1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ThS QLC Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh

102 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Về Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Địa Bàn Thành Phố Trà Vinh, Tỉnh Trà Vinh
Trường học Trường Đại Học Trà Vinh
Chuyên ngành Quản Lý Nhà Nước
Thể loại luận văn
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 280,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài luận văn Du lịch bền vững là khái niệm không mới đối với du lịch Việt Nam.Nhưng ở thời điểm kinh tế thế giới đang khủng hoảng, hoạt động du lịch chịunhiều tác động và g

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Du lịch bền vững là khái niệm không mới đối với du lịch Việt Nam.Nhưng ở thời điểm kinh tế thế giới đang khủng hoảng, hoạt động du lịch chịunhiều tác động và gặp không ít khó khăn, vì vậy du lịch bền vững trở thànhmối quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển của ngành du lịch nước nhà.Các nhà làm du lịch đều hiểu rằng, sự “ăn xổi” trong đầu tư, phát triển du lịch

sẽ phải trả giá do những hệ lụy mà nó gây ra Vấn đề là phải làm gì và làmnhư thế nào để ngành du lịch nước ta phát triển một cách bền vững?

Vài năm trở lại đây, rất nhiều địa phương trong cả nước nói chung vàthành phố Trà Vinh nói riêng đã chọn du lịch bền vững làm định hướng pháttriển Tuy nhiên, loại hình du lịch này chỉ ở mức phát triển tự phát, nó chưađược định hình bằng những hoạch định, kế hoạch cụ thể hay nói cách khác,mới chỉ ở mức do một vài doanh nghiệp khởi xướng, vừa làm vừa rút kinhnghiệm

Thành phố Trà Vinh có tiềm năng rất tốt, đặc biệt là tài nguyên du lịchbiển và sông nước Các cù lao được hình thành với nhiều khu chuyên canhvườn cây ăn trái đặc sản, hàng chục vườn cò từ vài nghìn đến vài chục nghìncon…Tuy nhiên, những sản phẩm du lịch này không thể tạo được sự hấp dẫn,thu hút khách, bởi không được đầu tư đúng mức về cơ sở vật chất, hạ tầng,các dịch vụ du lịch và sự phối hợp đầu tư tại điểm đến…Bên cạnh đó, TràVinh còn có các sản phẩm du lịch sinh thái, đạp xe khám phá làng quê nôngthôn với những làng nghề truyền thống; gần đây nhất, là các tour du lịchhomestay, tìm hiểu phong tục, tập quán, văn hóa, ẩm thực của người dân tộcKhmer…Có thể nói, các sản phẩm du lịch này khá hấp dẫn du khách, đặc biệt

là khách nước ngoài, bởi ngoài sự thân thiện với môi trường, với cuộc sống;

du khách còn tự mình khám phá, cảm nhận những nét riêng của mỗi vùngmiền

Trang 2

Tuy vậy, phát triển du lịch bền vững mới được ghi nhận bước đầu ởviệc xây dựng sản phẩm du lịch là chính; việc bảo vệ cảnh quan môi trường,

di tích tại điểm đến cũng còn nhiều điều cần bàn Bởi sự quan tâm, chỉ đạocủa các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng liên quan chưa thực sự quyếtliệt; còn xảy ra tình trạng rác thải bừa bãi, cảnh quan bị xâm hại, các dịch vụ

du lịch lộn xộn, môi trường tại các cơ sở lưu trú, cho dù đã cải thiện nhưngchưa thật triệt để

Khách quan mà nói, tuy mới chỉ ở mức độ tự phát, nhưng nếu du lịchđược phát triển một cách bền vững sẽ có những đóng góp không nhỏ về mặtkinh tế, mà còn về các mặt xã hội, bảo vệ môi trường, tự nhiên, văn hóa vàlịch sử Vấn đề là cần có những giải pháp phù hợp để phát huy được mặt tíchcực của loại hình du lịch này và nhân rộng đến nhiều địa phương khác

Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch bền vững, nhiều tỉnh, thànhphố trong cả nước nói chung, thành phố Trà Vinh nói riêng đặc biệt ưu tiênphát triển các dự án du lịch có yếu tố thân thiện với môi trường, đồng thờixem đó là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển du lịch bền vữngcủa địa phương Cụ thể, một số địa bàn du lịch trọng điểm thực hiện phát triển

du lịch bền vững gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, nhân văn, bảo

vệ môi trường, sinh thái, xã hội Nhiều địa phương khuyến khích phát triển dulịch bền vững, yêu cầu các bên liên quan phải có trách nhiệm với môi trường,

xã hội; xây dựng quy chế cụ thể khai thác du lịch gắn với bảo vệ tài nguyênmôi trường, liên kết với cộng đồng dân cư bảo vệ môi trường…

Trong những năm gần đây, hòa nhịp với công cuộc đổi mới đất nước vàtiến trình hội nhập quốc tế, ngành du lịch Trà Vinh đã nỗ lực vượt qua khókhăn, huy động nội lực và tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển bền vững.Nhờ đó đã góp phần tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế, giữ gìn và phát huysức sống bản sắc văn hóa cũng như giá trị truyền thống của dân tộc, giải quyếtcác vấn đề xã hội của Trà Vinh nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên,

Trang 3

bên cạnh những kết quả đạt được, ngành du lịch Trà Vinh cũng bộc lộ nhữnghạn chế, bất cập trên nhiều mặt, trong đó có công tác quản lý nhà nước vềphát triển du lịch bền vững của chính quyền địa phương các cấp Điều này đặt

ra cho công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa bànthành phố Trà Vinh hàng loạt vấn đề cần phải giải quyết

Góp phần luận giải vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh” để tiến hành nghiên cứu, tìm ra định hướng và giải pháp phù

hợp giúp cho việc quản lý của Nhà nước phát huy hết sức mạnh vốn có, tạo

điều kiện cho du lịch Trà Vinh phát triển một cách bền vững.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch bềnvững nói chung từ trước đến nay đã và đang là đề tài được nhiều cơ quan, banngành, học giả quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều đề tài khoa học có giá trị lýluận và thực tiễn cao góp phần ứng dụng vào việc tăng cường quản lý và pháttriển ngành du lịch bền vững trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, số lượng đề tàinghiên cứu chuyên về công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch bềnvững tại địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh có thể nói là chưa nhiều.Chúng ta có thể điểm qua một số công trình, đề tài tiêu biểu dưới đây:

- “Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững” Giáo trình doTiến sỹ Nguyễn Bá Lâm – Khoa Du lịch – Trường Đại học Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội biên soạn năm 2007 Giáo trình đã đề cập một cách tổngquát các khái niệm về du lịch và ngành du lịch, các loại hình du lịch, nhữngtiền đề hình thành và phát triển ngành du lịch, vị trí vai trò của ngành du lịchđối với phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển du lịch, quá trình hìnhthành phát triển du lịch thế giới và Việt Nam Đồng thời, giáo trình cũng trang

bị những kiến thức cơ bản về vị trí của môi trường tự nhiên đối với sự phát

Trang 4

triển du lịch bền vững và trách nhiệm của những người làm công tác du lịch

để bảo đảm phát triển du lịch bền vững

- “Du lịch bền vững” Giáo trình do Tác giả Nguyễn Đình Hòe, Vũ VănHiếu biên soạn – NXB Đại học Quốc gia năm 2001 Giáo trình đã nêu lênđược chính sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch là một nguyên nhân dẫnđến suy thoái môi trường ở các vùng du lịch; Những tác động xấu ngày cànggia tăng khiến cho tổ chức Du lịch thế giới WTO cũng như các nhà nghiêncứu du lịch phải tìm một cách thức, một chiến lược mới nhằm đảm bảo sự hàihòa giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trường

- Luận văn Thạc sỹ Vũ Anh Tuấn, năm 2012 “Nghiên cứu phát triển

bền vững du lịch sinh thái vườn Quốc gia Cát Tiên” Luận văn nghiên cứu cơ

sở lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái và phát triển bền vững Điều trakhảo sát, thu thập tài liệu thông tin phục vụ cho việc đánh giá tiềm năng vàhiện trạng khai thác tài nguyên phát triển bền vững du lịch sinh thái tại vườnquốc gia Cát Tiên Từ đó, xây dựng định hướng phát triển du lịch bền vữngcủa vườn quốc gia Cát Tiên Đồng thời, đưa ra mô hình phát triển du lịch sinhthái và đề ra giải pháp thực hiện

- Luận văn Thạc sỹ Vũ Thị Hòa, năm 2013 “Phát triển du lịch theo

hướng bền vững tại tỉnh Nam Định” Luận văn trình bày tổng quan một số

vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhữngbài học trong nước và quốc tế theo hướng phát triển bền vững Phân tích,đánh giá những điều kiện phát triển du lịch của tỉnh Nam Định về tiềm năng,lợi thế sẵn có, những thuận lợi và khó khăn của tỉnh Nam Định trong pháttriển du lịch theo hướng phát triển bền vững Đề xuất một số giải pháp và kiếnnghị để phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định nhằm khaithác có hiệu quả các thế mạnh về tiềm năng du lịch, đảm bảo sự đóng góp củangành Du lịch vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như khai

Trang 5

thác và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan môitrường.

- Bài viết “Du lịch tỉnh Vĩnh Long: những giải pháp để phát triển bềnvững” của NCS Nguyễn Ngọc Sĩ được đăng trên tạp chí khoa học Đại học Sưphạm Thành phố Hồ Chí Minh Bài viết phân tích những hạn chế và những ưuthế của du lịch Vĩnh Long, đồng thời đề xuất những giải pháp phù hợp đểphát triển du lịch theo hướng bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

- Bài viết “Phát triển du lịch bền vững tại tiểu vùng sông Mekong: Giảipháp cho đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Quyết Thắng được đăngtrên tạp chí Phát triển và hội nhập số 27 – tháng 03 – 04/2016 Bài viết chobiết vùng đồng bằng sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong liên kết pháttriển du lịch các nước tiểu vùng sông MeKong Việc phát triển du lịch bềnvững vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ góp phần thực hiện thành công kếhoạch “Hành động thập kỷ MeKong xanh” và đảm bảo tính đồng nhất cho sựphát triển liên vùng, liên quốc gia một cách bền vững Thông qua phươngpháp tổng hợp, nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê và điều tra khảosát, bài viết đã tổng hợp việc phát triển du lịch bền vững tại một số nướcthuộc tiểu vùng sông MeKong cũng như thực trạng triển khai du lịch bềnvững tại đồng bằng sông Cửu Long nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển

du lịch bền vững tại khu vực này

- Đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù vùng đồng bằng sông CửuLong” của Bộ văn hóa thể thao và du lịch năm 2015 Mục tiêu của Đề án này

là nhằm xác định rõ hệ thống sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL theo cấpquốc gia và cấp vùng Từ đó, cụ thể hóa, hướng dẫn phát triển sản phẩm đặcthù vùng ĐBSCL phù hợp với nhu cầu thị trường, khai thác có hiệu quả giá trịtài nguyên du lịch đặc thù của vùng và giúp nâng cao sức cạnh tranh của dulịch vùng ĐBSCL

Trang 6

- Luận văn thạc sỹ Võ Thị Mỹ Trang (2016) “Văn hóa miệt vườn trongphát triển du lịch sinh thái ở Hậu Giang” Luận văn trình bày tổng quan một

số vấn đề về khái niệm văn hóa, miệt vườn, du lịch, du lịch sinh thái; cơ sởthực tiễn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm du lịch sinh thái ởHậu Giang Phân tích, đánh giá các giá trị văn hóa miệt vườn ở Hậu Giang từ

đó đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch miệt vườn ở Hậu Giang

Các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả cơ sở lý luận cùngnhững kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc để trên cơ sở đó tác giả có thể tiến hànhnghiên cứu đề tài “Quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địabàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh”

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

a- Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng vấn đề quản lý nhà nước về phát triển

du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Trà Vinh để tìm ra các phương hướng,giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa công tác quản lý đối với pháttriển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Qua đó thúc đẩy ngành du lịch củatỉnh phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, phù hợp với tình hình phát triểnkinh tế của đất nước

b- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả dự định phải thựchiện những nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:

- Tổng hợp, bổ sung, hệ thống hóa lý luận về phát triển du lịch bềnvững trong đó có các quy định của Nhà nước về phát triển du lịch bền vững

- Nghiên cứu phân tích những yếu tố thuận lợi, khó khăn, đánh giá thựctrạng, kết quả của công tác “quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền vững”tại địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh hiện nay

Trang 7

- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản lýNhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Trà Vinh tronggiai đoạn tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu ở đề tài này là công tác quản lýNhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnhTrà Vinh dựa trên các tiêu chí phát triển du lịch bền vững và một số nội dungquản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

b- Về phương pháp nghiên cứu có tính chuyên môn.

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: để có lượng thông tin đầy đủtác giả đã tiến hành tìm kiếm và thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đềnghiên cứu, sau đó so sánh và chọn lọc, tập hợp thành những dữ liệu có tính

hệ thống và đáng tin cậy

Trang 8

- Phương pháp khảo sát thực địa: phương pháp này giúp tác giả có thểđối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết cho luận văn của mình Trên cơ

sở đó đề xuất những giải pháp hợp lý và khả thi

- Phương pháp chuyên gia: để có những đánh giá và nhận xét chínhxác, tác giả đã tiến hành xin ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực có liênquan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài sẽ góp phần tổng kết những lý thuyết về phát triển du lịch bềnvững Đặc biệt, đề tài thực hiện khảo sát, phân tích, đánh giá một cách kháchquan thực trạng, tính hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về phát triển dulịch bền vững trên địa bàn thành phố Trà Vinh hiện nay Từ đó, đề xuất một

số kiến nghị và giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm giúp cho côngtác quản lý của Nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thànhphố Trà Vinh đạt hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội

và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài những phần chung là mở đầu và kết luận, nội dung chính của đềtài được kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền

vững

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về phát triển du lịch

bền vững tại địa bàn Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về phát triển du

lịch bền vững tại địa bàn Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

Trang 9

Chương 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DU

LỊCH BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan về phát triển du lịch bền vững

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một

sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịchtrở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến và là nhu cầu không thểthiếu trong đời sống xã hội

Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng HyLạp với ý nghĩa là đi một vòng Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuynhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiêncứu khác nhau nên khái niệm về du lịch cũng không giống nhau

Trong quyển Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan với nội dungkhá chi tiết, nhà địa lý Belarus đã nhấn mạnh “Du lịch là một dạng hoạt độngcủa cư dân, trong thời gian rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thờingoài nơi ở thường xuyên, nhằm mục đích phát triển thể chất, tinh thần, nângcao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc hoạt động thể thao, kèm theo việc tiếpthu những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ”

Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, Hội nghị Liên Hợp Quốc về dulịch được tổ chức tại Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về dulịch:“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh

tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bênngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.Nơi họ đến cư trú không phải là nơi làm việc của họ”

Trang 10

Theo tổ chức du lịch thế giới WTO:“Du lịch là tổng thể các hiện tượng

và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu giữa du khách và các nhà kinhdoanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá trình thu hút

và đón tiếp khách”

Luật du lịch Việt Nam năm 2006 đã đưa ra khái niệm như sau:“Du lịch

là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trúthường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

1.1.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển là xu hướng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất nói chung,của xã hội loài người nói riêng Phát triển được hiểu là một quá trình tăngtrưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội,

kỹ thuật, văn hoá…Sự chuyển đổi của các hình thái xã hội từ xã hội công xãnguyên thủy đến chiếm hữu nô lệ lên phong kiến rồi chế độ tư bản…đó đượccoi là một quá trình phát triển

Mục tiêu chính của quá trình phát triển là không ngừng nâng cao cácđiều kiện và chất lượng cuộc sống của con người, làm cho con người ít phụthuộc vào thiên nhiên đồng thời tạo lập sự công bằng và bình đẳng giữa cáctầng lớp trong xã hội Các mục tiêu của phát triển thường được cụ thể hoábằng những chỉ tiêu về đời sống vật chất như bình quân đầu người về GDP,lương thực, nhà ở, các điều kiện chăm sóc sức khỏe và đời sống tinh thần nhưgiáo dục, mức hưởng thụ văn hoá nghệ thuật, thể thao, sự bình đẳng xã hội, tự

do, chính trị, truyền thống lịch sử của từng quốc gia

Song trong quá trình phát triển, bên cạnh việc mang lại những lợi ích

về mặt kinh tế, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất của con ngườithì quá trình này cũng đã và đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,gây ra những tác động tiêu cực làm suy thoái môi trường Trước những thực

tế không thể phủ nhận là môi trường ngày càng bị ô nhiễm bởi các chất thải từ

Trang 11

hoạt động kinh tế, nhiều hệ sinh thái đã bị diệt vong ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình phát triển của toàn xã hội qua nhiều thế hệ, mâu thuẫn giữa sử dụngtài nguyên cho nhu cầu cuộc sống trước mắt với việc dự trữ và nuôi dưỡngtiềm năng tài nguyên cho thế hệ mai sau ngày càng trở nên gay gắt Từ nhậnthức này đã xuất hiện một khái niệm mới của con người về hoạt động pháttriển đó là “Phát triển bền vững”.

Vào giữa những năm 1980, khái niệm về phát triển bền vững được đềcập đến và được chính thức đưa ra tại hội nghị của Ủy ban thế giới về pháttriển môi trường CED (năm 1987 với tên gọi chính thức là Ủy ban

Brundtlant) Theo địnhnghĩa của Brundtlant thì “Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng được các nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế

hệ mai sau” Tuy nhiên nội dung chủ yếu của phát triển bền vững đề cập đến

trong định nghĩa này chỉ xoay quanh vấn đề phát triển kinh tế [13, tr7]

Trong năm 1980, tổ chức bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa

ra một khái niệm khác về phát triển bền vững Theo đó“Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo và không tái tạo đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức kế hoạch hoạt động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” [13, tr7] Điều này cho thấy mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của

hầu hết các nước trên thế giới phải được xác định trong mối quan hệ bềnvững

Mặc dù còn nhiều tranh luận xung quanh khái niệm về phát triển bềnvững ở những góc độ khác nhau, tuy nhiên có thể nhận thấy rằng cho đến naykhái niệm mà Ủy ban Thế giới về phát triển và môi trường WCED đưa ra năm

1987 được sử dụng rộng rãi, làm chuẩn mực để so sánh các hoạt động pháttriển có trách nhiệm đối với môi trường

Trang 12

Sau này, quan niệm về phát triển bền vững đã được các nhà khoa họctrên thế giới phát triển và bổ sung thêm Tại Hội nghị về môi trường, toàn cầuRIO_92 và RIO_92+5, khái niệm về phát triển bền vững được thảo luận, bổsung và mở rộng theo đó “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hàihòa, đan xen và thỏa hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế

và hệ văn hoá - xã hội” [6, tr60]

Biểu đồ 1.1: Quan niệm về phát triển bền vững

Dưới quan điểm phát triển bền vững này, Jacobs và Saller (1992) chorằng phát triển bền vững là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhaucủa 3 hệ thống nói trên, đồng thời xác định phát triển bền vững không chophép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra suy thoái và tànphá đối với hệ khác, hay nói cách cụ thể thì phát triển bền vững là sự dunghòa các tương tác và sự thỏa hiệp giữa 3 hệ thống nói trên nhằm đưa ra cácmục tiêu hẹp hơn cho sự phát triển bền vững bao gồm:

- Tăng cường sự tham gia có hiệu quả cộng đồng vào những quyết địnhmang tính chất chính trị trong quá trình phát triển của xã hội

Trang 13

- Tạo ra những khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà không làmsuy thoái tài nguyên thông qua áp dụng những thách thức mới về khoa học kỹthuật.

- Giải quyết những xung đột do phát triển không công bằng

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảngcuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộnnhưng trong những năm gần đây, lý luận về phát triển bền vững cũng đượccác nhà khoa học, nhà lý luận quan tâm nghiên cứu trên cơ sở tiếp thu nhữngkết quả nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vữngđối với những hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng tài nguyên tự nhiên và nhânvăn rất phong phú Tuy nhiên trong quá trình lịch sử, nguồn tài nguyên thiênnhiên và môi trường của Việt Nam bị nhiều tác động đặc biệt là hậu quả củahai cuộc chiến tranh và tiếp đó là việc khai thác thiếu khoa học của con người.Trước tình hình đó, việc nghiên cứu lý luận làm cơ sở để phân tích, đưa ra cácgiải pháp đảm bảo sự phát triển bền vững phù hợp với đặc điểm Việt Nam làhết sức cấp bách và cần thiết

Các vấn đề về phát triển bền vững ở nước ta còn được cụ thể hóa trongcác văn bản quan trọng Hơn cả là chỉ thị số 36/TC ngày 25/6/1998 của BộChính Trị BCHTW Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định mục tiêu và cácquan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động môitrường.[tr5] Đồng thời trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII của Đảng (1996) cũng đã chính thức đề cập đến khía cạnh bảo vệmôi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một cấu thành không thểtách rời của phát triển bền vững [tr1]

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng SảnViệt Nam đã xác định chiến lược phát triển của nước ta trong 20 năm tới là

“Phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với

Trang 14

phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhândân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường” và

…“sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ cải thiện môi trường, bảotồn đa dạng sinh học, coi đây là một nội dung chiến lược quy hoạch, kếhoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội” [tr13]

Qua nội dung các văn bản trên ta thấy nhận thức thực tế về phát triểnbền vững trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường đã được thể hiệnmột cách đầy đủ rõ ràng trong đường lối của Đảng ta

1.1.1.3 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhà khoa học trênthế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần vềkinh tế đang đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái và các nền văn hóa bản địa.Hậu quả của các tác động này sẽ làm ảnh hưởng đến bản thân sự phát triển lâudài của ngành du lịch Chính vì vậy đã xuất hiện yêu cầu “Nghiên cứu pháttriển du lịch bền vững” nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt độngđảm bảo sự phát triển lâu dài Một số loại hình du lịch bước đầu quan tâm đếnkhía cạnh môi trường đã bắt đầu xuất hiện như: du lịch sinh thái, du lịch dựavào thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm, du lịch xanh…đã gópphần nâng cao trách nhiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững

Dưới góc độ kinh tế “Du lịch bền vững là quá trình hoạt động du lịch

mà ở đó có thể duy trì được mức độ tăng trưởng liên tục của các chỉ tiêu kinh

tế trong một khoảng thời gian nhiều năm, hoặc trong một giai đoạn nhất định” (Viện nghiên cứu phát triển Du lịch, 2001 Cơ sở khoa học và giải pháp

phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam) Tuy nhiên quan niệm này chịu rấtnhiều sự chỉ trích, phê phán của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiêncứu về môi trường và tài nguyên

Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị

về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Rio de Janerio năm 1992

Trang 15

“Du lịch bền vững là sự phát triển của hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, văn hóa, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và cả hệ thống hỗ trợ của con người” [tr8]

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế (WTTC), 1996 “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch

mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ du lịch trong tương lai” [tr7]

Như vậy với những quan điểm trên đây có thể xem du lịch bền vững làmột nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị Ủy ban Thếgiới về phát triển và môi trường (hay Ủy ban Brudtlant) xây dựng năm 1987

Ở Việt Nam, khái niệm du lịch bền vững còn khá mới Tuy nhiên, theo

Khoản 21, điều 4, chương 1 – Luật Du lịch Việt Nam (2005) “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai” [tr10]

Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm chưa thực sự thống nhất với kháiniệm phát triển du lịch bền vững từ các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du

lịch và lĩnh vực khác liên quan, song đến nay đa số các ý kiến cho rằng “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách

du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”.

Trang 16

Như vậy, du lịch bền vững đòi hỏi ta phải chú ý đến cả 3 hệ sinh thái:

xã hội, nhân văn và kinh tế Các lợi ích của 3 hệ này được chú ý và có tầmquan trọng như nhau để từ đó có được một nền du lịch bền vững

1.1.2 Các nguyên tắc và tiêu chí phát triển du lịch bền vững

1.1.2.1 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt,mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóacao Chính vì vậy, sự phát triển du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung

và đồng bộ của toàn xã hội

Bên cạnh đó, phát triển du lịch bền vững cần hướng đến việc đảm bảo 3mục tiêu cơ bản: Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế, đảm bảo sự bềnvững về tài nguyên và môi trường, đảm bảo sự bền vững về xã hội Tuynhiên, để đảm bảo 3 mục tiêu cơ bản trên, phát triển du lịch bền vững cầntuân thủ các nguyên tắc sau:

- Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt Hoạtđộng du lịch mang lại hiệu quả về nhiều mặt nhưng đồng thời cũng gây ranhiều tác động tiêu cực làm suy giảm cạn kiệt tài nguyên, môi trường…Tuynhiên một số tài nguyên du lịch không thể đổi mới hay thay thế được Trongkhi đó, tài nguyên du lịch lại được xem là sản phẩm quan trọng nhất, là mụcđích chuyến đi của du khách Vì vậy, trong quá trình quy hoạch các dự ánphát triển du lịch cần xây dựng những chiến lược, phương pháp bảo tồn, tôntạo, khai thác tài nguyên du lịch theo hướng tiết kiệm, hợp lý để lưu lại chothế hệ tương lai

- Hạn chế việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường

Trang 17

Việc tiêu thụ quá mức tài nguyên không chỉ dẫn đến sự hủy hoại môitrường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mà còn không đảm bảo nguồn tàinguyên cho phát triển lâu dài của ngành du lịch Bên cạnh đó, các chất thải từdịch vụ du lịch, hoạt động của du khách, chất thải của phương tiện vậnchuyển khách…nếu chúng không được thu gom, xử lý đúng yêu cầu kỹ thuật

sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy thoái tài nguyên, xáo trộn

về văn hóa xã hội Đối với những quốc gia và địa phương hoạt động du lịchphát triển thì lượng chất thải ra môi trường từ hoạt động này cũng ngày càngnhiều

Vì vậy, giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được nhữngchi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chấtlượng du lịch là điều rất cần thiết

- Duy trì tính đa dạng

Tính đa dạng về tài nguyên du lịch là yếu tố đặc biệt quan trọng tạo nên

sự hấp dẫn của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách.Trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án quy hoạch du lịch cũng như

sự phát triển du lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm mất đi tính đadạng của thiên nhiên, văn hóa – xã hội Vì vậy trong quá trình quy hoạch cầnphải xây dựng và thực hiện các phương cách, chiến lược nhằm duy trì bảo tồntính đa dạng của tài nguyên

- Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội

Du lịch là một ngành kinh tế liên ngành, có mối quan hệ chặt chẽ vớinhiều ngành kinh tế - xã hội khác Hợp nhất phát triển du lịch vào trongkhuôn khổ quy hoạch chiến lược quốc gia và địa phương, tiến hành đánh giátác động môi trường sẽ làm tăng khả năng tồn tại, phát triển lâu dài của ngành

du lịch

Trang 18

Khi sự phát triển là một bộ phận hợp nhất của quy hoạch, kế hoạch pháttriển cấp quốc gia hoặc địa phương, nếu xem việc phát triển du lịch là mộttổng thể thì sẽ mang lại lợi ích tối đa và dài hạn hơn cho nền kinh tế - xã hội.Điều này sẽ khuyến khích việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên môitrường du lịch hiệu quả hơn, vừa góp phần hấp dẫn du khách và nâng cao đờisống cộng đồng địa phương.

- Hỗ trợ kinh tế và thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch là cầnthiết bởi chính nền văn hóa, môi trường, lối sống và truyền thống của họ lànhững nhân tố thu hút khách du lịch Bên cạnh đó, hoạt động du lịch khôngchỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn có trách nhiệm hơnvới tài nguyên môi trường và chất lượng sản phẩm du lịch Tuy nhiên, hoạtđộng du lịch một mặt mang lại hiệu quả tích cực, mặt khác cũng để lại nhữnghậu quả tiêu cực cho tài nguyên môi trường và kinh tế - xã hội của địaphương Chính vì vậy, ngành du lịch có trách nhiệm đóng góp một phần thunhập cho phát triển kinh tế địa phương

- Thường xuyên lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan

Việc lấy ý kiến của cộng đồng địa phương, các doanh nghiệp du lịch,các tổ chức và cơ quan khác nhau là cần thiết Bởi vì, điều này sẽ giúp nângcao nhận thức của các bên tham gia với các dự án quy hoạch, cùng nhau giảiquyết những mâu thuẫn về quyền lợi, góp phần tích cực cho sự phát triển bềnvững của ngành du lịch

- Thường xuyên tiến hành các công tác nghiên cứu

Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa họcvững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Chính vì vậy, đểcác dự án quy hoạch du lịch có hiệu quả cần: đầu tư cho công tác điều tra,giám sát, thống kê, phân tích, so sánh từ đó có thể xây dựng các mục tiêu, giải

Trang 19

pháp phù hợp Ngoài ra, công tác nghiên cứu còn giúp cho việc nhận thứcđược những thiếu sót, hạn chế của dự án quy hoạch để có những kế hoạchđiều chỉnh, bổ sung kịp thời.

- Đào tạo nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với bất kỳ

sự phát triển nào Một lực lượng lao động du lịch có trình độ chuyên mônnghiệp vụ không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng caochất lượng sản phẩm du lịch Một nhân viên được trang bị những kiến thức vềmôi trường, văn hóa, ngoại ngữ và khả năng giao tiếp tốt không những làmcho du khách hài lòng mà còn giúp họ có ý thức trách nhiệm và nhận thứcđúng về môi trường, về những giá trị văn hóa truyền thống

Chính vì vậy, việc chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ là mộttrong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển bền vững của du lịch

- Nâng cao trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch

Xúc tiến, quảng cáo luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển

du lịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của cácsản phẩm du lịch Việc quảng cáo, tiếp thị cung cấp cho khách du lịch nhữngthông tin đầy đủ và có trách nhiệm nâng cao sự tôn trọng của du khách đốivới môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội, đồng thời làm tăng sự thỏa mãncủa du khách đối với sản phẩm du lịch Ngược lại, hoạt động quảng cáo, tiếpthị thiếu trách nhiệm mang đến cho khách những thông tin không đầy đủ vàthiếu chính xác dẫn đến sự thất vọng của du khách về sản phẩm du lịch đượcquảng cáo, ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của hoạt động du lịch…Chính

vì vậy, khi thực hiện quảng bá, tiếp thị du lịch cần phải đảm bảo tính trungthực, chính xác và đầy đủ để đảm bảo tính bền vững trong du lịch

1.1.2.2 Các tiêu chí phát triển du lịch bền vững

Trang 20

Phát triển du lịch bền vững là một phạm trù còn mới trong chiến lượcphát triển du lịch ở nước ta Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và xây dựng,các nhà quản lý có thể đưa ra một số giải pháp phù hợp và kịp thời điều chỉnhcác hoạt động nhằm đạt tới trạng thái bền vững hơn cho quá trình phát triển.Tuy nhiên, chúng ta không thể đánh giá phát triển du lịch bền vững một cáchtùy tiện mà phải dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:

- Các tiêu chí kinh tế

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và ổnđịnh lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (chỉ tiêu về khách du lịch, thunhập, GDP, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động…) Theo xu thế phát triển hiệnnay ở trong nước và trên thế giới, các chỉ tiêu kinh tế đã phát triển liên tụctrong nhiều năm (thường là trên dưới 10 năm) ở mức trung bình khoảng 7 –10%/năm thì được xem là phát triển bền vững Tuy nhiên tùy thuộc vào trình

độ phát triển và mức khởi điểm của các chỉ tiêu kinh tế ở mỗi nước, mỗi địaphương mà mức độ tăng trưởng sẽ cao hay thấp khác nhau được lựa chọn đểđánh giá tính bền vững Với tiêu chí này cần đề cập đến những chỉ tiêu cụ thểsau:

Chỉ tiêu khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với

quá trình phát triển du lịch, quyết định sự thành công hay thất bại, sự pháttriển bền vững hay không bền vững của ngành du lịch Thực tế cho thấy, cáchoạt động phát triển du lịch tự phát thường chỉ quan tâm đến việc thu hútkhách đến và không chú trọng đến chất lượng nguồn khách (khả năng chi trả,trình độ văn hóa…), đến thời gian dài ngày hay ngắn ngày, đến mức độ hàilòng và mong muốn quay trở lại của họ Tuy nhiên, sự phát triển bền vững sẽđược đảm bảo hơn trong trường hợp lượng khách du lịch ít (không gây áp lựcđến tài nguyên, môi trường) nhưng thời gian lưu trú dài hơn và có khả năngchi trả cao hơn

Trang 21

Ngoài ra, sự quay trở lại của khách du lịch cũng là một trong những chỉtiêu đánh giá mức độ phát triển bền vững của du lịch Chất lượng sản phẩm

du lịch, chất lượng các dịch vụ bổ sung, chất lượng của đội ngũ trong laođộng du lịch sẽ đảm bảo đáp ứng mức độ hài lòng của khách du lịch làm tăngthêm mong muốn quay trở lại của họ và cũng chính họ sẽ là người quảng cáotốt nhất cho hoạt động du lịch Tỷ lệ khách du lịch quay trở lại càng chứng tỏrằng hoạt động du lịch đang phát triển đúng hướng và có hiệu quả Điều nàycàng quan trọng đối với những đối tượng khách du lịch từ những thị trườngkhách có khả năng chi trả cao, có thời gian lưu trú dài ngày

Như vậy, để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững thì ngoài sự pháttriển liên tục của chỉ tiêu về số lượng khách, các chỉ tiêu khác có liên quanđến khách du lịch (ngày lưu trú, mức chi tiêu, mức độ hài lòng…) cũng cầnđược phát triển liên tục và bền vững

Chỉ tiêu thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội ngành du lịch (GDP

du lịch): Thu nhập du lịch là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu

đối với sự phát triển của du lịch cả nước nói chung và du lịch của địa phươngnói riêng, là thước đo mức độ phát triển và cho sự thành công của du lịch Chỉtiêu thu nhập du lịch liên quan chặt chẽ đến chỉ tiêu khách du lịch, sự tăngtrưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập và sẽđóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững của du lịch

Thu nhập du lịch của một vùng lãnh thổ nào đó bao gồm tất cả cáckhoản thu nhập do khách du lịch chi trả khi đến lãnh thổ đó điển hình như:dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển (không kể vận chuyển quốc tế), các dịch

vụ vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác.Ngoài ra còn một số ngành dịch vụ khác không chỉ phục vụ người dân địaphương mà còn phục vụ cho cả khách du lịch như: dịch vụ y tế, ngân hàng,bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng, bảo hiểm…

Trang 22

Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là thước đo sự phát triển kinh tếnói chung và của từng ngành nói riêng Sự phát triển và gia tăng liên tục củachỉ tiêu GDP sẽ phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế có bền vững haykhông? Đối với ngành du lịch, việc tăng trưởng thường xuyên , liên tục củachỉ tiêu GDP không chỉ đảm bảo cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế

mà còn cho thấy vị trí của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Tỷtrọng GDP càng cao, ổn định và tăng trưởng theo thời gian thì ngành du lịchcàng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững

Như vậy, chỉ tiêu thu nhập du lịch và tổng sản phẩm quốc nội là nhữngtiêu chí quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững về mặt kinhtế

Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống cơ sở vật chất kỹ

thuật trong du lịch (cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các phương tiệnvận chuyển, các khu du lịch, các cơ sở dịch vụ bổ sung khác…) là thước đophản ánh trình độ phát triển của ngành du lịch Sự phát triển cả về số lượng,chủng loại và chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, một mặtđáp ứng được mọi nhu cầu của mọi đối tượng khách, mặt khác góp phần quantrọng vào việc hấp dẫn, thu hút khách, đảm bảo cho sự phát triển bền vữngcủa ngành

Để có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật có chất lượng cao thì vấn đềđầu tư rất quan trọng Nếu không được đầu tư hoặc đầu tư không đồng bộ thì

hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sẽ nghèo nàn, lạc hậu, kém chất lượng

và không có khả năng hấp dẫn khách du lịch, không có khả năng lưu giữkhách du lịch dài ngày, làm giảm khả năng chi tiêu của họ, dẫn đến giảmnguồn thu nhập và như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vữngcủa du lịch

Chỉ tiêu nhân lực ngành du lịch: Du lịch là một ngành có nhu cầu về

đội ngũ lao động rất cao Do đó, trong hoạt động du lịch, chất lượng đội ngũ

Trang 23

lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định Bởi vì, nó ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ và cuối cùng là ảnh hưởngđến kết quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng của các chỉ tiêu du lịch khác Nhưvậy, chất lượng đội ngũ lao động được đào tạo không chỉ nhằm nâng cao uytín của ngành, của đất nước mà còn là yếu tố quan trọng trong việc cạnh tranhthu hút khách đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững.

Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch về mặt chuyên môn bên cạnhnhững kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả năng giao tiếp tốt, thông thạo ngoạingữ, cần được trang bị kiến thức về tài nguyên, quản lý môi trường, luật môitrường và hệ thống kiến thức sâu rộng về xã hội Về mặt kỹ thuật, đào tạo độingũ cán bộ trở thành các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, hiểuđược những mối quan hệ sinh thái mà còn giúp đỡ người dân và khách du lịchtrong việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tốt hơn

Tinh thần trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch: Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

trong việc thu hút khách du lịch Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyêntruyền quảng bá thông qua việc cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin vềtuyến điểm, về sản phẩm du lịch sẽ tạo được lòng tin cho du khách đồngnghĩa với việc tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động du lịch

- Các tiêu chí về tài nguyên, môi trường

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo khai thác và sử dụng mộtcách hợp lý, có hiệu quả các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường.Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cần đượcquản lý và giám sát để đáp ứng nhu cầu hiện tại và đảm bảo cho nhu cầu pháttriển du lịch trong tương lai Tiêu chí này bao gồm các chỉ tiêu sau:

Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: Đây là hạt nhân trong phát triển du lịch, trong đó tài nguyên du lịch đóng

vai trò trung tâm Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng

Trang 24

đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả du lịch càng cao Ở những địa phươngcàng có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư, bảo tồn, tôn tạo thì chứng tỏhoạt động phát triển du lịch ở nơi đó càng đáp ứng được mục tiêu phát triểnbền vững.

Theo tổ chức du lịch thế giới, nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì hoạt động

du lịch được xem là trong trạng thái phát triển bền vững

Áp lực tài nguyên, môi trường tại các khu, điểm du lịch: Một trong

những mục tiêu mà phát triển bền vững hướng đến là bảo vệ môi trường Việcphát triển quá nhanh các hoạt động du lịch mà không chú trọng đến công tácđánh giá và quản lý tác động đến môi trường tại các khu vực phát triển du lịch

sẽ là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường vàkết quả là sự phát triển du lịch thiếu bền vững Để hạn chế những tác độngtiêu cực và quản lý nguồn tài nguyên, môi trường một cách có hiệu quả cầnlưu ý đến vấn đề giảm thiểu các chất thải, mức độ kiểm soát các hoạt động dulịch, mức độ đầu tư bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh học, vấn đề sức chứatại các điểm du lịch

Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường: Việc khai thác và sử dụng nguồn tài

nguyên phục vụ du lịch không chỉ mang lại nguồn thu cho ngành du lịch màcòn đóng góp cho cộng đồng địa phương, cơ quan chủ quản các nguồn tàinguyên du lịch Nguồn thu này sẽ đóng góp vào mục đích tôn tạo, bảo tồn vànâng cấp các nguồn tài nguyên đó Mức độ đóng góp của ngành du lịch chocông tác bảo tồn được thể hiện qua tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồnthu Tỷ lệ này càng lớn thì mức độ đóng góp càng cao và đảm bảo cho việckhai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch theo hướng bềnvững Vì vậy đây là tiêu chí không thể thiếu trong việc đánh giá sự phát triển

du lịch bền vững về mặt tài nguyên, môi trường

- Các tiêu chí về xã hội

Trang 25

Trong phát triển du lịch bền vững đòi hỏi ngành Du lịch phải có nhữngđóng góp cụ thể cho quá trình phát triển của toàn xã hội: Tạo công ăn việclàm cho người lao động, tham gia xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượngcuộc sống, chia sẻ lợi ích từ các hoạt động du lịch, đảm bảo sự công bằngtrong phát triển, góp phần hỗ trợ các ngành kinh tế khác cùng phát triển.

Mức độ phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ:

Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp du lịchphải có sự thích nghi cao đối với những thay đổi bởi nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan Để hạn chế được những rủi ro trong quá trình hoạt động chúng

ta cần phải phát triển hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này sẽ tạocông ăn việc làm cho một bộ phận người dân lao động ở địa phương, cải thiệnchất lượng cuộc sống, nâng cao dân trí, thu hút các nguồn lực phát triển dulịch, phù hợp với tính chất xã hội hóa cao của du lịch, đảm bảo sự phát triển

du lịch bền vững về mặt kinh tế, xã hội

Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: Du lịch là một ngành

mang tính xã hội hóa cao, vì vậy các hoạt động phát triển du lịch không tránhkhỏi những tác động mạnh mẽ lên nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó baogồm cả 2 mặt tích cực và tiêu cực Để đảm bảo cho sự phát triển du lịch bềnvững, vấn đề đặt ra ở đây là cần phát huy hơn nữa những mặt tích cực vàkiểm soát, hạn chế những tiêu cực từ hoạt động này

Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương với các hoạt động du lịch: Để đảm bảo phát triển du lịch bền vững cần có sự ủng hộ, hợp

tác của cộng đồng địa phương bởi họ chính là người bảo vệ, là chủ nhân củacác nguồn tài nguyên và môi trường du lịch Do vậy, mức độ hài lòng củacộng đồng dân cư địa phương đối với các hoạt động du lịch sẽ phản ánh mức

độ bền vững của du lịch trong quá trình phát triển

Để có được sự hài lòng và hợp tác của cư dân địa phương thì vai trò vàtrách nhiệm của họ phải được quan tâm hàng đầu, cụ thể là:

Trang 26

- Phải phát huy được vai trò của cộng đồng địa phương trong việc giámsát, thực hiện các dự án quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch.

- Tăng cường khả năng tham gia của cộng đồng địa phương trong côngtác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường

- Ưu tiên cho người dân địa phương tham gia vào các hoạt động kinhdoanh du lịch trên địa bàn, tạo công ăn việc làm, cải thiện chất lượng cuộcsống

- Phúc lợi xã hội chung cho cộng đồng địa phương được nâng cao lênnhờ các hoạt động phát triển du lịch trên địa bàn địa phương

1.2 Quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồntại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước Đó chính là hoạt động quản

lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phậnquan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơnphương đối với xã hội Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước

Hiện nay, quyền lực nhà nước ở mọi quốc gia trong quá trình thực thiđều được chia thành ba bộ phận cơ bản là quyền lập pháp, quyền hành pháp

và quyền tư pháp

- Quyền lập pháp là quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp và Luật, tức

là quyền xây dựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh tất cả các mốiquan hệ xã hội theo định hướng thống nhất của nhà nước Quyền lập pháp do

cơ quan lập pháp thực hiện

Trang 27

- Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật, tức là quyền chấp hànhluật và tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật Quyền này

do cơ quan hành pháp thực hiện, bao gồm cơ quan hành pháp Trung ương và

hệ thống cơ quan hành pháp ở địa phương

- Quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật do cơ quan tư pháp (trướchết là hệ thống Tòa án) thực hiện

Ở Việt Nam, “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi

ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [2, tr5] Theo cơ chế đó, quyền lập

pháp được trao cho một cơ quan duy nhất thực hiện là Quốc hội Quyền hànhpháp được trao cho Chính phủ và bộ máy hành chính địa phương thực hiệnbao gồm quyền lập quy và điều hành hành chính Quyền tư pháp được traocho hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp và hệ thống Tòa án nhân dâncác cấp thực hiện

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước.

1.2.1.2 Khái niệm Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Với tư cách là chủ thể, nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý tất cả cáclĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội và ngành du lịch cũng nằm trong số đó.Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước đểduy trì và phát triển bền vững Việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớnvào khung pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độphát triển của đất nước Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững làmột lĩnh vực của quản lý nhà nước, là hoạt động của hệ thống các cơ quan

Trang 28

nhà nước nhằm quản lý vi mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống cácchính sách, chương trình, văn bản quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo,điều hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả tronglĩnh vực du lịch.

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau đối vớiquản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững, có thể đưa ra định nghĩa tổngquát như sau:“Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là sự tác động

có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua hệ thống phápluật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và pháttriển ngày càng bền vững các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằmđạt được hiệu quả về kinh tế, tự nhiên và xã hội đã đặt ra” Quản lý nhà nước

về phát triển du lịch bền vững nhằm đưa du lịch phát triển bền vững theo địnhhướng chung của tiến trình phát triển đất nước và theo quy định của pháp luật

Ở Việt Nam, cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về pháttriển du lịch bền vững trong phạm vi cả nước là Tổng cục Du lịch Tổng cục

Du lịch thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về phát triển du lịchbền vững trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công về phát triển dulịch bền vững theo quy định của pháp luật

1.2.2 Nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Là một hoạt động đặc trưng, du lịch chỉ phát triển một cách bền vữngtrong những điều kiện mà nó cho phép Trong những điều kiện này có nhữngđiều kiện mang đặc tính chung thuộc về các mặt của đời sống xã hội, bêncạnh đó do đặc điểm vị trí địa lý từng vùng mà nó tạo nên những tiềm năng

du lịch khác nhau

Trang 29

Điều kiện tự nhiên là toàn bộ các điều kiện môi trường tự nhiên như:địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; nguồn động, thực vật phong phú; vị trí địa

lý thuận lợi, có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn…Đây là cơ sởcho quy hoạch phát triển du lịch bền vững và các biện pháp chính sách đểphát triển sản phẩm du lịch, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch Nhữngyếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi đã giúp choviệc hoạch định phát triển du lịch bền vững và đưa ra thực thi các quyết địnhquản lý nhà nước về du lịch

1.2.2.2 Kinh tế xã hội

Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tácđộng tới sự phát triển bền vững của du lịch và quản lý du lịch Khi kinh tếphát triển ổn định với môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện chocác tổ chức, doanh nghiệp và du khách thuận lợi tham gia vào các hoạt động

du lịch, điều đó cũng thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước Trong thực tế,

sự ổn định chính trị và xã hội được một số nghiên cứu xem như là một đặcđiểm của sản phẩm du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cầu của nhiều phân đoạnthị trường du lịch Khi các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của một điểm

du lịch biến động nhiều hơn khả năng dự trữ nguồn tài nguyên thì chúng cóthể là nguyên nhân làm vai trò và sự đóng góp của ngành du lịch trong GDP(Tổng sản phẩm quốc nội) không ổn định

Cơ sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp cũng nhưchất lượng dịch vụ du lịch cung cấp cho khách hàng Có hai loại cơ sở vậtchất kỹ thuật đó là: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng xã hội.Các thành tựu kinh tế, chính trị cũng có sức thu hút đối với nhiều khách dulịch Các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế, kỹ thuật là một ví dụ cho việc thuhút du khách Các thương nhân tìm đến để thiết lập quan hệ, quảng bá sảnphẩm Khách tham quan tìm đến để thỏa mãn những mối quan tâm, hiếu kỳ.Các nhà nghiên cứu tìm đến để quan sát, xem xét và học hỏi,…

Trang 30

1.2.2.3 Đường lối phát triển du lịch bền vững

Đường lối phát triển du lịch bền vững có ý nghĩa cực kì quan trọng đốivới mỗi quốc gia, bởi đây chính là chìa khóa mang lại sự thành công chongành công nghiệp được ví như “con gà đẻ trứng vàng” Đường lối phát triển

du lịch bền vững được biểu hiện cụ thể qua các chính sách, chiến lược xácđịnh phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch bền vững về tổng thể dài hạnnhư: chiến lược đầu tư, xúc tiến, quảng bá du lịch, chiến lược về sản phẩm,nâng cao chất lượng các dịch vụ, giữ gìn tôn tạo và phát triển tài nguyên môitrường đi kèm với đó là những giải pháp cơ bản nhất để nhằm thực hiện chiếnlược Nó góp phần hỗ trợ và giúp các nhà quản lý chủ động trong kế hoạchđầu tư phát triển ngành du lịch bền vững, tạo cơ sở xây dựng các quyết sáchđúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế Như vậy, có thể nói việc xây dựngđược chiến lược phát triển bền vững, đưa ra được những bước đi đúng hướng

sẽ tạo cho ngành du lịch có những bước đột phá mới trong tiến trình hoạtđộng, ngược lại, nếu đưa ra những đường hướng không phù hợp với quy luật

và thực tế phát triển nói chung sẽ trở thành nguyên nhân kìm hãm du lịch pháttriển bền vững

Sự phát triển bền vững của du lịch là đối tượng của quản lý nhà nước

du lịch trên địa phương hay lãnh thổ nào đó Hoạt động du lịch tốt thể thiệnqua sự phát triển bền vững của du lịch Khi du lịch phát triển một cách bềnvững, quy mô của nó ngày càng lớn hơn, phạm vi mở rộng hơn và chất lượngcao hơn cũng như nhiều quan hệ phát sinh và phức tạp hơn Hay nói cáchkhác, đối tượng của quản lý nhà nước du lịch vận động và thay đổi theo thờigian và theo quy luật kinh tế khách quan Trong khi các quyết định của quản

lý nhà nước mang tính chủ quan, chỉ có hiệu lực nếu phù hợp và có tính khoahọc cao Do đó, quản lý nhà nước du lịch cũng luôn phải đổi mới toàn diện từhoạch định, tổ chức, điều hành đến kiểm soát và điều chỉnh Chỉ có như vậyquản lý nhà nước mới có hiệu lực thật sự

Trang 31

1.2.2.4 Cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Bảo đảm quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững có hiệu lực

và hiệu quả thì nhân tố bên trong này rất quan trọng Nhân tố này được cấuthành bởi ba thành phần: (1) Tổ chức bộ máy; (2) cơ chế hoạt động; (3) nguồnnhân lực quản lý; (4) nguồn lực cho quản lý Hoạt động quản lý nhà nước vềphát triển du lịch bền vững bản thân nó cũng là một hoạt động kinh tế khi nócung cấp sản phẩm là các quyết định quản lý nhà nước Quá trình này cũngđòi hỏi phải có các nguồn lực để thực hiện Do đó số lượng điều kiện nguồnlực cũng quyết định đến chất lượng hoạt động của công tác quản lý nhà nước

về phát triển du lịch bền vững

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

1.2.3.1 Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch bền vững

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phứctạp, do đó, nhà nước phải đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch đểthúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn củaquốc gia Để làm được điều này, nhà nước phải xác định được chiến lược tổngthể phát triển du lịch bền vững phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huyđược tính đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách dulịch, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bênngoài

Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu cuối cùng là các đơn vị kinhdoanh có lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽgây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường vàthực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng pháttriển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch,…hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất – kỹ thuật như nhà hàng, khách sạn Vì thế, nhà nước phải hết sức quan

Trang 32

tâm đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển du lịch bền vững của đất nước.

1.2.3.2 Ban hành các văn bản pháp luật về phát triển du lịch bền vững

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng từ các quyđịnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo

Để các quy định, chính sách đó đi vào cuộc sống thì Nhà nước phải xây dựng,ban hành và tổ chức thực hiện chúng một cách nghiêm chỉnh Như vậy, muốnquản lý sự phát triển ngành du lịch tại địa phương, các cơ quan nhà nước ởđịa phương cần chỉ đạo thực hiện các luật lệ, chính sách của Trung ương banhành có hiệu quả ở địa phương mình, ban hành các văn bản quy phạm phápluật tại địa phương xuất phát từ yêu cầu quản lý phát triển ngành ở địaphương nhưng không trái với luật pháp của Nhà nước Mục đích là thiết lậpmôi trường pháp lý để đưa các hoạt động du lịch vào khuôn khổ, tạo điều kiệnthuận lợi cho du lịch phát triển bền vững Tăng cường công tác kiểm tra, giámsát việc thực hiện các văn bản, các chính sách, pháp luật du lịch trên địa bàn,

xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổicác chính sách của mình, xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới banhành, giảm tối đa sự trùng lắp gây khó khăn cho hoạt động du lịch

Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo theo đúngquy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phảithông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khíchphát triển Phải đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm minh trong quátrình thực thi văn bản quy phạm pháp luật

1.2.3.3.Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, do đó quản lý nhà nước đốivới phát triển du lịch bền vững phải tạo được những cân đối chung, điều tiết

Trang 33

được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp

lý thuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển bền vững Và để thực hiệntốt điều này, bộ máy quản lý nhà nước phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ,

có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương, đồng thời các cơ quan trong bộmáy đó phải luôn được phối hợp chặt chẽ với nhau để đảm bảo du lịch luôn

có sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động

Hiện nay, theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì hoạtđộng du lịch chịu sự quản lý thống nhất của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang

Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Chính phủ thống nhất quản

lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững Chính phủ trao cho Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững và chịutrách nhiệm trước Chính phủ Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phốihợp với cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững ở Trungương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Tổng cục Du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về phát triển du lịchbền vững trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công về du lịch theoquy định của pháp luật Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp củaChính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phát triển du lịchbền vững tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế,chính sách phát triển du lịch bền vững phù hợp với thực tế tại địa phương và

có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tạikhu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Các cơ quan quản lýnhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ

Trang 34

mối quan hệ chặt chẽ, liên quan mật thiết với nhau trong việc tổ chức thựchiện pháp luật và thực hiện quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững.

Có thể mô tả hệ thống quản lý Nhà nước về du lịch theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý Nhà nước về Du lịch

1.2.3.4 Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ.

Cũng như các lĩnh vực khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạtđộng du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này.Bởi lẽ, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh quốc gia, giữa các ngành các doanhnghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trítuệ của nhà quản lý và chất lượng nguồn nhân lực Để hoạt động du lịch củamột quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồidưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động phát triển

Trang 35

du lịch bền vững cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt, nhữngđịa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bền vững cần phải cóchiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có nhưvậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sởvật chất – kỹ thuật du lịch là một trong những điều kiện quan trọng để pháttriển du lịch bền vững Vì vậy, cơ quan nhà nước cần có chính sách ưu tiên,

hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch tại các điểm du lịch như

mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện nước, phát triển hệ thống thôngtin liên lạc, ứng dụng khoa học, công nghệ về du lịch để hỗ trợ trong việc tôntạo và bảo tồn các di tích văn hóa – lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnhquan du lịch…

1.2.3.5 Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài.

Nâng cao tính liên kết là một điều kiện tất yếu để phát triển bền vữngngành du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên kếtngành, vùng và quốc gia Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp dulịch, liên kết giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ tạonên một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi, công bằng Để tạo điều kiệntốt hơn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, cơquan nhà nước cần làm tốt việc cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới

về phát triển du lịch bền vững, tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý nhà nước

và cán bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họ hiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụcủa Nhà nước và của doanh nghiệp theo luật quốc tế và điều kiện của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) Chính quyền cấp tỉnh cần phải trở thành trungtâm gắn kết giữa các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn với thị trường liênvùng, khu vực và trên thế giới, nhất là các trung tâm kinh tế lớn Một mặt,chính quyền cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ tham gia hợp tác quốc tế về du lịch

Trang 36

theo quy định của pháp luật, góp phần đẩy mạnh liên kết và hội nhập dịch vụ

du lịch với các nước trong khu vực và quốc tế Mặt khác, cần chủ động làm

“đầu nối” thông qua việc tổ chức và thiết lập các điểm thông tin, lựa chọn vàcông bố các địa chỉ giao dịch của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có uytín đang hoạt động tại các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giớinhằm giúp các doanh nghiệp có những thông tin cần thiết để có thể lựa chọnđối tác liên doanh, liên kết

Hơn nữa, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch của địaphương thông qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tổ chức các đoàn công táckết hợp tham quan trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trong nướchoặc nước ngoài…

1.2.3.6 Tổ chức việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và

xử lý vi phạm pháp luật về phát triển du lịch bền vững

Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cựcnhư khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môitrường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóacủa đất nước, của địa phương…Do đó, cơ quan nhà nước phải chỉ đạo thựchiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt độngphát triển du lịch bền vững để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời nhữnghành vi tiêu cực có thể xảy ra Để thực hiện tốt nội dung này, cơ quan nhànước cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vànhững quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các điểm, khu du lịch trên địabàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất lànhững hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh

lữ hành, đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về pháttriển du lịch bền vững trên địa bàn

Trang 37

1.2.4 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Nhà nước ra đời là nhằm thực hiện vai trò, chức năng quản lý mọi mặtcủa đời sống kinh tế - xã hội Bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào cũng cần đến

sự quản lý, điều tiết của nhà nước nhằn đảm bảo an ninh trật tự, phát triểnkinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, và du lịch cũngkhông ngoại lệ Du lịch là một hiện tượng, một yếu tố cấu thành nên các hìnhthái kinh tế xã hội Bên cạnh các quy luật chung, nó hình thành, vận động vàphát triển theo những quy luật riêng của mình Thực chất quá trình quản lýcác hoạt động du lịch là việc tác động đến chúng nhằm thực hiện các mục tiêu

đã định trước Chính vì vậy, để đảm bảo cho ngành kinh tế du lịch phát triển

ổn định, bền vững, phát huy được tối đa những lợi ích và những hạn chế, tiêucực thì cần phải có sự quản lý của nhà nước Nhà nước cần thể hiện vai tròcủa mình để đảm bảo ngành du lịch phát triển bền vững theo định hướng, gópphần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhà nước là người đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền tronghiến pháp của công dân nói chung và văn hóa nói riêng, điều tiết sự phát triểnhài hòa, phù hợp với sự phát triển bền vững của du lịch, lợi ích văn hóa củacác nhóm xã hội, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn du lịch của các dân tộc,các vùng miền trên lãnh thổ cả nước Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp

có thể để can thiệp vào hoạt động du lịch nhằm tạo ra môi trường du lịch lànhmạnh, phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,phát triển xã hội một cách hài hòa, phù hợp với giá trị và văn hóa của mộtquốc gia, một vùng, một địa phương Mặt khác, với tính chất mà một ngànhkinh tế - xã hội mang lại những hiệu quả tổng hợp, cũng như các ngành kinh

tế khác, du lịch muốn phát triển bền vững không thể đặt ngoài sự quản lý vĩ

mô của Nhà nước

Trang 38

Sự quản lý của nhà nước đảm bảo cho du lịch phát triển ổn định, bềnvững, phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế của những mặt trái Điều nàyxuất phát từ bản chất của du lịch là một lĩnh vực kinh tế mang tính đặc thù rõnét, bên cạnh các quy luật chung, du lịch được hình thành, vận động và pháttriển theo những quy luật riêng của mình Theo đó, ngoài những tác động tíchcực làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước, hoạt động này cũnglàm nảy sinh nhiều mặt tiêu cực, đặc biệt là đối với môi trường Chính vì vậy,

để đảm bảo cho ngành du lịch phát triển bền vững không thể thiếu sự quản lýcủa nhà nước

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, du lịch có quan hệ chặt chẽ với cácngành khác như giao thông, thuế, tài chính, điện, bưu điện,…Mối quan hệgiữa chúng là mối quan hệ qua lại chặt chẽ, sự phát triển bền vững của du lịchthúc đẩy các ngành khác phát triển và ngược lại, sự phát triển của các ngànhkhác góp phần không nhỏ để du lịch phát triển bền vững Do vậy, phải xácđịnh phát triển du lịch bền vững là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành cóliên quan, đồng thời có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ để phát huy mộtcách có hiệu quả mối quan hệ giữa du lịch và các ngành khác Sự phối hợpchặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có liên quan đến hoạt động du lịch sẽ tạohiệu quả rộng lớn hơn, thúc đẩy tăng trưởng các yếu tố tích cực, hạn chế, khắcphục các yếu tố tiêu cực do hoạt động kinh doanh du lịch mang lại Sự phốihợp này thể hiện thông qua việc xây dựng các quy chế liên ngành giữa các cơquan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Du lịch, UBND các huyện thị) với các

cơ quan ban ngành có liên quan như Điện, Bưu điện, Giao thông, tài chính…nhằm tạo ra cơ chế “một cửa” trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với pháttriển du lịch bền vững và các hoạt động liên quan

Nhà nước định hướng sự phát triển bền vững của du lịch bằng chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng cácnguyên tắc của hoạt động du lịch và ngành du lịch Cụ thể là nhà nước không

Trang 39

buông lỏng hay thả nổi công tác quy hoạch, kế hoạch nhưng phải đổi mớicông tác đó cho phù hợp với yêu cầu xã hội, nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Cần phát huy tối đa mọilợi thế về du lịch và các hoạt động phục vụ du lịch của quốc gia, vùng và địaphương Thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội nói chung

và của ngành du lịch nói riêng Thông qua các chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển bền vững ngành du lịch, nhà nước sẽ định hướng cho cáchoạt động du lịch phát triển bền vững theo hướng tích cực với việc khai tháchiệu quả và bền vững các tài nguyên du lịch, nhất là tài nguyên du lịch tựnhiên và lịch sử

Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các chủ thể kinh doanh du lịchhoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh, thiếu văn minh, hoặc đơn thuần chỉ chạy theo lợi nhuận màphá hoại môi trường sinh thái, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xãhội Cơ quan quản lý nhà nước không chỉ đơn thuần là kiểm tra, kiểm soáthoạt động của các doanh nghiệp mà còn có vai trò quan trọng trong việc giảiquyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các doanhnghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp được phát triển hoạtđộng kinh doanh của mình

Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buônglỏng quản lý nhà nước để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệchhướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, khôngđảm bảo phát triển du lịch bền vững

Như vậy, quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là việc làmkhông thể thiếu và thực sự rất cần thiết đối với sự phát triển của đất nước nóichung và sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng

1.3 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền vững của một số địa phương trong nước

Trang 40

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền vững ở Nha Trang

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế,văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa Thành phố NhaTrang hiện nay có diện tích tự nhiên là 251 km² với dân số 392.279 (2009).Nha Trang là thành phố du lịch biển nổi tiếng nhất của Việt Nam Các bãibiển dọc chiều dài thành phố và trên các đảo thuộc Vịnh Nha Trang như HònTre, Hòn Tằm, Hòn Mun, Hòn Chồng – Vợ đều là những thắng cảnh tuyệt vờithu hút du khách trong và ngoài nước Du lịch Nha Trang còn thu hút kháchbởi di tích Chămpa nổi tiếng là Tháp Bà Ponagar và các điểm tham qua thú vịtrong thành phố như Chợ Đầm, Chùa Long Sơn, Nhà Thờ Núi và Biệt thựCầu Đá (Lầu Bảo Đại) Nha Trang cũng tổ chức nhiều sự kiện du lịch, đángchú ý là Festival Biển Nha Trang với nhiều hoạt động vui chơi giải trí phongphú Những năm gần đây, ngành dịch vụ du lịch ngày càng khẳng định vị tríquan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố Nha Trang, hệ thống cơ sở hạtầng, các loại hình dịch vụ được đầu tư đồng bộ, hiện đại Đến đây, du khách

có nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí, thư giãn phù hợp với túi tiền Vì vậy, quanhnăm hai thành phố này luôn tấp nập khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tếlưu trú dài ngày nên doanh thu du lịch luôn cao và tăng trưởng đều theo từngnăm Theo báo cáo của Sở Du lịch, 5 tháng qua, toàn tỉnh đón hơn 1,6 triệulượt khách lưu trú, trong đó có 446.236 lượt khách quốc tế Trong số các thịtrường khách quốc tế, khách đến từ Trung Quốc chiếm số lượng lớn với175.000 lượt [tr28]

Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững của Thành phốNha Trang được chú trọng và đẩy mạnh Thành ủy Nha Trang, Tỉnh ủyKhánh Hòa trực tiếp chỉ đạo các sở, phòng, ban chuyên môn xây dựng cácnghị quyết chuyên đề hoặc đề án như: đề án quản lý vỉa hè lòng đường không

vì mục đích giao thông; đề án quản lý các tuyến phố kinh doanh theo từng

Ngày đăng: 24/10/2023, 17:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý Nhà nước về Du lịch - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Sơ đồ 1.1 Hệ thống quản lý Nhà nước về Du lịch (Trang 34)
Bảng 2.1. Lưu lượng khách đến Trà Vinh 2012 – 2016 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.1. Lưu lượng khách đến Trà Vinh 2012 – 2016 (Trang 49)
Bảng 2.3. Cơ cấu cơ sở lưu trú tỉnh Trà Vinh năm 2016 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.3. Cơ cấu cơ sở lưu trú tỉnh Trà Vinh năm 2016 (Trang 52)
Bảng 2.4. Doanh nghiệp kinh doanh ăn uống giai đoạn 2012 – 2016 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.4. Doanh nghiệp kinh doanh ăn uống giai đoạn 2012 – 2016 (Trang 54)
Bảng 2.5. Đơn vị, doanh nghiệp sở hữu, quản lý khu, điểm du lịch - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.5. Đơn vị, doanh nghiệp sở hữu, quản lý khu, điểm du lịch (Trang 55)
Bảng 2.7. Cơ cấu vốn đầu tư du lịch tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2013 – 2020 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.7. Cơ cấu vốn đầu tư du lịch tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2013 – 2020 (Trang 58)
Bảng 2.9. Lao động theo trình độ của ngành du lịch tỉnh Trà Vinh - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.9. Lao động theo trình độ của ngành du lịch tỉnh Trà Vinh (Trang 60)
Bảng 2.8. Lao động ngành du lịch tỉnh Trà Vinh từ 2012 – 2016 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 2.8. Lao động ngành du lịch tỉnh Trà Vinh từ 2012 – 2016 (Trang 60)
Bảng 3.1. Dự báo tình hình hoạt động du lịch năm 2016 – 2020 - Luận văn ThS QLC  Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố trà vinh, tỉnh trà vinh
Bảng 3.1. Dự báo tình hình hoạt động du lịch năm 2016 – 2020 (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w