1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022

70 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội năm 2022
Tác giả Bùi Văn Xuân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Nghĩa
Trường học Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Y Đa Khoa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 122,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. Một số khái niệm cơ bản (11)
      • 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về Tăng huyết áp (11)
    • 1.2. Cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp (13)
      • 1.2.1. Tăng huyết áp nguyên phát (13)
      • 1.2.2. Tăng huyết áp thứ phát (14)
    • 1.3. Ảnh hưởng của tăng huyết áp đối với tim mạch (14)
    • 1.4. Một số yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp (15)
      • 1.4.1. Tuổi (15)
      • 1.4.2. Giới (15)
      • 1.4.3. Chủng tộc (16)
      • 1.4.4. Béo phì (16)
      • 1.4.5. Rối loạn lipid máu (17)
      • 1.4.6. Thuốc lá (17)
      • 1.4.7. Yếu tố di truyền (17)
      • 1.4.8. Stress (17)
      • 1.4.9. Bệnh đái tháo đường (18)
    • 1.5. Thực trạng bệnh tăng huyết áp (18)
      • 1.5.1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới (18)
      • 1.5.2. Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam (18)
    • 1.6. Thực trạng kiến thức và thực hành phòng bệnh tăng huyết áp (20)
    • 1.7. Một số giải pháp kiểm soát huyết áp tại cộng đồng (21)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu (23)
      • 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu (23)
      • 2.1.2. Địa điểm (23)
      • 2.1.3. Thời gian (23)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (23)
      • 2.2.2. Phương pháp chọn mẫu (23)
    • 2.3. Phương pháp thu thập số liệu (23)
    • 2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (25)
    • 2.6. Đạo đức trong nghiên cứu (25)
    • 2.7. Hạn chế sai số và các biện pháp khắc phục sai số (25)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (26)
    • 3.2. Tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi (27)
    • 3.3. Kiến thức chung về bệnh tăng huyết áp (29)
    • 3.4. Thực hành dự phòng bệnh tăng huyết áp (31)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (37)
    • 4.1. Thông tin chung về bệnh tăng huyết áp trên đối tượng nghiên cứu (37)
    • 4.2. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi (38)
    • 4.3. Kiến thức về bệnh tăng huyết áp (41)
    • 4.3. Thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp (44)
  • KẾT LUẬN (46)

Nội dung

TỔNG QUAN

Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về Tăng huyết áp

1.1.1.1 Khái niệm về huyết áp:

Huyết áp là áp lực máu trong động mạch, được tạo ra khi tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch Áp lực cao nhất trong động mạch khi tim co bóp được gọi là huyết áp tâm thu, trong khi áp lực thấp nhất khi tim giãn ra là huyết áp tâm trương Huyết áp đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông máu, cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho các tế bào, duy trì hoạt động sống của cơ thể Tuy nhiên, khi huyết áp tăng cao, chức năng này có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.

1.1.1.2 Định nghĩa tăng huyết áp:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp động mạch bình thường ở người lớn được xác định là 120mmHg cho huyết áp tâm thu và 80mmHg cho huyết áp tâm trương Tăng huyết áp được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu đạt từ 140mmHg trở lên và huyết áp tâm trương từ 90mmHg trở lên.

140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg hoặc đang sử dụng thuốc chống tăng huyết áp")

1.1.1.3 Phân loại tăng huyết áp.

Bảng 1 Phân loại tăng huyết áp (theo WHO/JNC VI) [2, 26].

Mức độ HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương

Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 90-99

Tăng huyết áp giai đoạn II 160-179 100-109

Tăng huyết áp giai đoạn III ≥180 ≥110

Để đạt được huyết áp mục tiêu, bệnh tăng huyết áp (THA) cần được điều trị liên tục và có thể kéo dài suốt đời Trong quá trình điều trị, việc sử dụng thuốc đúng cách giúp trị số huyết áp trở về mức bình thường.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp

1.2.1 Tăng huyết áp nguyên phát

Chiếm tới 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau có thể gây THA [1, 2].

- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm.

Tăng hoạt tính thần kinh giao cảm ở người trẻ tuổi có thể dẫn đến tình trạng tim hoạt động mạnh hơn, với tăng cung lượng và tần số tim Sự co thắt của hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận làm gia tăng sức cản ngoại vi, từ đó dẫn đến huyết áp động mạch ổn định.

- Vai trò của hệ RAA : Renin - Angiotensin - Aldosteron

Renin là một enzym được tiết ra bởi các tế bào cạnh cầu thận và các mô khác khi có các yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành động mạch đến của tiểu cầu thận có vai trò nhận cảm áp lực của động mạch này Khi áp lực giảm, các tế bào cạnh tiểu cầu thận sẽ tiết renin vào máu để điều hòa huyết áp và duy trì áp lực lọc tại tiểu cầu thận Nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ thể beta adrenecgic là những yếu tố kích thích chính trong quá trình tiết renin.

Khi renin được tiết ra, nó chuyển đổi α 2 globulin từ gan thành angiotensinozen I, một peptid gồm 10 acid amin Peptid này sau đó được tuần hoàn đến phổi, nơi nó bị cắt bỏ 2 acid amin nhờ men convertingenzym, tạo thành angiotensin II với 8 acid amin còn lại Angiotensin II có hoạt tính sinh học quan trọng.

* Kích thích vỏ thượng thận tăng tiết Aldosteron gây tăng giữ nước, giữ muối Aldosteron ức chế bài tiết renin.

* Có hoạt tính co mạch mạnh gấp 100 - 200 lần adrenalin và noradrenalin.

* Bị angiotensinaza phân huỷ để tạo thành một số hoạt chất trung gian là angiotensin III.

Angiotensin II là một hormone quan trọng lưu hành trong hệ tuần hoàn, có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống động mạch Nó không chỉ làm tăng huyết áp mà còn góp phần vào việc gia tăng thể tích dịch trong cơ thể, từ đó là nguyên nhân chính gây ra tăng huyết áp động mạch.

- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh THA [2, 4]

Natri đóng vai trò quan trọng trong bệnh tăng huyết áp (THA) cả trong nghiên cứu thực nghiệm và điều trị Tubian (1954) cho thấy rằng lượng natri và nước trong vách động mạch tăng rõ rệt ở những người và động vật mắc THA Braunwold (1954) nhấn mạnh rằng natri ảnh hưởng đến cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát tại hai vị trí khác nhau.

Stress có thể gia tăng ở những người tiêu thụ nhiều natri, thường do thói quen ăn uống trong gia đình Khi đó, khả năng lọc của thận được cải thiện, nhưng đồng thời cũng dẫn đến việc tái hấp thu nước tăng lên, làm tăng thể tích máu.

Màng tế bào có sự gia tăng thẩm thấu di truyền đối với natri và canxi vào trong tế bào cơ trơn của mạch máu, dẫn đến tình trạng tăng tính co mạch và tăng sức cản ngoại vi, gây ra bệnh tăng huyết áp (THA).

Prostaglandin E2 và kalikrein ở thận có vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp Khi các chất này bị ức chế hoặc thiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hạ calci máu và tăng calci niệu, từ đó gây ra tăng huyết áp.

1.2.2 Tăng huyết áp thứ phát

Khoảng 5% đối tượng nghiên cứu THA có nguyên nhân rõ ràng đó là :

Bệnh thận có thể dẫn đến tăng huyết áp thứ phát do tổn thương nhu mô thận, gây ra sự sản xuất chất co mạch không phải renin Tình trạng này làm giảm sản xuất các chất giãn mạch cần thiết như prostaglandin hoặc bradykinin, đồng thời giảm khả năng bất hoạt các chất giãn mạch toàn thân Hơn nữa, thận cũng kém thải trừ natri, dẫn đến tình trạng giữ natri trong cơ thể, góp phần làm tăng huyết áp.

Tăng huyết áp (THA) có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm dị dạng động mạch thận, cường aldosteron, hội chứng Cushing, u tuỷ thượng thận, hẹp eo động mạch chủ, cũng như THA ở phụ nữ mang thai, người sử dụng estrogen, và những người dùng corticoid kéo dài Ngoài ra, cường tuyến giáp cũng là một yếu tố gây tăng huyết áp.

Ảnh hưởng của tăng huyết áp đối với tim mạch

Bệnh tăng huyết áp (THA) thường phát triển từ từ và không có dấu hiệu rõ ràng, khiến nhiều người bệnh chủ quan và không chú ý Khi bệnh tiến triển, nó có thể gây hại cho nhiều cơ quan quan trọng như tim, não và thận, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như chảy máu não, suy tim, suy thận và nhồi máu cơ tim, đồng thời làm tăng nguy cơ vữa xơ động mạch THA hiện nay được coi là một hội chứng phức tạp, liên quan đến rối loạn chuyển hóa, cấu trúc tim mạch và hoạt động của hệ thần kinh giao cảm Tai biến tim mạch là một trong những mối đe dọa lớn nhất liên quan đến THA, và nhiều nghiên cứu đang được thực hiện nhằm giảm thiểu tỷ lệ tai biến này.

Nghiên cứu Framingham chỉ ra rằng tăng huyết áp (THA) là nguyên nhân chính gây suy tim, dẫn đến tổn thương các cơ quan như dày thất trái, bệnh mạch vành, cơn đau ngực, nhồi máu cơ tim và suy tim Theo số liệu từ Trung tâm thống kê y tế Quốc gia Hoa Kỳ và các nghiên cứu khác, huyết áp cao làm tăng tỷ lệ tử vong và đột tử do bệnh tim mạch.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, đặc biệt là tai biến mạch máu não và bệnh động mạch vành, đã giảm nhờ vào việc điều trị tăng huyết áp (THA) hiệu quả THA khiến tim, đặc biệt là thất trái, phải làm việc dưới áp lực cao, dẫn đến việc tăng co bóp để duy trì tuần hoàn Để thích nghi với áp lực này, thất trái dần dày lên, nhưng khi không còn khả năng thích ứng, tim sẽ bị giãn và giảm khả năng tống máu, dẫn đến suy tim Tình trạng suy tim có thể ở giai đoạn bù, khi tim vẫn đáp ứng được chức năng, nhưng khi suy tim mất bù, tim không còn khả năng hoạt động hiệu quả, kèm theo các triệu chứng như phù tim, tức ngực và khó thở.

Một số yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, đặc biệt là từ 55 tuổi trở lên Cụ thể, tỷ lệ THA ở người dưới 39 tuổi là 6.04%, từ 40-49 tuổi là 10.6%, từ 50-59 tuổi là 21.5%, từ 60-69 tuổi là 30.6%, và từ 70 tuổi trở lên là 47.4% Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh ở người từ 73 tuổi trở lên đạt 65.5%, tức là cứ ba người trên 75 tuổi thì có hai người bị THA Nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào (2019) chỉ ra rằng tỷ lệ người cao tuổi trong cộng đồng ngày càng tăng và THA thường gặp ở nhóm tuổi này Sự lão hóa làm giảm tính giãn nở của động mạch do thay đổi cấu trúc và chức năng, cùng với việc giảm nhạy cảm của các thụ thể beta, dẫn đến tăng hoạt động của thần kinh giao cảm, gây co mạch và làm tăng huyết áp.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) gia tăng theo độ tuổi: ở tuổi 45, cứ 20 người thì có một người bị THA; ở tuổi 55, tỷ lệ này là một trên bảy; và ở độ tuổi trên 65, có đến một phần ba số người mắc bệnh.

Tần suất tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường gia tăng theo độ tuổi Theo nghiên cứu NHANES (2008) về tỷ lệ, nhận thức và điều trị tăng huyết áp tại Mỹ, tỷ lệ này ở nhóm tuổi 18 - 39 là 7.3%, tăng lên 32.6% ở nhóm tuổi 40 - 59, và đạt 66.3% ở nhóm tuổi trên 60.

Nghiên cứu cho thấy nam giới ở lứa tuổi trung niên và thanh niên có nguy cơ cao hơn mắc tăng huyết áp (THA) so với nữ giới, với tỷ lệ lần lượt là 18% và 14.5% Tuy nhiên, sau 60 tuổi, nữ giới lại có xu hướng mắc bệnh cao hơn Các công trình nghiên cứu toàn cầu đều chỉ ra rằng tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn nữ giới Theo nghiên cứu của Hayes và Faler tại bệnh viện Mayo Clinic-Minnesota (1998), sự khác biệt này có thể liên quan đến yếu tố gen và sinh lý học giới tính Đặc biệt, estrogen có tác dụng bảo vệ tim và sự thiếu hụt estrogen nội sinh ở tuổi già làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh mạch vành trong thời kỳ mãn kinh Do đó, nữ giới thường có huyết áp thấp hơn nam giới khi còn trẻ, nhưng đến giai đoạn tiền mãn kinh, huyết áp của hai giới trở nên tương đương.

Tăng huyết áp (THA) liên quan đến chủng tộc và dân tộc thiểu số, khi cộng đồng di cư thay đổi về đời sống và văn hóa, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng biến động theo Tỷ lệ THA có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm chủng tộc và dân tộc.

Người Mỹ gốc Châu Phi có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) cao nhất so với các cộng đồng khác, bao gồm cả người Hispanic và người da trắng, với THA xuất hiện sớm hơn và mức huyết áp trung bình cũng cao hơn Theo Hiệp hội Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ, đàn ông da đen có nguy cơ tử vong vì bệnh tim cao hơn 20% so với người da trắng, đồng thời họ cũng đứng đầu thế giới về tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao.

Ngưỡng BMI để chẩn đoán thừa cân và béo phì đã được Tổ chức Y tế Thế giới và Viện Sức khoẻ Quốc gia Hoa Kỳ xác định rõ ràng, với thừa cân là BMI từ 25 đến 30 kg/m² và béo phì là BMI trên 30 kg/m² Nghiên cứu cho thấy người Châu Á có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch và tỷ lệ mỡ cao hơn so với người phương Tây, ngay cả khi có cùng mức BMI.

Năm 2000, Tổ chức y tế thế giới đã đề xuất ngưỡng BMI trong chẩn đoán thừa cân và béo phì cho người Châu Á như sau :

Béo phì làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý nghiêm trọng, trong đó người béo phì có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 1,7 lần, tăng huyết áp gấp 2 lần và đái tháo đường týp 2 gấp 3 lần so với người có cân nặng bình thường Đái tháo đường, tăng huyết áp và béo phì thường đi kèm trong hội chứng chuyển hoá, và khi một cá nhân mắc cả ba tình trạng này, nguy cơ gặp phải các biến chứng tim mạch không chỉ tăng gấp đôi mà còn tăng theo cấp số nhân.

Nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) chỉ ra rằng rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng huyết áp và béo phì là những yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng tỷ lệ bệnh xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường, trong đó rối loạn lipid máu là yếu tố thường gặp nhất.

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) về tình trạng và các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội cho thấy thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây ra bệnh xơ vữa động mạch Đặc biệt, việc ngừng hút thuốc lá mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với các phương pháp điều trị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.

Người ta thấy tính chất gia đình của bệnh THA, bố hoặc mẹ bị bệnh này thì trong số con cái cũng có nhiều người bị mắc bệnh.

Nghiên cứu của Dương Hồng Thái (2011) cho thấy rằng những người có tiền sử gia đình bị tăng huyết áp (THA) có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, cụ thể là 27.1%, so với 17.8% ở nhóm không có tiền sử gia đình Điều này chỉ ra rằng nguy cơ mắc THA ở nhóm có tiền sử gia đình cao gấp 1.7 lần.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010), tỷ lệ tăng huyết áp (THA) có liên quan rõ rệt đến yếu tố gia đình, với 48.8% trường hợp có người thân mắc bệnh Cụ thể, tỷ lệ THA ở bố mẹ chiếm 31.56%, trong khi đó, anh chị em ruột có tỷ lệ THA là 17.24%.

Khi căng thẳng thần kinh, hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh mẽ, giải phóng adrenalin và nor-adrenalin, dẫn đến tăng cường co bóp tim, nhịp tim nhanh hơn, co mạch và tăng huyết áp Điều này có thể gây ra cơn tăng huyết áp kịch phát ở những người mắc bệnh tăng huyết áp Ngoài ra, môi trường có tiếng ồn lớn và liên tục cũng góp phần gây stress và làm tăng huyết áp.

Các nghiên cứu khác cho thấy số người bị THA do stress (23.5%) cao hơn những người không bị stress (18.5), nguy cơ THA cao gấp 1.4 lần ở những người stress.

Bệnh đái tháo đường thường đi kèm với tăng huyết áp (THA), với nghiên cứu cho thấy khoảng 30-50% bệnh nhân đái tháo đường cũng bị THA, và những bệnh nhân này thường có tình trạng béo phì Ngược lại, khoảng 1/3 bệnh nhân mắc THA có kết quả xét nghiệm đường huyết cao.

Tỷ lệ huyết áp cao (THA) ở những người có đường máu cao đạt 62.7%, trong khi chỉ 36.6% ở những người có mức đường máu bình thường Điều này cho thấy nguy cơ mắc THA ở những người có đường máu cao gấp 2.9 lần so với người có mức đường máu bình thường.

Thực trạng bệnh tăng huyết áp

1.5.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới

Tình trạng tăng huyết áp (THA) đang trở nên phổ biến và gia tăng trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam Mọi người, từ trẻ em đến người trẻ tuổi, đều có nguy cơ mắc phải tình trạng này.

Theo nghiên cứu tổng hợp của nhóm nghiên cứu quốc tế, vào năm 2018, huyết áp tâm thu trung bình toàn cầu là 127.0 mmHg ở nam và 122.3 mmHg ở nữ, trong khi huyết áp tâm trương trung bình là 78.7 mmHg ở nam và 76.7 mmHg ở nữ Tỷ lệ tăng huyết áp toàn cầu là 24.1% ở nam và 20.1% ở nữ Từ 1975 đến 2018, huyết áp trung bình giảm rõ rệt ở các nước thu nhập cao, chuyển từ nhóm có huyết áp cao nhất xuống thấp nhất thế giới Huyết áp cũng giảm ở phụ nữ tại nhiều khu vực, nhưng có sự gia tăng ở Đông Á, Đông Nam Á và một số khu vực khác Vào năm 2015, Trung và Đông Âu, tiểu vùng Sahara châu Phi và Nam Á ghi nhận huyết áp cao nhất Mặc dù tỷ lệ tăng huyết áp giảm ở các nước thu nhập cao, số người trưởng thành mắc tăng huyết áp đã tăng từ 594 triệu năm 1975 lên 1.13 tỷ năm 2018, chủ yếu ở các nước thu nhập thấp và trung bình.

1.5.2 Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam

Tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, từ 1% vào năm 1960 lên 11.2% vào năm 1992, tức là tăng hơn 11 lần Theo điều tra năm 2008, tỷ lệ THA ở người từ 25-64 tuổi đạt 25.1% Đến năm 2015, 18.9% người trưởng thành từ 18-69 tuổi bị THA, với 23.1% là nam giới và 14.9% là nữ giới Đặc biệt, ở độ tuổi 18-25, tỷ lệ THA đã tăng từ 15.3% năm 2010 lên 20.3% năm 2018, cho thấy cứ 5 người trưởng thành trong độ tuổi 25-64 thì có 1 người mắc bệnh này.

Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ chính gây ra các biến cố tim mạch nghiêm trọng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim và suy tim Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự năm 1996 chỉ ra rằng THA chiếm 59.3% nguyên nhân gây tai biến mạch máu não, dẫn đến khoảng 15,990 trường hợp liệt và tàn phế hàng năm Theo điều tra dịch tễ học năm 2003 do Viện Tim mạch và Tổ chức Y tế thế giới thực hiện, THA là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại các tỉnh phía bắc Việt Nam, chiếm 10.2%, trong khi bệnh van tim do thấp chỉ chiếm 0.8%.

Trong năm 2012, bệnh tim mạch chiếm 13.4% gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam, với đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong Theo nghiên cứu năm 2009, tỷ lệ tử vong do bệnh mạch máu não đạt 16.6% ở nam và 18% ở nữ, trong khi thiếu máu cơ tim chiếm 3.7% và 3.5% tương ứng Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017 cho thấy bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất, chiếm 33% tổng số ca tử vong.

Tăng huyết áp và các bệnh tim mạch đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu và tại Việt Nam, trở thành nguyên nhân chính gây gánh nặng bệnh tật và tử vong Do đó, cần thiết phải triển khai các giải pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả Nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào đã chỉ ra tầm quan trọng của việc này.

Theo nghiên cứu năm 2019 về thực trạng tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 18 - 69 tuổi tại ba phường nghiên cứu đạt 33.5%, với huyết áp tâm thu trung bình là 123.28 ± 15.74 mmHg và huyết áp tâm trương là 77.22 ± 9.90 mmHg Nghiên cứu đã xác định 11 yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp, bao gồm nhóm tuổi, giới tính, thừa cân - béo phì, tỷ số vòng eo/vòng mông, hút thuốc lá, thói quen ăn mỡ động vật, đái tháo đường, tăng cholesterol máu, bệnh lý tim mạch, nhận biết về tăng huyết áp và theo dõi thành phần dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày Nghiên cứu của Đỗ Minh Tuấn và cộng sự (2013) cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở độ tuổi lao động tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa là 24.1%, trong đó 11.6% được phát hiện trước điều tra và 88.4% trong điều tra Nhóm tuổi 51 - 60 có tỷ lệ cao nhất (36.1%) và tỷ lệ tai biến mạch não cao nhất (20.53%) Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở nam giới là 32.1% và ở nữ giới là 20.9% Nghiên cứu của Lại Đức Trường tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên (2010) ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp là 17.8%, trong đó nam giới chiếm 24.4%.

Hỷ, Thái Nguyên, tỷ lệ mắc THA ở những người 25-64 tuổi là 17.7%, nam giới là20.3%, nữ giới là 15.4% [12].

Thực trạng kiến thức và thực hành phòng bệnh tăng huyết áp

Tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam đang gia tăng, với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc (2010) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đạt 37.6%, trong đó nam giới chiếm 48.5% và nữ giới 32.4% Mặc dù có sự quan tâm, nhưng chỉ 32.5% người dân có kiến thức tốt về phòng chống bệnh và chỉ 28.7% thực hành phòng bệnh hiệu quả Điều này cho thấy kiến thức và thực hành phòng ngừa tăng huyết áp của cộng đồng còn hạn chế, cùng với sự thiếu hiểu biết về bệnh, biến chứng và phương pháp điều trị.

Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) trong cộng đồng đang gia tăng nhanh chóng, với tỷ lệ THA ở vùng thành thị đạt 22.7%, cao hơn nhiều so với vùng nông thôn chỉ 12.3% Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 9.7 triệu người dân không biết mình bị THA, hoặc đã mắc bệnh nhưng chưa được điều trị, hoặc có điều trị nhưng huyết áp vẫn chưa trở về mức bình thường.

Theo điều tra dịch tễ năm 2002 của Viện Tim mạch Việt Nam, có đến 77% người dân hiểu sai về bệnh tăng huyết áp (THA) và các yếu tố nguy cơ liên quan Hơn 70% trường hợp không biết cách phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh THA Đặc biệt, kiến thức về bệnh THA ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều so với khu vực thành phố.

Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2011), có tới 68% bệnh nhân không biết mình mắc bệnh tăng huyết áp, và tình trạng này thường chỉ được phát hiện tình cờ trong quá trình khám bệnh Nguyễn Song Hào (2020) cũng cho biết rằng tỷ lệ người bệnh không nhận thức về bệnh tăng huyết áp chiếm 45.6% Thực tế cho thấy, việc người dân đi kiểm tra sức khỏe định kỳ và phát hiện bệnh tăng huyết áp là rất hiếm, hầu hết chỉ khi có triệu chứng mới đến khám.

Nghiên cứu tại Huế cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi là 38.9% tại xã Hương Xuân và 40.5% tại xã Hương Vân, trong khi tỷ lệ kiến thức về bệnh chỉ đạt 30.5% và việc thực hành uống thuốc hàng ngày là 50.8% Tại Long An, tỷ lệ người cao tuổi mắc THA lên đến 52.0%, nhưng chỉ có 40.2% có kiến thức tốt về phòng bệnh, và chỉ 10.6% có khả năng kiểm soát huyết áp hiệu quả Do đó, việc kiểm soát THA trong cộng đồng còn thấp, dẫn đến 60% người cao tuổi phải nhập viện điều trị nội, tim mạch do biến chứng của THA, với tỷ lệ nhập viện chiếm 15.0%.

Kiến thức của người dân về phòng chống bệnh tăng huyết áp (THA) vẫn còn hạn chế, với khoảng 45% chưa biết cách phòng bệnh Nghiên cứu của Đào Ngọc Quân (2015) cho thấy 13% người dân tin rằng hút thuốc không ảnh hưởng đến huyết áp và tim mạch, trong khi 12% cho rằng ăn mặn không có tác động đến huyết áp Đáng chú ý, 29.5% người dân cũng nghĩ rằng ăn mặn không liên quan đến tăng huyết áp Thêm vào đó, nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh (2014) tại Hải Dương chỉ ra rằng 66% người dân không nhận biết các biểu hiện của THA và 80% không biết các nguy cơ gây ra bệnh này.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Song Hào (2020), chỉ có 14.5% người dân nhận thức được nguy cơ tăng huyết áp và đột quỵ não Bên cạnh đó, kiến thức về cách xử trí đầu tiên khi gặp tình huống tăng huyết áp tại nhà chỉ đạt 17.2%, cho thấy thực hành dự phòng tăng huyết áp trong cộng đồng còn rất hạn chế.

Một số giải pháp kiểm soát huyết áp tại cộng đồng

Tăng huyết áp trong cộng đồng có nhiều yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu bia, ăn mặn, ăn nhiều chất béo, ít vận động, căng thẳng, rối loạn lipid máu và tiểu đường Hầu hết các yếu tố này có thể được kiểm soát nếu người dân hiểu biết và biết cách phòng tránh Kiểm soát huyết áp hiệu quả cần kết hợp truyền thông và theo dõi chỉ số huyết áp thường xuyên tại cơ sở y tế Ngoài ra, việc tập luyện thể dục thể thao từ 30-60 phút mỗi ngày cũng mang lại lợi ích đáng kể cho người bị tăng huyết áp.

Chế độ ăn uống lành mạnh, giàu chất xơ và rau quả, cùng với việc giảm thiểu dầu mỡ, chất béo và cholesterol, sẽ nâng cao sức khỏe Giảm lượng muối hàng ngày có thể giúp người bị tăng huyết áp giảm từ 2-8mmHg Bên cạnh đó, việc ngừng hút thuốc và hạn chế uống rượu bia là rất cần thiết, vì đây là những yếu tố kích thích làm tăng huyết áp nhanh chóng.

Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng chống tăng huyết áp (THA) cho người dân Việc này giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ gây ra THA và cách phòng tránh hiệu quả, từ đó cải thiện sức khỏe cộng đồng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Là những người có độ tuổi từ 41 tuổi trở lên không phân biệt nam và nữ.

Tiêu chuẩn lựa chọn cho nghiên cứu bao gồm những người đồng ý tham gia, có địa chỉ cư trú tại hai xã Phú Châu và Vật Lại Đối tượng nghiên cứu có thể là những người bị tăng huyết áp hoặc không, và không mắc chứng suy giảm trí tuệ.

- Tiêu chuẩn loại trừ: Là những người không đồng ý tham gia, có tuổi thấp hơn hoặc bằng 40 tuổi.

Tại 02 xã Phú Châu và Vật Lại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang tại thời điểm tháng 2/2023

Công thức tính cỡ mẫu n được xác định với Z (1- αα/2) = 1,96, tương ứng với hệ số tin cậy ở mức ý nghĩa 0,05 Độ chính xác được đặt ở ngưỡng 0,05, trong khi tỷ lệ mắc tăng huyết áp p được ước tính là 0,5, dẫn đến q = 1 - p = 0,5 Khi thay thế các giá trị vào công thức, chúng tôi tính toán được cỡ mẫu n là 384, và sau đó làm tròn lên thành 400 người cho nghiên cứu này.

Đối với nghiên cứu định lượng, phương pháp chọn mẫu được áp dụng là ngẫu nhiên hệ thống Tất cả các đối tượng nghiên cứu được lập danh sách, với khoảng cách k được tính là 5 (từ tổng số 4000 người trong độ tuổi từ 40 trở lên tại 02 xã) Do đó, trong danh sách 2000 người từ mỗi xã, cứ cách 5 người sẽ chọn 1 người, dẫn đến việc chọn ra 200 người cho nghiên cứu tại mỗi xã.

Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi đã được soạn sẵn.

2.4 Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá:

+ Thông tin chung và tỷ lệ tăng huyết áp - Tuổi, giới, dân tộc

- Tỷ lệ THA theo giới, Tỷ lệ THA theo tuổi

- Tỷ lệ THA theo trình độ học vấn

+ Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh THA - Kiến thức về nguyên nhân bệnh THA

- Kiến thức về dự phòng bệnh THA

- Kiến thức về điều trị bệnh THA

- Mức độ kiến thức về bệnh THA

- Thực hành về dự phòng các biến chứng của THA

- Thực hành về địa điểm và sử dụng thuốc điều trị THA

- Mức độ thực hành phòng bệnh THA

- Bảng 2: phân loại THA theo WHO/JNC VII và Bộ Y tế [1, 2]

HA tâm thu HA tâm

Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 90-99

Tăng huyết áp giai đoạn II 160-179 100-109

Tăng huyết áp giai đoạn III ≥180 ≥110

* Quy trình đo huyết áp [2]

- Cho người những người đến khám ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh.

- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước đó 2 giờ.

Khi đo huyết áp, người bệnh nên ngồi trên ghế tựa với cánh tay duỗi thẳng trên bàn, đảm bảo nếp khuỷu ngang mức với tim Ngoài việc đo ở tư thế ngồi, có thể thực hiện đo ở tư thế nằm Đặc biệt, đối với người cao tuổi hoặc bệnh nhân đái tháo đường, việc đo huyết áp ở tư thế đứng cũng rất quan trọng để xác định có hiện tượng hạ huyết áp tư thế hay không.

Để đo huyết áp chính xác, cần sử dụng huyết áp kế thủy ngân hoặc điện tử loại đo ở cánh tay, với bề dài bao đo tối thiểu 80% và bề rộng tối thiểu 40% chu vi cánh tay Băng quấn phải đủ chặt, với bờ dưới của bao đo cách nếp lằn khuỷu 2cm Đảm bảo vị trí máy đo hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim để có kết quả chính xác.

Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, với khoảng cách giữa các lần đo là 1-2 phút Nếu có sự chênh lệch trên 10mmHg giữa hai lần đo, hãy thực hiện lần đo thứ ba sau khi nghỉ ngơi ít nhất 5 phút Lần đo đầu tiên nên được thực hiện ở cả hai tay để đảm bảo độ chính xác.

Huyết áp tâm thu được xác định khi nghe tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff), trong khi huyết áp tâm trương được ghi nhận khi không còn nghe thấy tiếng đập nữa (pha V).

- Trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter huyết áp).

- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 120/80) và thông báo cho người đo [6].

* Đánh giá Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp:

Dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai không được tính điểm Tổng điểm kiến thức được phân loại thành 3 mức độ: Kém (dưới 60 điểm), Trung bình (từ 60 đến 79 điểm) và Tốt (trên 80 điểm).

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Trên phần mềm thống kê Stata, Excel.

Đạo đức trong nghiên cứu

- Đảm bảo tính đạo đức trong nghiên, những đối tượng nào đồng ý nghiên cứu thì mới điều tra, phỏng vấn.

- Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra cho học sinh biết khi cần thiết để tạo thêm tinh thần hợp tác cùng làm việc.

Điều tra được thực hiện trên những người tham gia tự nguyện, đảm bảo tôn trọng và không ép buộc Sau khi phỏng vấn, thông tin sẽ được truyền đạt để cung cấp thêm kiến thức về bệnh tăng huyết áp (THA) cho người cao tuổi, giúp họ hiểu rõ hơn về căn bệnh này.

Hạn chế sai số và các biện pháp khắc phục sai số

- Đối với sai số ngẫu nhiên: Chọn đủ cỡ mẫu và lực mẫu.

- Đối với sai số hệ thống:

+ Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời.

+ Người phỏng vấn được tập huấn kỹ và thống nhất cách thu thập số liệu.+ Các phiếu được làm sạch tại chỗ, đóng dấu của địa phương.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi Độ tuổi n (400) Tỷ lệ %

Nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ khám cao nhất, chiếm 36.25%, tiếp theo là nhóm 51-60 với 27.5%, và nhóm 41-50 chiếm 21.5% Nhóm tuổi trên 70 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm 14.75%.

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu là nam giới đến khám chiếm tỷ lệ 53.25% cao hơn nữ giới chiếm 46.75%.

Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa danh Địa danh n (400) Tỷ lệ %

Đối tượng nghiên cứu cho thấy tỷ lệ khám bệnh tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì cao hơn so với xã Phú Châu, với 54.25% ở Vật Lại và 45.75% ở Phú Châu.

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Tuổi n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % cộng

Nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ người tham gia nghiên cứu cao nhất, với nam giới chiếm 35.21% và nữ giới chiếm 37.43% Ngược lại, nhóm tuổi trên 70 có tỷ lệ thấp nhất, với 13.62% nam và 16.04% nữ Nhóm tuổi 51-60 cũng đáng chú ý trong nghiên cứu này.

Tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi

Bảng 3.5 Tỷ lệ tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tỷ lệ tăng huyết áp ở đối tượng nghiên cứu (chỉ số HA từ

140/90mmHg trở lên) chiếm tỷ lệ cao 36.75% Không tăng huyết áp (chỉ số HA dưới 140/90mmHg) chiếm 63.25%.

Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Số người THA/tổng số

Nhận xét: Số người ở nhóm tuổi 61-70 bị tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 39.31% Tuy nhiên nhóm tuổi >70 cũng bị THA tương đối cao chiếm

38.98% Thấp nhất là nhóm tuổi 41-50 chiếm 32.56%.

Bảng 3.7 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo tuổi (từ 140/90mmHg trở lên) trong tổng số người tăng huyết áp Độ tuổi n Tỷ lệ %

Nhận xét: Trong những người tăng huyết áp thì nhóm tuổi 61-70 bị tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất 38.78% Nhóm tuổi trên 70 chiếm tỷ lệ thấp nhất

15.65% Nhóm tuổi 51-60 bị tăng huyết áp chiếm 26.53%.

Bảng 3.8 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới ở đối tượng nghiên cứu

Giới n (400) Số người mắc THA Tỷ lệ %

Trong nghiên cứu về tỷ lệ mắc tăng huyết áp, tỷ lệ ở nam giới đạt 40.85%, trong khi đó tỷ lệ này ở nữ giới là 32.09%.

Bảng 3.9 Phân loại mức độ tăng huyết áp theo độ

Phân độ THA n (400) Tỷ lệ %

Số liệu cho thấy tỷ lệ người mắc tăng huyết áp độ 1 chiếm 18.25%, cao nhất trong các mức độ, trong khi đó, tỷ lệ người bị tăng huyết áp độ 2 là 14% và tăng huyết áp độ 3 có tỷ lệ thấp hơn.

4.5% Số người có chỉ số huyết áp bình thường 63.25%.

Bảng 3.10 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo địa danh của đối tượng nghiên cứu Địa danh n (400) Số người mắc

Nhận xét: Xã Vật Lại có tỷ lệ tăng huyết áp là 37.79%, xã Phú Châu có tỷ lệ tăng huyêt áp là 35.52%.

Kiến thức chung về bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.11 Kiến thức đúng về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh

Nguyên nhân gây tăng Kết quả huyết áp n Tỷ lệ %

Hút thuốc lá, thuốc lào 267 66.75

Béo phì 218 54.5 Ăn nhiều thức ăn mặn 190 47.5

Có yếu tố di truyền trong gia 206 51.5 đình Ăn uống nhiều đồ ngọt 178 44.5 Ăn nhiều thức ăn có mỡ động 153 38.25 vật

Uống nhiều rượu, bia 221 55.25 Ít vận động 167 41.75

Nhiều căng thẳng (lo lắng, 128 32.00

Stress). huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất 66.75% Uống nhiều rượu bia chiếm 55.25%, béo phì chiếm 54.5%, tuổi cao chiếm 52.25%.

Bảng 3.12 Mức độ Kiến thức về bệnh THA Mức độ kiến thức Đối tượng nghiên cứu n Tỷ lệ% p

Nhận xét: Mức độ kiến thức tốt về bệnh THA của đôí tượng nghiên cứu ở mức thấp 31.25% Mức trung bình chiếm tỷ lệ cao 47.5% và mức kém chiếm

21.25%, có ý nghĩa thống kê với p < 0.05

Bảng 3.13 Kiến thức đúng về các biến chứng của bệnh THA

Kiến thức về biến chứng Kết quả của tăng huyết áp n Tỷ lệ %

Nhồi máu cơ tim 74 18.5 Đau thắt ngực 86 21.5

Kiến thức về tai biến của tăng huyết áp trong các đối tượng nghiên cứu còn hạn chế, với hiểu biết về biến chứng tâm phế mãn chỉ đạt 12.75% và biến chứng suy tim là 17.25% Trong khi đó, tỷ lệ hiểu biết về tai biến mạch máu não cao nhất, lên tới 61.25%, tiếp theo là đau thắt ngực với 21.5% Tuy nhiên, sự hiểu biết về biến chứng đột quỵ gây liệt nửa người và liệt toàn thân chỉ đạt 20.75%.

Thực hành dự phòng bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.14 Thực hành đúng về xử trí khi bị THA của đối tượng nghiên cứu n Tỷ lệ %

Nghỉ ngơi tại chỗ 156 39.00 Đi làm bình thường 84 21.00

22 Đi khám bệnh ở cơ sở y tế 318 79.50 Đến phòng khám tư khám và điều trị 52 13.00

Mua thuốc tự điều trị 67 16.75

Không cần xử trí gì 41 10.25

Thực hành xử trí khi bị tăng huyết áp trong đối tượng nghiên cứu cho thấy 79.5% người tham gia đi khám tại các cơ sở y tế Chỉ có 10.25% cho rằng không cần xử trí gì, trong khi 21.0% cho biết bệnh không ảnh hưởng và vẫn làm việc bình thường Đáng chú ý, 53.75% người trả lời sẽ gọi y tế thôn xóm khi gặp tình trạng tăng huyết áp, và 13.0% chọn đến phòng khám tư nhân để khám và điều trị.

Bảng 3.15 Thực hành đúng về dự phòng bệnh tăng huyết áp

Thực hành về Kết quả dự phòng bệnh THA n %

Không hút thuốc lá, thuốc lào 217 54.25 Ăn ít mỡ động vật 198 49.50

Thể dục thể thao hàng ngày 240 60.00 Ăn nhiều thịt lợn 57 14.25

Giảm căng thẳng tinh thần 176 44.00 Ăn mặn nhiều 38 9.50 Điều trị các bệnh mãn tính 191 47.75

Khám bệnh kiểm tra sức khỏe 313 78.25

Theo khảo sát, 78.25% đối tượng nghiên cứu thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp Ngoài ra, 61.25% duy trì lối sống điều độ và 60.0% tập thể dục hàng ngày Đáng chú ý, chỉ có 9.50% người cho rằng ăn mặn không ảnh hưởng đến bệnh tăng huyết áp, trong khi tỷ lệ người ăn nhiều thịt lợn chỉ đạt 14.25%.

Bảng 3.16 Thực hành về địa điểm điều trị và sử dụng thuốc điều trị THA Đối tượng Điều trị và sử dụng thuốc Điều trị tại cơ sở y tế 357 89.25

Sử dụng thuốc đều hàng ngày 370 92.50

Sử dụng thuốc theo chỉ định 352 88.00

Kiểm tra HA thường xuyên 336 84.00

Thực hành điều trị và sử dụng thuốc cho bệnh nhân tăng huyết áp tại cơ sở y tế là rất quan trọng, với tỷ lệ 89.25% người nghiên cứu thực hiện đúng Việc sử dụng thuốc hàng ngày đạt 92.5%, trong khi 88% người bệnh tuân thủ chỉ định của bác sĩ Ngoài ra, có 16.25% người tham gia nghiên cứu chọn khám và điều trị tại cơ sở y tế tư nhân.

Bảng 3.17 Mức độ thực hành phòng bệnh THA của người dân Đối tượng Đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Mức độ thực hành phòng bệnh THA của đối tượng nghiên cứu ở mức tốt chiếm 46.25%, mức trung bình chiếm 39,00% và mức kém vẫn còn chiếm14.75%.

BÀN LUẬN

Thông tin chung về bệnh tăng huyết áp trên đối tượng nghiên cứu

Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá 400 người trên 40 tuổi về bệnh tăng huyết áp tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2022, nhóm nghiên cứu thấy rằng:

Trong nghiên cứu, nhóm đối tượng từ 61-70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,25%, trong khi nhóm trên 70 tuổi chỉ chiếm 14,75% Các nhóm tuổi khác bao gồm 51-60 tuổi chiếm 27,5% và 41-50 tuổi chiếm 21,5% Tỷ lệ này phản ánh đúng tình hình phân bố dân cư tại hai xã của huyện Ba Vì, với số lượng người từ 61-70 tuổi cao hơn so với các nhóm tuổi 41-50 và 51-60, do những người trong độ tuổi này thường đi làm xa Nghiên cứu cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Chu Hồng Thắng.

Nghiên cứu về tình trạng tăng huyết áp (THA) và rối loạn chuyển hóa ở người cao tuổi tại xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên năm 2008 cho thấy 45.5% người tham gia phỏng vấn trên 60 tuổi Tương tự, nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài ghi nhận tỷ lệ này là 59.1% Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội cũng cho thấy 51.3% người tham gia nghiên cứu trên 60 tuổi.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ nam giới tham gia chiếm 53.25%, cao hơn so với tỷ lệ nữ giới là 46.75% (bảng 2).

Tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp tại xã cao hơn nữ giới, với tỷ lệ 55% nam và 45% nữ ở độ tuổi 40 trở lên Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Chu Hồng Thắng, cho thấy nam giới chiếm 55.7% và nữ giới 44.3% Sự chênh lệch này cho thấy nam giới có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn, dẫn đến số lượng nam giới đi khám và kiểm tra huyết áp nhiều hơn Mẫu nghiên cứu này sẽ hỗ trợ việc phân tích và đánh giá tình hình bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng một cách hiệu quả hơn.

Bảng 3.3 cho thấy phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa điểm, với 54.25% số người được phỏng vấn đến từ xã Vật Lại huyện Ba Vì và 45.75% từ xã Phú Châu Hai xã này có dân số tương đương khoảng 10.000 người Nghề nghiệp chính của người dân tại đây chủ yếu là làm ruộng và buôn bán.

Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ nam - nữ theo độ tuổi trong nghiên cứu này, với nam giới trong độ tuổi 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất là 35.21%, trong khi tỷ lệ thấp nhất là 13.62% ở độ tuổi trên 70 Đối với nữ giới, tỷ lệ cao nhất cũng nằm trong độ tuổi 61-70 với 37.43%, và thấp nhất là 16.04% ở độ tuổi trên 70 Tỷ lệ nữ giới trong độ tuổi 51-60 là 28.34%.

Tỷ lệ nam giới từ 60-70 tuổi mắc tăng huyết áp tại Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 là 37.8%, theo nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào (2019) Nghiên cứu của Trần Thanh Thủy (2009) cũng đã đánh giá thực trạng bệnh tăng huyết áp và đề xuất giải pháp phòng chống cho cộng đồng tại Hải Phòng.

Theo báo cáo của Viện Tim mạch Quốc gia (2010), tuổi tác cao làm cho các mô liên kết trong thành mạch máu lão hóa, dẫn đến sự cứng và dày của thành động mạch, giảm tính đàn hồi và tăng huyết áp ở người lớn tuổi Tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu, gây ra các vấn đề như dày sợi cơ tim, nhồi máu cơ tim và thiếu máu cục bộ Hơn nữa, thành mao mạch dày lên làm chậm quá trình trao đổi máu, oxy và chất dinh dưỡng, khiến huyết áp tiếp tục tăng theo độ tuổi.

Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi

Tỷ lệ tăng huyết áp trong nghiên cứu với 147 người tham gia chiếm 36.75%, trong khi 253 người không bị tăng huyết áp chiếm 63.25% Đặc biệt, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi tại 2 xã huyện Ba Vì cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2021) với tỷ lệ 14.4% Số người không tăng huyết áp trong nghiên cứu này thấp hơn so với tỷ lệ 85.6% của cùng nghiên cứu Tỷ lệ tăng huyết áp trong nghiên cứu này cũng tương đương với kết quả của Chu Hồng Thắng (2008) là 35.7% và Đinh Văn Thành (2012) với 32.3% Điều này cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp trong cộng đồng đang gia tăng, đặc biệt ở người cao tuổi, với số liệu thống kê hàng năm từ trạm y tế cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 60 tuổi trở lên cũng đang tăng So với báo cáo thống kê hàng năm của xã, tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 28.5%-35.9% phù hợp với kết quả nghiên cứu này, tuy nhiên vẫn cao hơn so với tỷ lệ chung của huyện Ba.

Tỷ lệ tăng huyết áp trong nhóm nghiên cứu đạt khoảng 35.2%, cao hơn mức trung bình do những người tham gia đều đang được quản lý và theo dõi các bệnh không lây nhiễm tại hai xã.

Theo bảng 6, trong số 147 người bị tăng huyết áp, nhóm tuổi từ 61-70 có tỷ lệ cao nhất với 39,31%, tiếp theo là nhóm trên 70 với 38,98%, nhóm 51-60 chiếm 35,45% và thấp nhất là nhóm 41-50 với 32,56% Tỷ lệ tăng huyết áp thay đổi theo số lượng nhóm tuổi nghiên cứu, và theo nghiên cứu của Trịnh Thu Hoài, tỷ lệ người trên 60 tuổi bị tăng huyết áp là 59,1%, cao hơn so với nghiên cứu này Tuổi càng cao, tỷ lệ tăng huyết áp càng tăng do nhiều nguyên nhân như sơ vữa động mạch, giảm hoạt động của các cơ quan như gan và thận, cùng với chế độ ăn uống không hợp lý và vận động hạn chế Trong nghiên cứu này, độ tuổi 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,78%, trong khi độ tuổi trên 70 chỉ chiếm 15,65%.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới cao hơn nữ giới, với 59.2% nam (87/147) và 40.8% nữ (60/147) Cụ thể, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam là 40.85% và ở nữ là 32.09% Kết quả này phù hợp với thực tế hiện tại, khi số lượng nam giới trong nghiên cứu cao hơn nữ giới Nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài cho thấy tỷ lệ nam giới bị tăng huyết áp thấp hơn (46.5%) so với nữ (53.5%), ngược lại với kết quả của nghiên cứu này Tỷ lệ tăng huyết áp ở cả hai giới trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Trần Thanh Thủy (2009) và Đỗ Minh Tuấn (2013), cho thấy tỷ lệ nam khoảng 58% - 63% và nữ 37% - 42% Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp giai đoạn sớm thường không có triệu chứng rõ ràng, nhưng khi bệnh nặng hơn, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng như tức ngực, mờ mắt, và tê tay chân Để phòng ngừa, việc kiểm tra huyết áp định kỳ là rất cần thiết, và nếu huyết áp vượt quá 140/90, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để được tư vấn Tăng huyết áp có thể xảy ra ở cả nam và nữ.

Từ tuổi 40 trở đi, huyết áp thường có xu hướng tăng, đặc biệt ở người cao tuổi, với 59.1% người trên 60 tuổi bị tăng huyết áp theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài Nhóm tuổi 40-59 có tỷ lệ cao hơn, đạt 36.3%, so với 26.74% trong nghiên cứu trước đó Nghiên cứu của Đinh Văn Thành (2012) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới mắc bệnh tăng huyết áp (35.5%) cao hơn nữ giới (29.7%) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài, tỷ lệ nam giới bị tăng huyết áp lại thấp hơn nữ giới, với 46.5% nam và 53.5% nữ Việc không kiểm soát huyết áp có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như đột quỵ.

Theo bảng 3.9, trong tổng số 400 đối tượng nghiên cứu, 63.25% có huyết áp bình thường (253/400) Tỷ lệ tăng huyết áp độ 1 là 18.25% (73/400), tăng huyết áp độ 2 chiếm 14.0% (56/400), và tăng huyết áp độ 3 là 4.5% (18/400) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài, trong đó tỷ lệ tăng huyết áp độ III là 13.1% và độ II là 25.5%.

Theo nghiên cứu, tỷ lệ người mắc tăng huyết áp (THA) độ 1 chiếm 61.4%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào (2019) với tỷ lệ THA độ 1 là 68.5%, độ 2 là 25.7% và độ 3 là 5.8% Ngoài ra, Chu Hồng Thắng (2008) ghi nhận tỷ lệ THA độ 1 là 59.6%, độ 2 là 27.8% và độ 3 là 12.6% Trần Thanh Thủy (2009) cũng báo cáo tỷ lệ THA độ 1 là 67.3%, độ 2 là 19.4% và độ 3 là 13.3% Kết quả cho thấy có sự gia tăng đáng kể về số người mắc tăng huyết áp trong nhóm nghiên cứu.

Tăng huyết áp độ 1, với tỷ lệ cao từ 140/90mmHg đến 159/99mmHg, đang trở thành vấn đề nghiêm trọng Ngành y tế cần tăng cường các biện pháp dự phòng và quản lý đối với những người có dấu hiệu tăng huyết áp độ 1 để giảm thiểu các nguy cơ và biến chứng liên quan đến tình trạng này.

Kiến thức về bệnh tăng huyết áp

Kiến thức về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng còn hạn chế, với tỷ lệ người hiểu đúng chỉ đạt mức thấp Hút thuốc lá và thuốc lào là nguyên nhân chính, chiếm 66.75%, tiếp theo là uống rượu bia (55.25%), béo phì (54.5%), tuổi cao (52.25%), ăn mặn (47.5%) và yếu tố di truyền (51.5%) Đánh giá kiến thức chung về dự phòng tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ trả lời đúng vẫn chưa cao, với hơn 30% câu trả lời sai Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010), cho thấy tỷ lệ trả lời đúng đạt 69.5% trong nhóm người cao tuổi tại Hà Nội, cho thấy người dân đã có hiểu biết cơ bản về bệnh tăng huyết áp.

Thực trạng tăng huyết áp ở người từ 45-64 tuổi tại huyện Điện Biên cho thấy 70.2% người dân có kiến thức đúng về bệnh, nhưng vẫn còn 20.24% chưa nắm vững các kiến thức cơ bản về phòng chống Điều này cho thấy cần tăng cường giáo dục cộng đồng để người dân hiểu rõ hơn về biện pháp dự phòng, giảm thiểu nguy cơ đột quỵ Theo nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt (2010), huyết áp có thể thay đổi theo hoạt động và cảm xúc, và những yếu tố nhỏ như thay đổi tư thế, uống cà phê hay ăn mặn cũng có thể làm tăng huyết áp Hiểu biết về các yếu tố này sẽ giúp mọi người duy trì huyết áp ổn định và bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.

Khi khảo sát mức độ kiến thức về bệnh tăng huyết áp, kết quả cho thấy 47.5% đối tượng nghiên cứu có kiến thức trung bình, 31.25% có kiến thức tốt, và 21.25% có kiến thức kém Điều này cho thấy gần 70% người tham gia vẫn hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh ở mức trung bình và kém Do đó, cần triển khai nhiều hoạt động và chương trình nhằm nâng cao kiến thức và thực hành phòng ngừa bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng.

Nghiên cứu của Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) cho thấy 65% người cao tuổi tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội có hiểu biết trung bình về nguyên nhân gây tăng huyết áp Mặc dù một số người có kiến thức tốt, nhưng đa số dân cư vẫn chưa hiểu rõ về bệnh, với nhiều người chỉ nghe nói mà chưa nắm vững thông tin Sự chủ quan và coi thường bệnh khiến khoảng 50% người không nhận ra mình mắc tăng huyết áp, dẫn đến tình trạng bệnh trở nặng từ độ 1 sang độ 2, làm cho việc điều trị trở nên khó khăn và phức tạp hơn.

Trong nghiên cứu này, chỉ có 21.25% đối tượng được đánh giá có hiểu biết về nguyên nhân bệnh, cho thấy sự nhận thức về bệnh tăng huyết áp (THA) còn hạn chế Theo Trịnh Thị Thu Hoài, chỉ 9.5% bệnh nhân hiểu biết đúng về bệnh và phương pháp điều trị, dẫn đến tình trạng nhiều người không nhận thức được bệnh THA, từ đó không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ, không tuân thủ, gây ra sự gia tăng bệnh trong cộng đồng.

Nghiên cứu của Đào Ngọc Quân và Trần Thị Xuân Hòa (2010) tại khoa nội tổng hợp bệnh viện tỉnh Gia Lai cho thấy bệnh nhân có kiến thức tương đối tốt về các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp, với tỷ lệ nhận thức đúng về việc uống nhiều rượu bia đạt 87.23%, hút thuốc lá 86.02%, và căng thẳng thần kinh 72.53% Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ cao người tham gia trả lời sai về các yếu tố như di truyền (50.84%) và thói quen ăn uống không lành mạnh, với 35.66% cho ăn mặn nhiều và 36.39% cho ăn nhiều mỡ động vật Ngoài ra, tỷ lệ người ít vận động cũng chiếm 30.84%, cho thấy cần có sự nâng cao nhận thức về các yếu tố này để phòng chống tăng huyết áp hiệu quả hơn.

Nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài chỉ ra rằng thói quen hút thuốc lá và thuốc lào là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nguy cơ tăng huyết áp ở người dân, chiếm 30.8% Mặc dù con số này thấp hơn nhiều so với 86.02% trong một nghiên cứu khác, sự khác biệt này có thể do người dân đã tiếp cận nhiều thông tin đại chúng và hiểu biết hơn về nguy cơ sức khỏe này.

Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người dân ăn mặn chiếm 47.5%, cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (29.3%) và tương đương với tỷ lệ 48.7% của tác giả Chu Hồng Thắng Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Đinh Văn Thành (2009) với 53.6% và Đỗ Minh Tuấn (2013) với 62.8%.

Nghiên cứu cho thấy nguy cơ uống rượu bia gây tăng huyết áp cao hơn so với các nghiên cứu trước đó, với 52.25% người tham gia cho rằng tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều Tuy nhiên, hơn 40% ý kiến cho rằng người cao tuổi không bị tăng huyết áp, điều này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Minh Tuấn (2013) cho rằng 29.5% người cao tuổi không mắc bệnh này Thực tế cho thấy nhiều người cao tuổi có huyết áp bình thường hoặc chỉ tăng ở mức độ 1 Nghiên cứu của Phạm Thế Xuyên (2019) chỉ ra rằng người dân từ 45-64 tuổi tại Điện Biên có hiểu biết thấp về nguy cơ tăng huyết áp, với 30-40% câu trả lời sai Chỉ có 38.25% người tham gia nhận thức đúng về mỡ động vật và 54.5% về béo phì là nguy cơ tăng huyết áp Mặc dù có các chương trình truyền thông về tăng huyết áp tại địa phương, nhưng người dân vẫn ít quan tâm do thói quen sinh hoạt không điều độ.

Tỷ lệ người dân hiểu biết về các biến chứng của tăng huyết áp còn thấp, với chỉ 12.75% nhận thức về tâm phế mãn, 20.75% về liệt nửa người, 18.75% về suy thận, 17.25% về suy tim, 18.5% về nhồi máu cơ tim, 61.25% về tai biến mạch máu não, và 19.75% về liệt toàn thân Thực tế cho thấy nhiều người không chú ý đến các biến chứng nguy hiểm của tăng huyết áp do chúng thường không có biểu hiện rõ ràng Hơn nữa, hoạt động truyền thông cộng đồng chưa đề cập sâu về vấn đề này, dẫn đến kiến thức hạn chế của người dân Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) và Trần Thanh Thủy.

Nghiên cứu năm 2009 cho thấy người dân có kiến thức hạn chế về các biến chứng của bệnh tăng huyết áp, với tỷ lệ nhận thức về tai biến mạch máu não chỉ đạt 70.7%, suy tim và nhồi máu cơ tim là 42.9%, và biến chứng đột quị là 36.2% Do đó, việc cung cấp thêm kiến thức và kỹ năng phòng ngừa bệnh tăng huyết áp cho cộng đồng là rất cần thiết, nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng phòng tránh bệnh tật.

Thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp

Theo bảng 3.14, 79.5% đối tượng nghiên cứu thực hành đúng bằng cách đi khám tại cơ sở y tế khi bị tăng huyết áp, trong khi chỉ 10.25% cho rằng không cần xử trí gì 21.0% cho biết bệnh không ảnh hưởng đến công việc, và 53.75% sẽ gọi y tế thôn xóm Chỉ 13.0% chọn phòng khám tư nhân để điều trị Nghiên cứu này tương đồng với Trần Thị Mỹ Hạnh (2017), cho thấy thực hành xử trí tăng huyết áp ở người trên 50 tuổi tại Tiền Hải còn thấp, với 77.9% đến cơ sở y tế, 17.5% tự mua thuốc, và 15.7% không cần xử trí Nghiên cứu của Gao Y (2013) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp ở Trung Quốc đạt 39.2%, cho thấy kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp của người dân còn hạn chế, với 76.4% chọn đến cơ sở y tế khi bị tăng huyết áp.

Theo bảng 3.15, 78.25% đối tượng nghiên cứu thực hành đúng việc dự phòng bệnh tăng huyết áp bằng cách kiểm tra sức khỏe thường xuyên Bên cạnh đó, sinh hoạt điều độ chiếm 61.25% và tập thể dục hàng ngày đạt 60.0% Tuy nhiên, có 9.50% người cho rằng ăn mặn không liên quan đến bệnh tăng huyết áp, trong khi 14.25% cho rằng ăn nhiều thịt lợn cũng không ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và các cộng sự.

Nghiên cứu năm 2012 tại bệnh viện Bạch Mai về hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe ở người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ người dân đi khám sức khỏe định kỳ chỉ đạt 39,5%, cho thấy hành vi phòng bệnh còn thấp.

Theo nghiên cứu, 89.25% đối tượng điều trị tăng huyết áp thực hành tại cơ sở y tế, trong khi 92.5% cần sử dụng thuốc hàng ngày và 88.00% tuân thủ chỉ định của bác sĩ Ngoài ra, 16.25% người bệnh lựa chọn cơ sở y tế tư nhân để khám và điều trị Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2017), cho thấy chỉ 75.8% bệnh nhân lựa chọn cơ sở y tế để điều trị và 85.9% tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Theo nghiên cứu của Trần Thanh Thủy và cộng sự (2009), triệu chứng của tăng huyết áp rất phức tạp và có thể khác nhau tùy theo từng người Những dấu hiệu phổ biến bao gồm choáng váng, nhức đầu, mất ngủ, chóng mặt, ù tai, khó thở, đau tức ngực, hồi hộp, đỏ mặt và buồn nôn Khi xuất hiện các triệu chứng này, người bệnh cần kiểm tra huyết áp tại nhà và đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời Để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp, việc kiểm soát cân nặng là rất quan trọng Những người thừa cân, béo phì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn Do đó, những ai có vòng bụng lớn (trên 90cm đối với nam giới) nên thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, hạn chế tinh bột, đường và dầu mỡ, đồng thời tăng cường rau xanh, trái cây và uống đủ nước hàng ngày.

Mức độ thực hành phòng bệnh tăng huyết áp trong đối tượng nghiên cứu cho thấy 46.25% đạt mức tốt, 39.00% ở mức trung bình và 14.75% mức kém Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Anchala R1 (2014), cho thấy 47.6% người dân Ấn Độ có kiến thức và hành vi tốt trong phòng chống tăng huyết áp, trong khi 52.4% có thực hành kém và trung bình Nguyên nhân chính dẫn đến thực hành phòng chống thấp là do hoạt động dự phòng hạn chế, cán bộ y tế chưa chủ động phát hiện bệnh nhân trong cộng đồng, và hành vi dự phòng của người bệnh chưa tốt Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị cũng thấp, khiến nhiều người dù được quản lý nhưng không kiểm soát được huyết áp, dẫn đến gia tăng tỷ lệ tai biến mạch máu não trong cộng đồng.

Ngày đăng: 24/10/2023, 18:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp (theo WHO/JNC VI) [2, 26]. - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp (theo WHO/JNC VI) [2, 26] (Trang 11)
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi (Trang 26)
Bảng 3.5. Tỷ lệ tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.5. Tỷ lệ tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới (Trang 27)
Bảng 3.8. Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới ở đối tượng nghiên cứu - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.8. Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới ở đối tượng nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 3.11. Kiến thức đúng về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.11. Kiến thức đúng về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh (Trang 29)
Bảng 3.12. Mức độ Kiến thức về bệnh THA Mức độ kiến thức - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.12. Mức độ Kiến thức về bệnh THA Mức độ kiến thức (Trang 31)
Bảng 3.16. Thực hành về địa điểm điều trị và sử dụng thuốc điều trị THA - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.16. Thực hành về địa điểm điều trị và sử dụng thuốc điều trị THA (Trang 33)
Bảng 3.15. Thực hành đúng về dự phòng bệnh tăng huyết áp - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.15. Thực hành đúng về dự phòng bệnh tăng huyết áp (Trang 33)
Bảng 3.17. Mức độ thực hành phòng bệnh THA của người dân - (Luận văn) thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại huyện ba vì thành phố hà nội năm 2022
Bảng 3.17. Mức độ thực hành phòng bệnh THA của người dân (Trang 35)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w