ trong đời sống Dĩ nhiên để tiếp nhận các thông tin từ kí hiệu phi ngôn ngữ ấy người ta đã “phiên dịch” thầm chúng thành ngôn ngữ nội tại trong tâm trí
Đánh giá một cách khái quát những lí luận của Saussure thì “hoạt động giao tiếp
kí hiệu của cá nhân được xem là mô hình ngôn ngữ tự nhiên, những mô hình của các ngôn ngữ tự nhiên thì được xem là mô hình kí hiệu học tổng hợp, còn bản thân kí hiệu học thì được diễn giải như là sự ứng dụng mở rộng các phương pháp ngôn ngữ học vào những đối tượng không thuộc phạm vi ngôn ngữ học truyền thống” [15] Như vậy, khi ngôn ngữ là hệ thống các kí hiệu thì hội họa, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh,… và nhiều hệ thống khác thuộc đời sống tinh thần của con người đều thuộc vào hệ thống kí hiệu ngoài ngôn ngữ
b) Hình hiệu, chỉ hiệu và biểu hiệu
Trong tuyển tập Cách suy luận: một phê phán về các luận cứ (Grand Logic) C S
Peirce đã đưa ra một giải thích về các kí hiệu dựa trên một phân tích kinh nghiệm ý thức
từ quan điểm của ba phạm trù phổ quát của ông Ông bàn luận về ba loại kí hiệu cơ bản: hình hiệu (icons), chỉ hiệu (indices), và biểu hiệu hay kí hiệu (symbols) – và cung cấp nhiều ví dụ Ông vẫn giữ quan điểm (như đã từng trước đó) rằng suy luận phải kéo theo
ba loại kí hiệu, và ông tuyên bố rằng nghệ thuật suy luận là nghệ thuật sắp xếp các kí hiệu, vì thế nhấn mạnh mối quan hệ giữa logic và kí hiệu học
Hình hiệu (icons): là loại kí hiệu trong đó cái biểu đạt có điểm giống hoặc bắt
chước cái được biểu hiện (Điều đó được nhận biết thông qua phương pháp nhìn, nghe, cảm giác, nếm hay ngửi) Nó phát sinh từ cộng đồng, xã hội do họ đồng ý với nhau về
sự đại diện của kí hiệu và có đặc điểm tương tự với mà nó đại diện Hình hiệu tự nó có một kí tự hoặc khía cạnh nhất định, mà đối tượng cũng có (hoặc được cho là có) và cho phép hình hiệu được hiểu như một dấu hiệu ngay cả khi đối tượng không tồn tại
Chỉ hiệu (indices): là loại kí hiệu mà trong đó cái biểu đạt không hề có tính võ
đoán mà có mối liên hệ tương cận thực tế với cái được biểu đạt (thông qua quan hệ nhân quả hoặc quy luật tự nhiên) “Chỉ hiệu giống như triệu chứng” [13, tr 99] “Một kí hiệu chỉ hiệu giống như một mảnh vỡ bị văng ra khỏi vật chủ thể Không giống như hình hiệu (…), một chỉ hiệu nhất thiết đại diện cho một cái gì đó tồn tại Với chỉ hiệu, giữa hai mặt cái biểu đạt và vật được ám chỉ hay quy chiếu có một mối liên hệ có thật” [36, tr 78]
Biểu hiệu (symbols): là mối quan hệ thuần tuý mang tính quy ước hay thông lệ giữa kí hiệu và đối tượng Trong đó, cái biểu đạt không hề điểm giống với cái được biểu đạt; về cơ bản, mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện phải có sự công nhận
Trang 29hoặc phải học tập Ở điểm này thì quan điểm của C S Peirce và Saussure có phần trái ngược nhau Nếu Peirce xem ngôn ngữ là “symbols” và có tính võ đoán thì Saussure lại trách việc đồng nhất “symbols” với ngôn ngữ tự nhiên vì với ông nội hàm nghĩa của từ này không hoàn toàn võ đoán Biểu hiệu còn là sinh vật hoặc đồ vật tượng trưng cho cái
gì trừu tượng, nó là hình tượng của cái gì đó Biểu hiệu trong trường hợp này thường được gọi là biểu tượng
1.1.2 Hình tượng văn học
1.1.2.1 Khái niệm về hình tượng văn học
Hình tượng là một phạm trù mang tính khái quát phản ánh tính hệ thống của các khái niệm, là phạm trù quy luật về đặc trưng thẩm mĩ của văn học nghệ thuật Do đó, tất
cả những phân tích về văn học nghệ thuật đều xuất phát từ vấn đề hình tượng Về bản chất, văn học cũng là một loại hình nghệ thuật mà tư duy nghệ thuật chính là tư duy hình tượng hay nói một cách vắn tắt nghệ thuật là một hệ thống những hình tượng Chính vì
lẽ đó, khi muốn đi vào làm rõ một tác phẩm văn học hiển nhiên chúng ta phải quán triệt được toàn bộ nội hàm và ý nghĩa các hình tượng xuất hiện trong tác phẩm Theo Nguyễn Thiện Giáp hình tượng chính là “một trong những thành phần cơ bản của tri nhận nhân loại, là cấu hình tạo nên nội dung ý niệm trong bộ não Mỗi hình thức biểu đạt đều đi kèm với một hình tượng để cấu tạo nên nội dung ý niệm của nó Các hình thức biểu đạt khác nhau của ngôn ngữ có thể dựa trên những hình tượng khác nhau để cấu thành cùng một tình huống được quan sát, từ đó hình thành nên những nội dung ý niệm khác nhau” [13, tr 202] Gọi là hình tượng vì một mặt, nó sống động và hấp dẫn y như thật nhưng mặc khác, nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của con người, nó không hoàn toàn là sự thật Hình tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời của nhà văn Nó gắn liền với quan điểm, lí tưởng và khát vọng của nhà văn
Hình tượng là thế giới sống do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ Hình tượng văn học giúp phản ánh hiện thực dưới một hình thức cảm tính nhưng vẫn lí tính, cụ thể
mà khái quát, cá biệt nhưng cũng phổ biến để con người cảm thụ, đánh giá, sáng tạo theo những quy luật của cái đẹp Lại Nguyên Ân cũng có một định nghĩa về hình tượng văn học là: “Dạng hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật; cũng gọi là hình tượng ngôn từ… ít tính biểu hiện thị giác so với hình tượng nghệ thuật tạo hình Ngay khi sử dụng đậm đặc các từ mô tả tạo hình cụ thể, cái mà nhà thơ tạo ra vẫn không phải là một diện mạo thị giác về sự vậy mà chỉ là những liên hệ liên tưởng
về ngữ nghĩa gợi ra ảo ác về diện mạo ấy” [1, tr 150] Trong nhận định của Lại Nguyên
Ân cũng có phần đúng nhưng ông lại hoàn toàn phủ nhận tính kí hiệu của hình tượng văn học, bởi theo ông hình tượng văn học mang tính ước lệ nên sẽ thu hẹp và khắc phục tính kí hiệu của bản thân ngôn từ Điều này cần phải được xem xét lại bởi khi nhận định như vậy là Lại Nguyên Ân đang đặt hình tượng văn học dưới góc nhìn của phản ánh
Trang 30luận mà bỏ qua phương diện kí hiệu học của nó Chính vì những thái độ bỏ qua tính kí hiệu của hình tượng văn học như ở trên đã khiến cho hệ thống lí thuyết cũng như thực tiễn lí luận, phê bình văn học ở Việt Nam hay thế giới còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn
và hạn chế cần phải được giải quyết Từ đây, chúng tôi quan niệm hình tượng là kí loại, một loại kí hiệu đặc biệt trong văn chương
1.1.2.2 Đặc điểm của hình tượng văn học
a) Gắn liền với thực tiễn đời sống
Trong tác phẩm nghệ thuật sự phản ánh về hiện thực phải có được một sự tái hiện
có nghệ thuật trong một chất liệu nhất định của một loại hình nghệ thuật cụ thể Như thế, nghệ thuật bao gồm cả tư duy hình tượng và cả hoạt động thực tiễn sáng tạo nghệ thuật, sự nhào nặn thẩm mĩ một chất liệu nhất định Gắn liền với thực tiễn đời sống thế nhưng hình tượng văn học không tái hiện một cách đơn thuần là sao chép y nguyên những hiện tượng có thật mà đó là sự tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua tài năng
và trí tưởng tượng của người nghệ sĩ Thực ra, trước khi được vật chất hóa, hình tượng nghệ thuật đã tồn tại trong óc người nghệ sĩ, nghĩa là đã bao hàm sự sáng tạo trong ý thức tư tưởng Hình tượng nghệ thuật không phải là hình ảnh minh họa của khoa học Hình ảnh minh họa của khoa học tái hiện các hình tượng như chúng vốn có trong hiện thực Hình tượng nghệ thuật bao hàm cả sự phóng đại, cường điệu, cả sự tỉa xén, nhào nặn
b) Có sự thống nhất giữa hai mặt: khách quan và chủ quan; lí trí và tình cảm Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều không chỉ là sự phản ánh thế giới khách quan
mà còn là sự biểu hiện thế giới chủ quan Do vậy, hình tưởng chính là sự thống nhất hữu
cơ của hai mặt chủ quan và khách quan Trong hình tượng nghệ thuật, sự giống với tự nhiên không phải là yêu cầu duy nhất, chưa phải là tất cả tính chân thực Tính chân thực của nghệ thuật còn bao hàm cả việc phản ánh chân thực cảm xúc, cảm nhận và sự đánh giá về thực tại của người sáng tác Trong tác phẩm nghệ thuật, sự biểu hiện nhân cách
cá tính độc đáo của người sáng tạo cũng quan trọng như sự tái hiện chân thực hiện thực đời sống Khái niệm khoa học có thể có hoặc không có chứa đựng sự đánh giá, nhưng hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là bản án đối với hiện thực, là sự đánh giá về hiện thực Trong hình tượng nghệ thuật, hiện thực được phản ánh dưới ánh sáng của một lí tưởng, thẩm mĩ xã hội nhất định, dưới ánh sáng của các phạm trù cái đẹp và cái xấu, cái
bi và cái hài, cái cao cả và cái thấp hèn… nhưng sự đánh giá này không phải là đưa từ ngoài vào, nó ẩn tàng ngay trong bản chất của hình tượng
c) Vừa khái quát, vừa cụ thể
Một công thức khoa học cũng như một hình tượng nghệ thuật đó là sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng và cái chung Một hình tượng nghệ thuật là tổng hòa các phẩm
Trang 31chất, thuộc tính, đặc điểm tiêu biểu cho một hiện tượng nhất định, con người nhất định Hình tượng nghệ thuật tác động trực tiếp vào giác quan của chúng ta Tiếp xúc với hình tượng nghệ thuật là tiếp xúc với những bức tranh những sự vật, những hiện tượng, những cảnh đời, những con người, những số phận riêng lẻ, cụ thể đang sống, vận động trong một tương quan cụ thể Nội dung cụ thể của các tác phẩm là không hề bao giờ lặp lại nhau Ðiều đó có nghĩa là các hình tượng nghệ thuật mang tính cá biệt - kể cả hình tượng phong cảnh tự nhiên và hình tượng nhân vật Sự riêng biệt của các nhân vật không phải chủ yếu ở tên gọi, hình hài diện mạo mà chủ yếu ở tính cách, ở cá tính
Tính cá biệt cụ thể của hình tượng không chỉ biểu hiện ở chỗ miêu tả trực quan có tính chất tạo hình các sự vật và con người riêng biệt mà còn là ở chỗ: nhưng tâm trạng của các nhân vật Nếu như hiện tượng phong phú hơn quy luật, thì tính cụ thể, cá biệt của hình tượng đem đến cho con người sự nhận thức về tính đa dạng, phong phú của hiện tượng Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng nói với độc giả về một vấn đề gì đó của đời sống Bạn đọc thông qua những chi tiết, hình ảnh … của hình tượng để hiểu về đời sống Tính cụ thể, cá biệt của hình tượng, vì vậy hàm chứa ý nghĩa khái quát Trong hình tượng nghệ thuật cái cụ thể và cái khái quát xuyên thấu vào nhau, bổ trợ lẫn nhau; cái khái quát chuyển ra dưới dạng cái cụ thể, cái cụ thể lại chuyển vào cái khái quát, cái này chuyển thành cái kia; cả hai hòa với nhau làm một
1.2 Vấn đề nghiên cứu kí hiệu trong văn chương
1.2.1 Văn chương dưới góc nhìn kí hiệu học
1.2.1.1 Giao tiếp trong văn chương
Khi nói văn chương mang chức năng giao tiếp thì cũng đồng nghĩa với khái niệm văn chương ở ngoài giao tiếp Thực ra, trong nội tại văn chương, tự nó đã là một cuộc giao tiếp Bản chất giao tiếp của văn chương càng được khắc họa rõ nét hơn khi văn chương sử dụng phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Ở một tọa độ khác, nghệ thuật được hiểu như một phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất Do đó, dù được nhận xét dưới nhiều góc độ khác nhau, văn học vẫn mang bản chất giao tiếp rõ nét và đó cũng là một hình thức giao tiếp quan trọng của con người Tựu chung, khi soi chiếu văn học dưới góc nhìn kí hiệu học, bản chất này lại càng bộc lộ và được hiểu một cách triệt để hơn bao giờ hết
Lí thuyết xem văn học là một hình thức giao tiếp bước đầu manh nha trong Nghệ
thuật thi ca của Aristotle nhưng mới chỉ nhắc đến tính mô phỏng, đến Hegel có nhắc
đến giao tiếp nhưng vấn đề này chưa được tác giả thực sự quan tâm Về sau, L Tolstoi
trong Nghệ thuật là gì? đã bước đầu đề cập phương diện giao tiếp của văn học nghệ
thuật Nhưng giao tiếp văn học mới thực sự được làm sáng tỏ trong Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ của Voloshinov vào những năm 20 của thế kỉ XX Tiếp nhận sâu sắc các lí thuyết về văn học và kí hiệu nghệ thuật của các nhà bác học trên thế giới, nhà
Trang 32nghiên cứu Trần Đình Sử là một trong những người đầu tiên nhắc đến bản chất giao tiếp trong văn chương Từ năm 1972, Trần Đình Sử đã nhận định: “Quá trình sáng tạo và giao tế nghệ thuật, hình tượng tồn tại ở ba giai đoạn, dưới các dạng và chất lượng khác nhau: trong cấu tứ của nghệ sĩ; trong tác phẩm nghệ thuật và trong tưởng tượng sáng tạo của người thưởng thức”
Giao tiếp trong văn chương là một hình thức giao tiếp giữa người với người, giữa người với thế giới xung quanh Quá trình giao tiếp đó là sự hội tụ của nhiều yếu tố tham gia; do đó, so với các hình thức giao tiếp khác, giao tiếp trong văn chương có lịch sử lâu đời hơn cả Trước nhất, đó là hình thức giao tiếp đan cài giữa các mối quan hệ: “tôi” với
“tôi”, “tôi” với “nó”, “tôi” với “chúng ta”… Quan hệ “tôi” –“tôi” trong tác phẩm văn chương là quan trọng nhất, bởi lẽ không chỉ những tác phẩm tự bạch cho chính mình để
tự hiểu về mình mà cả những lời văn nói về người khác nhưng ở một góc độ nào đó cũng đang chính là để bộc lộ cho mình Ngữ cảnh cũng là một yếu tố đặc biệt tác động bởi nó làm tác phẩm thay đổi liên tục Và xuất phát từ lí thuyết cơ bản nhất, văn học sử dụng
kí hiệu đặc biệt – ngôn từ, hình tượng - để chuyển tải nội dung nên đây là dạng giao tiếp đặc biệt
1.2.1.2 Ngôn ngữ văn chương là một hệ thống kí hiệu và tác phẩm văn chương chính là một siêu kí hiệu
Trước đây, F de Saussure đã làm sáng tỏ bản chất kí hiệu của ngôn ngữ và trong các nghiên cứu khác sau này, ông cũng đã cho thấy ngôn ngữ chính là hệ thống tín hiệu tiêu biểu nhất Tuy nhiên đó mới là ngôn ngữ tự nhiên Khi đi vào tác phẩm văn chương, ngôn ngữ đã được tái mã hóa để trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Mà theo đó, cả ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật là hai tầng bậc khác nhau Đó là cấu trúc hai tầng bậc kí hiệu: tầng thứ nhất bao gồm ngôn ngữ tự nhiên và các ngôn ngữ nhân tạo khác, tầng thứ hai bao gồm các ngôn ngữ nghệ thuật (gồm văn học, âm nhac, kiến trúc, hội họa, điện ảnh…) Hai tầng cấu trúc này có sự gắn kết mật thiết và phụ thuộc vào nhau Nói như vậy có nghĩa là, văn học nghệ thuật không đơn thuần sử dụng ngôn ngữ tự nhiên
mà sử dụng một loại ngôn ngữ đặc biệt khác được xây chồng lên ngôn ngữ tự nhiên và được xem như là hệ thống thứ hai Đặc điểm này được lí giải cụ thể trong lí thuyết kí hiệu học của R Barthes và chức năng thi học của R Jacobson khi bàn về hệ thống kí hiệu học biểu thị và kí hiệu học hàm thị trong ngôn ngữ văn chương
Trong tác phẩm văn chương, ngôn ngữ tự nhiên được biểu đạt ở đơn vị âm vị, hình
vị, câu còn đơn vị biểu đạt của ngôn ngữ nghệ thuật lại là motip Không chỉ vậy, khi quan sát ngôn ngữ tự nhiên ta thấy rằng nó được cấu tạo từ hai trục: ngữ đoạn và kết hợp; còn với ngôn ngữ nghệ thuật thì coi trọng trục liên tưởng hay trục lựa chọn Thêm một điểm khác biệt nữa là ở ngôn ngữ tự nhiên việc biểu lộ thông tin được thể hiện trực tiếp trong khi đó để tìm ra được thông tin ẩn chứa trong ngôn ngữ nghệ thuật đôi khi là
Trang 33một quá trình khó khăn Như vậy, trong giao tiếp văn chương, ngôn ngữ chính là một thành tố quan trọng nhưng đó không phải là ngôn ngữ tự nhiên mà là ngôn ngữ nghệ thuật - thứ ngôn ngữ được xây dựng để phục vụ cho những mục đích nghệ thuật nhất định
Sở dĩ văn bản nghệ thuật được xem là một ngôn ngữ bởi lẽ bản thân nó có tham gia vào đời sống giao tiếp và được sử dụng như một cơ chế để giải thích các yếu tố trong tác phẩm Trong khi đó, bất cứ một hệ thống nào phục vụ cho những mục đích giao tiếp giữa hai hay nhiều cá thể đều được xác định như một ngôn ngữ Từ đó, nếu văn bản nghệ thuật là một ngôn ngữ thì tác phẩm văn chương chính là một siêu kí hiệu, nó chính
là kí hiệu của một cá nhân độc đáo, là kí hiệu của đời sống văn hóa Như vậy, một tác phẩm văn chương từ khi ra đời đã chứa đựng một mã kí hiệu riêng biệt được tái mã hóa
từ ngôn ngữ tự nhiên Người tiếp nhận khi đi tìm hiểu văn bản nghệ thuật đó cũng chính
là đang giải mã kí hiệu mà nhà văn đã chuyển tải vào trong tác phẩm
1.2.2 Tính kí hiệu của hình tượng văn học
1.2.2.1 Hình tượng văn học như là một kí hiệu giao tiếp “siêu ngôn ngữ”
Hình tượng văn học khi đưa vào các loại hình kí hiệu theo quan điểm của F de Saussure khiến không ít các nhà nghiên cứu phải bối rối; bởi, hình tượng văn học vừa
là kí hiệu ngôn ngữ (hình tượng được xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ) nhưng đồng thời nó cũng mang những tính chất của kí hiệu phi ngôn ngữ Áp dụng cách phân loại của C S Peirce ở đây cũng không khả quan hơn vì hình tượng vừa mang những đặc điểm của hình hiệu, vừa mang những đặc điểm của chỉ hiện và đồng thời cũng mang một vài màu sắc của biểu hiệu/ biểu tượng Do đó, hình tượng văn học được xem là một dạng kí hiệu đặc biệt Để định dạng cho loại kí hiệu này, Mai Thị Hồng Tuyết đã có một cách nhận định khá chính xác mà chúng tôi xin được sử dụng trong bài viết của mình
đó là kí hiệu “siêu ngôn ngữ”
Khi nhắc đến khái niệm về “siêu ngôn ngữ”, nhiều nhà nghiên cứu hiểu nó đơn giản là một ngôn ngữ được dùng để nói về một ngôn ngữ khác Tuy nhiên, chúng ta cần
có sự phân biệt cẩn thận cái ngôn ngữ mà chúng ta nói tới, tức ngôn ngữ đối tượng và cái ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để nói về ngôn ngữ đối tượng - siêu ngôn ngữ Sự lẫn lộn giữa ngôn ngữ đối tượng và siêu ngôn ngữ rất dễ xảy ra Khi nói về “siêu kí hiệu”, M Bakhtin nhấn mạnh đến vấn đề xem xét ngôn ngữ trong thực tiễn giao tiếp, đối thoại (khác với dạng ngôn ngữ được trừu xuất khỏi đời sống giao tiếp thường được xem là đối tượng của ngôn ngữ học) Ở đây chúng ta nên hiểu kí hiệu “siêu ngôn ngữ”
là dạng kí hiệu được sử dụng trong giao tiếp Nó vượt lên trên ngôn ngữ thông thường
Vì thế, hình tượng văn học chính là một kí hiệu siêu ngôn ngữ bởi nó được xây dựng dựa trên nền tảng của ngôn ngữ nghệ thuật - dạng ngôn ngữ được mã hóa trên cơ sở
Trang 34ngôn ngữ tự nhiên và khi kí hiệu ấy đến với độc giả thì nó lại khoác lên mình diện mạo của kí hiệu phi ngôn ngữ
Chính hình tượng văn học đã làm cho những suy nghĩ trừu tượng của con người
có được một cái vỏ vật chất, có hình dáng, kết cấu đồng thời những kí hiệu đã được quy ước của con người đã giúp hình tượng văn học có sự vận động thay vì một cái vó ngôn ngữ rỗng tuếch Hình tượng văn học có khả năng biểu đạt những tình cảm và tư tưởng sâu xa mà bản thân ngôn ngữ thông thường không thể phản ánh được Như vậy, “hình tượng văn học còn là một kí hiệu “siêu ngôn ngữ” nên khi tiếp cận loại kí hiệu này, cần phải đứng trên quan niệm chỉnh thể Các yếu tố ngôn ngữ đơn lẻ chỉ là các nhân tố trong một hệ thống Do đó, nếu dừng lại ở các yếu tố đơn lẻ, chúng ta sẽ không thể hiểu được
hình tượng thậm chí còn có thể hiểu sai về hình tượng” [36, tr 111]
1.2.2.2 Hình tượng văn học trong giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ
Hình tượng là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ của con người Lí thuyết giao tiếp cho biết có hai hình thức giao tiếp: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Trong lí thuyết thông tin, truyền thông khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ (phi lời nói) thường không bao gồm nghệ thuật, bởi ở đó, yếu tố phi lời nói chỉ là yếu tố phụ trợ, bổ sung cho giao tiếp ngôn ngữ, chứ không có ý nghĩa độc lập Thật vậy theo quan niệm đó phạm vi giao tiếp phi lời nói bao gồm các hành vi biểu cảm thân thể, âm lượng, âm chất của lời, tổ chức không gian, môi trường giao tiếp, khứu giác, xúc giác,… Có người xác định giao tiếp phi lời nói gồm ba loại hình: tư thế tĩnh, tư thế động, các biểu hiện tình thái, nội dung cũng tương tự như cách hiểu thứ nhất Với Iu M Lotman, “trong cơ chế văn hóa sự giao tiếp được thực hiện tối thiểu theo hai kênh có tổ chức khác nhau.” Đó là “kênh tạo hình và kênh ngôn từ có quan hệ mật thiết với nhau” [39]
Hai kênh liên hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một Do vậy lĩnh vực giao tiếp tạo hình phi lời nói cần được hiểu rộng hơn như là giao tiếp hình tượng, tạo hình, bao gồm cả giao tiếp với chính mình, và với thế giới xung quanh bằng hoạt động của các giác quan và trí tưởng tượng, liên tưởng, trực giác, bằng con mắt, lỗ tai bên trong
Mà trong lịch sử phát triển của con người giao tiếp tạo hình, nhịp điệu, âm nhạc có trước hoặc cùng lúc với ngôn ngữ, tư duy và sử dụng kí hiệu Khi đã có ngôn ngữ văn học càng phát huy kênh giao tiếp phi ngôn từ bằng ngôn từ, chính điều đó tạo nên tính đặc thù của văn học Ở đây ngôn từ đã chuyển mã ngôn ngữ tự nhiên để thành ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng ở đây là hình tượng ngôn ngữ, khác hẳn với hình tượng hội họa, nhảy múa
Thi ca là sự miêu tả bằng ngôn ngữ tự giao tiếp phi ngôn ngữ của chủ thể thông qua kí hiệu ngoại giới được tổ chức bằng ngôn ngữ Người ta giao tiếp bằng các hình ảnh được cảm nhận bằng tri giác, tình cảm, trực giác, chứ không bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ chỉ là phương tiện được sử dụng để tổ chức lại mà thôi Như vậy ngôn ngữ (văn bản) là cái biểu đạt của hình tượng, đến lượt mình hình tượng chuyển thành cái biểu đạt
Trang 35của tư tưởng, tình cảm Theo Iu M Lotman, ngôn ngữ và văn học nghệ thuật là hai ngôn ngữ ở hai cấp độ khác nhau Ngôn ngữ là lớp kí hiệu tính thứ nhất, còn văn học thuộc lớp kí hiệu tính thứ hai Lĩnh vực giao tiếp này tất yếu bao gồm toàn bộ nghệ thuật
Kí hiệu ngoại tại có thể là ngôn ngữ mà cũng có thể chỉ là màu sắc, hình khối, đường nét, có thể là thân thể người được hiểu như là kí hiệu, tức là một vật có giá trị thay thế một cái khác Theo L.Tolstoi nghệ thuật không phải là sự thể hiện tư tưởng, vẻ đẹp thần bí; không phải là trò chơi phát tiết sinh lực thừa; không phải là thể hiện tình cảm ra ngoài; không phải sự tự hưởng thụ, mà chủ yếu là phương tiện giao tiếp của con người cần thiết đối với cuộc sống và đối với sự vận động đi đến cái tốt đẹp của mỗi người và của nhân loại nhằm thống nhất tất cả mọi người vào trong những tình cảm nhất định [42] Trong quan niệm giao tiếp của Tolstoi hàm chứa phương diện tự giao tiếp, trong
đó giao tiếp phi ngôn ngữ có một giá trị độc lập tương đối hệ trọng
Hiển nhiên phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp ngôn ngữ với phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ của nghệ thuật có sự tương đồng mà cũng có vài khác biệt nhất định Các biểu đạt phi ngôn ngữ của cơ thể người, của nét mặt, âm thanh… cũng giống như các biểu đạt kí hiệu của tự nhiên như bình minh, hoàng hôn, chồi, nụ, hoa, lá… vốn
là những hiện tượng vật chất, sẵn có trong tự nhiên và trong đời sống Tính chất cụ thể, gợi cảm và biểu nghĩa của chúng do lặp đi lặp lại nhiều lần trong kinh nghiệm mà hình thành và được thừa nhận (ước định tục thành) như những kí hiệu giao tiếp Nghệ thuật
mô phỏng, sử dụng các kí hiệu tự nhiên ấy, biến chúng thành hình tượng, làm thành ngôn ngữ biểu đạt của mình Hình tượng văn học do đó là một văn bản dệt bằng các kí hiệu tự nhiên theo những quy tắc nhất định Bản thân “mô phỏng” chỉ là một phương thức tạo ra kí hiệu hình tượng, ngoài ra còn có so sánh, phúng dụ, biểu tượng, tượng trưng, nghịch dị, liên hệ, ghép nối để các kí hiệu tự nhiên có khả năng nói nhiều hơn chính bản thân chúng… Hình tượng là sự mô phỏng đời sống nhưng không phải bản thân đời sống mà chỉ mang những điểm giống đời sống nên nó mới là hình tượng Do
đó, hình tượng là một sáng tạo ảo, chỉ để nhìn ngắm và biểu nghĩa Dù vấp phải nhiều
sự tranh cãi trong suốt một thời gian dài nhưng cho đến nay theo Iu M Lotman hình tượng và ngôn ngữ vẫn là hai kênh giao tiếp đã khẳng định hình tượng (tạo hình) và ngôn ngữ tồn tại cùng nhau Sự đối lập ngôn ngữ với hình tượng trên con đường đi tìm đặc trưng văn học là thiếu cơ sở, rút gọn đặc trưng văn học vào một mình ngôn ngữ cũng
là một quan điểm còn phải xem xét lại
1.2.3 Phương thức thể hiện của hình tượng văn học từ góc độ kí hiệu thẩm mĩ
Những phương thức thể hiện hình tượng văn học không thể tùy tiện, theo cách thức riêng của từng nhà văn mà phải mang tính phổ quát Vì hình tượng văn học trong giới thiết kí hiệu học vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ trong nghệ thuật văn chương, nhưng
cơ bản chúng đều có cấu tạo từ hai phương thức chính là ẩn dụ và hoán dụ
Trang 361.2.3.1 Ẩn dụ
Tham khảo Từ điển văn học Việt Nam của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (đồng chủ biên) thì ẩn dụ về cơ bản là “Phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái kia, mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi một cách kín đáo” [14, tr 11] Cũng nêu lên định nghĩa về “Ẩn dụ” song Lại
Nguyên Ân trong cuốn 150 Thuật ngữ văn học còn mở rộng ra ở việc “phân biệt ẩn dụ
với tư cách một hiện tượng thường thấy ở phạm vi ngôn ngữ, với ẩn dụ theo nghĩa rộng, như là kiểu hình tượng liên tưởng do trí tưởng tượng tạo ra ở những tình huống nhất định và nhất là với mục đích biểu cảm thẩm mĩ” [1, tr 11] Chúng tôi khá tán thành với quan điểm trên của Lại Nguyên Ân, bởi từ thời nguyên thủy của mọi nền văn minh – ngôn ngữ, khi ý thức thần thoại bắt đầu tan rã và sự tri giác về thế giới bắt đầu xuất hiện,
ẩn dụ đã nảy sinh và tồn tại mạnh mẽ hơn bất cứ lí thuyết nào Do đó, khi muốn đi vào khám phá bất cứ nền tảng cơ bản nào thuộc nghệ thuật không thể không vận dụng phương thức ẩn dụ
Theo định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp ẩn dụ (metaphor) là “sự chuyển đổi tên
gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh Người ta thường coi ẩn dụ là hiện tượng sử dụng có tính văn chương một hình thức ngôn ngữ” [13, tr 49] Với quan điểm đó, ẩn dụ được hình thành từ mối quan hệ tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng; người nói lấy tên cái này để gọi cái kia dựa trên nét tương đồng đó Một
ẩn dụ - cũng giống ngôn ngữ - bao hàm hai yếu tố là cái ẩn dụ và cái được ẩn dụ Tuy vậy, trên bề mặt lời nói hay chữ viết thì cái được ẩn dụ đều không xuất hiện trực tiếp
Do đó, ẩn dụ chính là sự so sánh ngầm Vì đặc điểm trên, bản thân ẩn dụ là một lối nói
có tính hàm ý, ví von, không nêu rõ đối tượng và có phần bóng gió, xa xôi Ẩn dụ từ đó
mà mang tính khái quát cao và được dùng rất rộng rãi trong các phong cách chức năng ngôn ngữ Ẩn dụ thường làm tăng ý nghĩa thẩm mĩ, tăng sức biểu cảm cho câu văn Có thể nói, ẩn dụ là biện pháp tu từ đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật và là một phương thức biểu đạt quan trọng cho THTM
Theo Bùi Minh Toán [35], với phương thức ẩn dụ, để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ, tác giả cần trải qua một quá trình với nhiều công đoạn:
- Quan sát, nhận thức, cảm nhận, phát hiện ra đối tượng hàm chứa sự tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định thể hiện
- Lựa chọn và sử dụng từ ngữ (THTM) gọi tên đối tượng trong hiện thực
- Chuyển hóa tín hiệu ngôn ngữ thành THTM: giữ nguyên cái biểu đạt, nhưng chuyển cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ thành cái được biểu đạt của THTM (ý nghĩa thẩm mĩ)
Không chỉ dựa trên khái niệm của sự “so sánh” hay “thay thế”, LA Richard và Max Black đã phát triển một lí thuyết gọi là lí thuyết tương tác ẩn dụ Theo họ, bản chất
Trang 37của ẩn dụ nằm ở sự tương tác giữa một biểu thức ẩn dụ và cái ngữ cảnh trong đó nó được dùng Do vậy, hiện nay khi ứng dụng ẩn dụ vào nghiên cứu các nhà nghiên cứu
cần phân biệt rạch ròi ẩn dụ ý niệm hay ý niệm ẩn dụ (metaphorical concepts) với ẩn dụ ngôn ngữ (linguistic metaphor) hay biểu thức ẩn dụ (metaphorical expressions) càng không thể nhầm lẫn với ẩn dụ quy ước (conventional metaphors) [12]
1.2.3.2 Hoán dụ
Hoán dụ (metonymy) là “hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy” [13, tr 204] Với khái niệm này, ta có thể kết luận một cách sơ bộ hoán dụ là một phương thức tu từ được thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của từ, dựa trên quan hệ logic giữa chúng Giống với ẩn dụ, hoán dụ gồm hai yếu tố là cái được hoán dụ và cái dùng để hoán dụ Trong đó, cái được hoán dụ không xuất hiện trực tiếp trên bề mặt của ngôn bản và ngôn cảnh
Hoán dụ tu từ hiện nay đã rất phổ biến Ta có thể kể ra các loại hoán dụ tu từ chủ yếu như: cải số (quan hệ số lượng với số lượng), cải dung (quan hệ giữa vật chứa và vật
bị chứa), cải danh (quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ chung), hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, vật sở thuộc và chủ thể, nguyên nhân và kết quả Ngoài ra, hoán dụ còn mang tính chất hình ảnh nên có khả năng làm tăng giá trị biểu cảm cho ngôn ngữ biểu tượng Nó có thể thay thế cho những khái niệm trừu tượng và nói những điều phức tạp sâu sắc bằng cái giản đơn, dễ nhận ra Hoán dụ nói bằng đặc điểm của đối tượng và khắc họa đặc điểm đó, khiến cho sự miêu tả gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc, người nghe Bên cạnh hoán dụ tu từ, ngày nay giới nghiên cứu nói chung còn đặc biệt quan tâm đến một hình thức hoán dụ khá mới mẻ đó là hoán dụ ý niệm
Cũng theo cuốn Từ điển khái niệm Ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp đã nhắc đến hoán
dụ ý niệm như “là một thao tác tri nhận” Không dừng lại ở đó, khi trích dẫn quan điểm của hai nhà khoa học F Ungerer và H.J Schmid, chúng ta còn nhận diện được các tính chất của hoán dụ ý niệm như là tính ý niệm về bản chất; có thể được quy ước hóa đồng thời là phương tiện mở rộng thêm tiềm lực của ngôn ngữ…
Cả hoán dụ và ẩn dụ đều “bắt nguồn từ khả năng đa dạng của từ vựng trong chức năng định danh” [38, tr 604] Đó cũng là hai phương thức chủ yếu để xây dựng THTM
từ tín hiệu ngôn ngữ (những tên gọi các đối tượng từ hiện thực khách quan hay từ vốn văn hóa hoặc trí tưởng tượng của con người) Nhưng trong thực tiễn sáng tạo, các tác giả thường thực hiện phối hợp hai phương thức trên với một số biện pháp nghệ thuật thuộc các lĩnh vực khác nhau trong ngôn ngữ: các biện pháp về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Với sự phối hợp như thế, các ngôn ngữ biểu tượng trong một tác phẩm văn chương
sẽ mang lại được nhiều giá trị và hiệu quả thẩm mĩ cao
Trang 381.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cầm
1.3.1 Nhà thơ – nhà nghệ thuật Nguyễn Trọng Tạo
1.3.1.1 Vài nét về cuộc đời Nguyễn Trọng Tạo
Khi nhắc đến cái tên Nguyễn Trọng Tạo bất cứ ai cũng sẽ nghĩ ngay đến một “nghệ
sĩ đa tài”; bằng vốn sống phong phú bởi một đời phiêu bạt ông không chỉ là nhà thơ nổi tiếng, mà còn là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả Thuộc lớp nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong số nhiều nhà thơ với nỗ lực đổi mới cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Nguyễn Trọng Tạo được đánh giá là một trong ba cây bút cách tân đáng chú ý gồm: Nguyễn Trọng Tạo, Ý Nhi,
Dư Thị Hoàn Không chỉ vậy, ông còn nổi danh trong lĩnh vực âm nhạc
Nguyễn Trọng Tạo tên thật là Nguyễn Trọng Tạo với các bút danh như Cẩm Ly, Nguyễn Vũ Trọng Thi, Bảo Chi Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947 trong một gia đình nho học ở làng Trường khê, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Yếu tố gia đình và quê hương là nền tảng đặc biệt quan trọng trong việc hun đúc, hình thành và nuôi dưỡng hồn thơ Nguyễn Trọng Tạo Cả cuộc đời gắn bó với nghiệp thơ ca, ông được bạn bè trong giới ví như “người tận lực cho thơ”
Năm 1969 ông tham gia quân đội, thuộc Đoàn 22, Quân khu 4, rồi làm Đội trưởng Đội tuyên truyền văn hóa Đoàn 22B, Trưởng đoàn văn công xung kích Sư đoàn 341B Tiếp đó, vào năm 1976 tác giả Nguyễn Trọng Tạo được Tổng cục Chính trị điều về Hà Nội tham gia Trại viết văn quân đội rồi vào học Đại học viết văn Nguyễn Du khóa I, từ đây ông gắn bó và hoạt động bền bỉ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Đến năm 1982, Nguyễn Trọng Tạo trở thành Trưởng ban biên tập Nhà Văn hóa Quân khu 4 Năm 1988 ông quay về làm công tác biên tập xuất bản tại Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên Năm 1990, tác giả Nguyễn Trọng Tạo cùng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà văn Nguyễn Quang Lập sáng lập tạp chí Cửa Việt, làm biên tập và phụ trách mĩ thuật tạp chí này bộ đầu tiên gồm 17 số Năm 1997, Nguyễn Trọng Tảo trở thành Thư kí Tòa soạn tạp chí Âm nhạc thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam Ông còn là họa sĩ minh họa và trình bày
mĩ thuật tạp chí Cửa Việt, tạp chí Âm nhạc, báo Thơ, tác giả măng-sét tạp chí Sông Hương, Sông Lam, Hồng Lĩnh, báo Thơ… Năm 2000-2005, Nguyễn Trọng Tạo là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam, kiêm Trưởng ban biên tập báo Thơ thuộc báo Văn Nghệ (2003-2004) Ông còn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam; hội viên Hội Nhà báo Việt Nam
Ngày 7 tháng 1 năm 2019, vào lúc 19h50', Nguyễn Trọng Tạo qua đời tại Bệnh viện Bạch Mai, ở tuổi 72 vì căn bệnh tai biến mạch máu não và ung thư phổi Sự ra đi của ông đã để lại rất nhiều nỗi đau và sự nuối tiếc không chỉ đối với gia đình ông mà còn đối với những người có sự mến mộ đặc biệt với các tác phẩm của ông
Trang 391.3.1.2 Sự nghiệp Nguyễn Trọng Tạo
Ở Nguyễn Trọng Tạo năng khiếu nghệ thuật được bộc lộ từ rất sớm Năm 14 tuổi, Nguyễn Trọng Tạo sáng tác bài thơ đầu tiên và bài hát đầu tiên trong sự nghiệp của mình được ông sáng tác vào năm 20 tuổi Cũng trong độ tuổi 20 (năm 1974) ông xuất bản tập
thơ đầu có tên Tình yêu sáng sớm (in chung cùng Nguyễn Quốc Anh) Nguyễn Trọng Tạo còn là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng dao cho người lớn (1994- 1999), Nương thân (1999), Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc) (1981),… Những bài hát Làng Quan Họ quê tôi, Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang; thêm vào đó là tác giả Biểu tượng Ngày thơ Việt Nam, Cờ thơ…
Bằng sự nhạy bén của người cầm bút và tài năng thiên bẩm, những sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo luôn tiệm cận với hoàn cảnh xã hội ở từng thời kì Trước năm 1975, các sáng tác thơ viết về chủ đề chiến tranh của Nguyễn Trọng Tạo có sự tìm tòi, phát hiện những điểm sáng của cảm xúc Sau năm 1975, đặc biệt là những năm đất nước đầy biến động khi đứng trước công cuộc đổi mới, Nguyễn Trọng Tạo rất nhanh chóng nhập cuộc Thơ ông đã có một bước chuyển quan trọng từ tính chất sử thi sang trữ tình, đó là
bước chuyển từ các trường ca Con đường của những vì sao và Tình ca người lính sang các tập thơ Sóng thuỷ tinh và Gửi người không quen mà bản lề là Tản mạn thời tôi sống
Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Khác hẳn những nhà thơ không hiểu chính mình đang viết gì, Tạo không viết những câu thơ bí hiểm, không viết những câu thơ tự đánh
đố mình và đánh đố bạn đọc để làm ra vẻ mình là một nhà thơ có tư duy cao Thơ Tạo thể hiện tư duy của chính Tạo, không phải tư duy vay mượn của người khác” [23, tr 15] Bước vận động trong tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo nằm trong sự chuyển mình chung của văn học sau 1975, khẳng định tên tuổi của ông
Bằng sự cống hiến không mệt mỏi cho văn học nghệ thuật và ngòi bút không ngừng sáng tạo trong gần 60 năm, Nguyễn Trọng Tạo đã xuất bản hơn 20 đầu sách gồm thơ, văn, nhạc, phê bình, tiểu luận Theo đó, ông vinh dự mang về cho mình nhiều giải thưởng danh giá; đặc biệt, năm 2012, Nguyễn Trọng Tạo đã nhận được Giải thưởng Nhà nước
về Văn học Nghệ thuật với tập thơ Đồng dao cho người lớn và Trường ca Con đường
của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc)
Trên hành trình thơ mình, Nguyễn Trọng Tạo đã gặt hái được những thành công nhất định nhưng thơ anh lúc nào cũng phảng phất tâm sự buồn của một tâm hồn quá nhạy cảm trước cuộc sống Nhìn vào chặng đường sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo, ta
có thể thấy được những màu sắc rất riêng nơi ông, nhiều khi “nó cứ mấp mé bờ vực giữa thực và hư, giữa đời và đạo, giữa cái mong manh và vĩnh cửu, giữa khoảnh khắc và trường tồn, giữa có thể và không thể, giữa chỉn chu và phá cách, giữa nhất thời và mai hậu và như thế nó làm nên một Nguyễn Trọng Tạo tài hoa trẻ trung, một Nguyễn Trọng Tạo thu hút, một Nguyễn Trọng Tạo ‘Ham chơi’” [43] Gần 300 bài thơ, ba bản
Trang 40trường ca và hàng loạt bài viết phê bình nghiên cứu văn học đã đủ để xếp Nguyễn Trọng Tạo vào hàng ngũ tác gia văn học đương đại
Nội dung tư tưởng trong sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo luôn phản ánh chân thực mọi khía cạnh cuộc sống của con người đương đại, chủ đề và đề tài trong thơ ông cũng hết sức phong phú, đa dạng Với chủ trương đưa thơ về gần với cuộc sống đời thường hơn ông đã không ngừng cho ra đời những tác phẩm mang đậm tính chất thời sự Dù nhận về nhiều ý kiến trái nhiều song đến cuối cùng Nguyễn Trọng Tạo vẫn đĩnh đạc đi trên con đường mà ông đã chọn
1.3.2 Nhà thơ Hoàng Cầm
1.3.2.1 Cuộc đời Hoàng Cầm
Nhà thơ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại
xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình bên cạnh bút danh Hoàng Cầm (rất nổi tiếng) thì ông còn có một số bút danh khác như Bằng Việt,
Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, đây cũng chính là thời điểm bút danh Hoàng Cầm ra đời và gắn chặt với sự nghiệp thi ca của ông
Năm 1944, trong khi Thế chiến thứ hai đang diễn ra căng thẳng, gia đình Hoàng Cầm về lại quê gốc Thuận Thành Ở đây ông tham gia hoạt động thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh Đến Cách mạng tháng Tám, ông về Hà Nội thành lập đoàn kịch Đông Phương dưới sự chỉ đạo của Ủy ban vận động văn hóa toàn quốc Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, đoàn kịch diễn một thời gian ngắn rồi giải thể Tháng 8 -1947, ông nhập ngũ, vào Vệ quốc quân ở Chiến khu 12; cũng trong cuối năm
đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch Năm 1955do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, ông được giao nhiệm vụ làm Trưởng đoàn kịch nói Cuối năm 1955, Hoàng Cầm về Hội văn nghệ Việt Nam làm công tác xuất bản Vào tháng 10 năm 1957, ông là một trong số những hội viên tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam và được bầu làm ban chấp hành Sau đó, ông tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm Cũng chính
vì vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” này Hoàng Cầm phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm
1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi Năm 1982 ông bị bắt giam vào Hỏa lò vì tập
thơ Về Kinh Bắc, đến năm 1983 được tha về mà không có phiên tòa nào xử tội chống
Đảng của ông Hậu quả của việc này là ông mắc bệnh trầm cảm