1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương

65 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Tác giả Nguyễn Anh Thư
Người hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên
Trường học Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề (9)
      • 1.2.1. Mục tiêu (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
  • Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (10)
      • 2.1.1. Điều kiện của trang trại (10)
      • 2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại (11)
      • 2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại (12)
      • 2.1.4. Thuận lợi và khó khăn của trại (13)
    • 2.2. Tổng quan tài liệu (14)
      • 2.2.1. Cơ sở khoa học (14)
        • 2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh tới 21 ngày tuổi (14)
      • 2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước (26)
  • Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (30)
    • 3.1. Ðối tượng (30)
    • 3.2. Ðịa điểm và thời gian tiến hành (30)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (30)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (30)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (30)
      • 3.4.2. Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) (30)
      • 3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (33)
  • Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (34)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương qua 3 năm (34)
    • 4.2. Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại (35)
      • 4.2.1. Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi (0)
    • 4.3. Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (41)
    • 4.4. Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi (42)
      • 4.4.1. Biện pháp vệ sinh phòng bệnh (42)
      • 4.4.2. Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi (46)
    • 4.5. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (47)
      • 4.5.1. Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (47)
      • 4.5.2. Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (53)
  • Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (55)
    • 5.1. Kết luận (55)
    • 5.2. Đề nghị (56)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, thuộc công ty cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam), chuyên chăn nuôi gia công Được thành lập từ năm 2007, trang trại chuyên sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp với quy mô 1200 nái, tọa lạc tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Tứ Kỳ là huyện thuộc tỉnh Hải Dương, tọa lạc tại trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, nằm giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình Vị trí địa lý của huyện được xác định rõ ràng, góp phần vào sự phát triển kinh tế và văn hóa của khu vực.

+ Phía đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); + Phía tây bắc giáp thành phố Hải Dương;

+ Phía tây giáp huyện Gia Lộc;

+ Phía tây nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương; + Phía đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc);

+ Phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình)

- Huyện có 26 đơn vị hành chính Dân số huyện Tứ Kỳ gần 168.790 người, mật độ là 790 người/ m² Tổng diện tích tự nhiên là 170.03 km²

Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè

Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.060 mm đến 2.157 mm, với trung bình đạt 1.567 mm, chủ yếu tập trung trong tháng 6 và tháng 7 Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, với mức cao nhất lên tới 88% và thấp nhất là 67%.

Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 21C đến 23C, với mùa nóng chủ yếu diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7 Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa được ảnh hưởng bởi gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam.

Về chế độ gió: Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

- Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2007, trại đi vào sản xuất được

Trong suốt 11 năm qua, sản xuất của trại chăn nuôi không ngừng gia tăng, góp phần cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên Chủ trang trại là người đam mê và tâm huyết với nghề, đã tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ công nhân có kinh nghiệm, gắn bó lâu dài với trại Đội ngũ này hiện có 24 người, tạo nên một lực lượng lao động tận tâm và yêu nghề.

- Lao động gián tiếp có 5 người:

- Lao động trực tiếp có 19 người:

+ Quản lý (thầy giáo của trung tâm đào tạo CP): 1;

+ Tổ trưởng: 2 (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu);

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

- Về cơ sở vật chất:

Trang trại được trang bị đầy đủ các thiết bị và máy móc phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của công nhân và sinh viên, bao gồm máy giặt, hệ thống tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh và quạt.

+ Trại còn đầu tư mua bàn chơi bi a, cầu lông để công nhân giải trí sau giờ làm việc

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư theo đúng yêu cầu của công ty CP

Trại lợn được xây dựng trên diện tích khoảng 0,5 ha, bao gồm nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, khu bếp ăn, cùng các công trình phục vụ nhu cầu của nhân viên và các hoạt động khác tại trại.

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) và sàn nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy

- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước tự động cho lợn

- Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

Trại còn được trang bị một máy phát điện công suất lớn, có khả năng cung cấp điện cho toàn bộ khu sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi trong những trường hợp mất điện.

 Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)

+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

Trại nuôi lợn được trang bị một nhà kho để lưu trữ thức ăn và một kho thuốc nhằm bảo quản các loại thuốc, vắc xin cùng dụng cụ kỹ thuật, phục vụ cho công tác chăm sóc và điều trị đàn lợn.

Khu vực chuồng nuôi tại trại được xây dựng trên nền cao, thuận lợi cho việc thoát nước và được phân tách rõ ràng với khu sinh hoạt chung của công nhân, nhằm đảm bảo đủ không gian cho 1200 nái cơ bản.

Trong hệ thống chăn nuôi, có 6 chuồng lợn đẻ được chia thành 2 dãy, bao gồm dãy 123 và 456 Mỗi chuồng đẻ được phân thành 2 ngăn, với mỗi ngăn có 2 dãy chuồng, mỗi dãy gồm 14 ô chuồng Tổng cộng, hệ thống này có 56 ô chuồng, được thiết kế với sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ, đảm bảo môi trường sống thuận lợi cho cả hai loại lợn.

Trong chuồng lợn bầu, có hai chuồng được thiết kế với kiểu chuồng cũi sắt, mỗi chuồng đều trang bị hệ thống điện chiếu sáng và vòi uống nước tự động cho từng ô Đặc biệt, chuồng lợn đực được đặt trong chuồng bầu 1.

Trong trang trại, có 3 chuồng cách ly được thiết kế để nuôi lợn hậu bị nhập từ các trại gia công của Công ty Cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam), cùng với 1 chuồng cách ly dành cho lợn con.

Hệ thống chuồng nuôi được thiết kế khép kín, bao gồm giàn mát ở đầu chuồng và quạt hút gió ở cuối, cùng với hệ thống chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm lợn con Điều này giúp duy trì môi trường thoáng mát vào mùa Hè và ấm áp vào mùa Đông thông qua việc điều chỉnh quạt, giàn mát và đèn sưởi Ngoài ra, chuồng còn được trang bị hệ thống thoát phân và nước thải, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc.

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại

+ Được Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam) cung cấp về con giống, thức ăn và thuốc uống có chất lượng tốt

Trại được đặt ở vị trí xa khu dân cư, giữa cánh đồng, nhằm không gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân xung quanh và đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn dịch bệnh.

Tổng quan tài liệu

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh tới 21 ngày tuổi a Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con

Trong nuôi dưỡng lợn con giai đoạn theo mẹ, ngoài việc cung cấp sữa mẹ, người chăn nuôi cần chú ý đến các yếu tố quan trọng như chăm sóc lợn con sơ sinh, cho bú sữa đầu, sưởi ấm và tập ăn sớm cho lợn con Những yếu tố này giúp nâng cao tỉ lệ nuôi sống đến khi cai sữa, đồng thời đảm bảo lợn con sinh trưởng và phát triển tốt.

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con phát triển nhanh chóng trong 21 ngày đầu nhưng sự tăng trưởng không đồng đều và sau đó giảm dần do lượng sữa mẹ giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu thấp Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 tuần, được gọi là giai đoạn khủng hoảng Để hạn chế khủng hoảng này, việc cho lợn con ăn sớm là cần thiết Sự tăng trưởng nhanh chóng của lợn con dẫn đến quá trình tích lũy dinh dưỡng mạnh mẽ.

Lợn con từ 3 tuần tuổi có khả năng tích lũy từ 9 đến 14 gam protein mỗi kg khối lượng cơ thể mỗi ngày, trong khi lợn trưởng thành chỉ đạt 0,3 đến 0,4 gam protein/kg khối lượng cơ thể.

Để tăng 1 kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng hơn so với lợn trưởng thành, vì vậy cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc Việc sản xuất 1 kg thịt nạc yêu cầu ít năng lượng hơn so với 1 kg mỡ Điều này phản ánh đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa ở lợn con.

Khối lượng bộ máy tiêu hóa của lợn con tăng từ 10 - 15 lần, với chiều dài ruột non tăng gấp 5 lần và dung tích bộ máy tiêu hóa tăng 40 - 50 lần Chiều dài ruột già cũng tăng từ 40 - 50 lần Ban đầu, trọng lượng dạ dày chỉ từ 6 - 8g, có khả năng chứa 35 - 50g sữa Tuy nhiên, chỉ sau 3 tuần, trọng lượng dạ dày đã tăng gấp 4 lần, và khi lợn con đạt 60 ngày tuổi, trọng lượng dạ dày đạt 150g, có khả năng chứa từ 700 - 1000g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005).

Lợn con có giai đoạn đặc biệt không có axit HCl trong dạ dày, đây là một tình trạng thích ứng tự nhiên Giai đoạn này cho phép lợn con hấp thụ các kháng thể từ sữa đầu của lợn mẹ Trong thời kỳ này, dịch vị không thể phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa Huyết thanh chứa albumin và globulin sẽ được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.

Tại Thai Nguyen University – TNU, việc cho lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi ăn sớm không chỉ giúp phát triển nhanh chóng bộ máy tiêu hóa mà còn rút ngắn giai đoạn thiếu axit HCl ở dạ dày Khi lợn con được bổ sung thức ăn, thức ăn này sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị, điều này khác biệt so với con trưởng thành chỉ tiết dịch vị khi có thức ăn vào dạ dày.

Lợn con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do trong dịch vị, dẫn đến việc lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này được gọi là hypohydric Do thiếu HCl tự do, men pepsin trong dạ dày lợn chưa thể tiêu hóa protein trong thức ăn, vì HCl tự do cần thiết để kích hoạt men pepsinogen thành pepsin hoạt động, cho phép tiêu hóa protein hiệu quả.

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con xuất hiện ngay từ khi mới sinh, nhưng khả năng tiêu hóa thực tế chỉ phát triển rõ rệt sau 20 ngày tuổi Việc cho lợn con ăn các loại thức ăn khác nhau làm tăng đáng kể sự tiết dịch vị, đặc biệt là thức ăn hạt, giúp kích thích tiết HCl nhiều hơn và cải thiện tốc độ tiêu hóa so với khi chỉ uống sữa Điều này tạo cơ sở cho việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa cho lợn con.

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004), sự thiếu hụt HCl tự do trong dạ dày tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, dẫn đến các bệnh đường tiêu hóa ở lợn con Để hạn chế tình trạng này, việc kích thích vách tế bào dạ dày tiết HCl tự do sớm hơn là cần thiết, có thể thực hiện bằng cách bổ sung thức ăn cho lợn con từ sớm Nếu lợn con được tập ăn sớm từ 5 - 7 ngày tuổi, HCl tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi.

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã

Đại học Thái Nguyên (TNU) nghiên cứu và phát triển các chất kháng sinh có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh Lợn con mới sinh thường có hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ, dẫn đến việc chúng dễ bị nhiễm bệnh tiêu hóa do vi khuẩn như phó thương hàn và vi khuẩn gây thối rữa Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện sức khỏe đường ruột cho lợn con trong giai đoạn đầu đời.

Theo nghiên cứu của Hội chăn nuôi Việt Nam (2000), lợn con sơ sinh chứa tới 82% nước trong cơ thể Sự mất nước nhanh chóng sau sinh làm giảm nhiệt độ cơ thể từ 5 đến 10 độ C trong vòng 30 phút, gây ra tình trạng lạnh và rối loạn chức năng, dẫn đến nguy cơ chết non cao.

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn chưa hoàn chỉnh do vỏ đại não chưa phát triển đầy đủ, khiến chúng dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường Lợn con có khả năng sinh trưởng nhanh và yêu cầu dinh dưỡng ngày càng cao, trong khi sản lượng sữa của lợn mẹ chỉ tăng trong 2 tuần đầu sau khi đẻ rồi giảm dần về cả chất và lượng Sự mâu thuẫn này giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ có thể dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng, khiến lợn con yếu, gầy còm và tăng tỷ lệ mắc bệnh nếu không được bổ sung thức ăn kịp thời.

Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi có khả năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, dẫn đến thân nhiệt không ổn định do sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa được cân bằng.

Khi còn trong bụng mẹ, lợn con nhận chất dinh dưỡng qua nhau thai, tạo ra một môi trường sống ổn định Tuy nhiên, khi chào đời, lợn con sơ sinh sẽ phải đối mặt với những điều kiện sống khác biệt và thách thức hơn.

Thai Nguyen University – TNU hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ dẫn đến bị còi cọc và tỷ lệ chết sẽ tăng cao

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Ðối tượng

Ðàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Ðịa điểm và thời gian tiến hành

- Ðịa điểm: Trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Nội dung thực hiện

- Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con nuôi tại trại

- Biện pháp phòng trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại.

Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:

Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) =  số lợn mắc bệnh x 100

Tỷ lệ khỏi (%) =  số con khỏi bệnh x 100

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin)

3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Ðể đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, chúng em tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi của bản thân

3.4.2.2 Phương pháp thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại

Chúng em sử dụng chính quy trình đang được áp dụng cho đàn lợn con nuôi tại trại và theo dõi, đánh giá hiệu quả

+ Kiểm tra bóng đèn, quạt, lợn con, lợn nái khi nhận ca

+ Sử dụng hệ thống điện, quạt, giàn mát an toàn, tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả, nhiệt độ thích hợp tại đầu chuồng là 28°C

Vệ sinh máng ăn cho lợn nái và đảm bảo chế độ ăn uống hợp lý là rất quan trọng Lợn nái sắp đẻ nên được cho ăn 2 bữa/ngày vào lúc 7 giờ sáng và 16 giờ 30 chiều Sau khi lợn nái đẻ từ 4 ngày trở đi, cần tăng cường khẩu phần bằng cách cho ăn 3 bữa/ngày vào các giờ 7 giờ sáng, 16 giờ chiều và 21 giờ tối Đồng thời, cần chú ý chăm sóc lợn nái nếu có dấu hiệu bỏ ăn.

+ Thay thảm ướt, thảm bẩn vào đầu các buổi sáng và buổi chiều rồi cho ra bể ngâm

+ Vệ sinh máng tập ăn cho lợn con, tra thức ăn tập ăn thường xuyên + Thu phân đổ vào xe chở phân

+ Rắc vôi và quét dọn 2 đường hành lang trên và 2 hành lang dưới + Theo dõi, bón thức ăn cho lợn nái bỏ ăn

+ Vắt sữa của lợn nái sắp đẻ và đang đẻ (sữa đầu) để bón cho lợn con nhỏ không tranh bú được

+ Đỡ đẻ cho lợn nái

+ Lau vú (nếu bẩn), lau mông, lau sàn: 2 chổi, 1 chổi để lau ô lợn bình thường, 1 chổi lau ô lợn bị tiêu chảy

+ Xịt gầm hàng ngày vào lúc 9 giờ sáng

+ Xả vôi 2 lần/tuần vào thứ 4 và thứ 7

+ Phun thuốc sát trùng ngày 2 lần vào 10 giờ và 14 giờ

+ Cho lợn con uống thuốc phòng bệnh cầu trùng khi được 2 ngày tuổi

+ Tiêm kháng sinh cho lợn nái vừa đẻ xong (tiêm liên tục 3 ngày) vào buổi sáng

+ điều trị lợn nái viêm đường sinh dục

+ Điều trị lợn còi, lợn viêm phổi, viêm khớp vào buổi sáng

+ Điều trị lợn tiêu chảy vào buổi chiều

+ Cắt đuôi cho lợn con 1 ngày tuổi

+ Mài nanh, bấm tai cho lợn con được 2 ngày tuổi

+ Đếm lợn con và ghi vào sổ theo dõi vào cuối ngày

+ Cai sữa mỗi tuần 1 lần vào thứ 2

+ Thiến lợn con vào thứ 3 và thứ 7

+ Làm vắc xin lợn con vào thứ 4

+ Tổng vệ sinh cả trại vào thứ 5

- Trong thời gian trại bị dịch PED

+ Truyền nước sinh lý cho lợn nái bỏ ăn, tiêu chảy

+ Hòa dung dịch điện giải (elextrolytes, oresol) với atropin vào máng cho lợn con uống, hoặc cho từng con uống

+ Trộn elextrolytes hoặc vitamin C vào thức ăn cho lợn nái

+ Làm auto vắc xin (gây nhiễm nhân tạo) cho đàn lợn nái

+ Loại bỏ lợn con quá yếu, tiêu hủy lợn đã chết

+ Thực hiện chế độ chăm sóc đặc biệt với đàn lợn

+ Thường xuyên rắc vôi, phun thuốc sát trùng

3.4.2.3 Phương pháp xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả quy trình phòng trị bệnh sinh sản cho đàn lợn con nuôi tại trại Ðể xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con, chúng em tiến hành theo dõi hàng ngày, thông qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng Bằng mắt thường đánh giá qua biểu hiện lâm sàng như trạng thái cơ thể, các dịch rỉ viêm, phân (màu sắc, mùi, )

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương qua 3 năm

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại trại, tôi đã theo dõi tình hình chăn nuôi trong ba năm từ 2016 đến 2018, thông qua việc thu thập số liệu trực tiếp tại thời điểm thực tập và từ hệ thống sổ sách của trại.

Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016 - 2018

STT Loại lợn Năm 2016 Năm 2017 Đến tháng 5/

Trong ba năm qua, số lượng lợn đực giống tại trại không có sự thay đổi đáng kể Cụ thể, vào năm 2016, trại có 20 con lợn đực giống, tăng lên 21 con vào năm 2017, nhưng đến năm 2018, số lượng lại giảm về 20 con.

Trái lại với đực giống thì số lượng nái sinh sản có chiều hướng tăng nhanh Điển hình là nái sinh sản năm 2016 có 1.256 con, sang năm 2017 tăng

Từ năm 2016 đến 2018, số lượng lợn tăng từ 1.265 con lên 1.277 con, với lợn nái hậu bị duy trì ổn định trong hai năm trước khi tăng thêm 28 con vào năm 2018, đạt 148 con Sự gia tăng này nhằm thay thế cho số lợn nái sinh sản già đã bị loại bỏ Việc tăng số lượng lợn con chủ yếu do số lợn nái sinh sản tăng lên và việc trẻ hóa đàn lợn thông qua việc nhập lợn hậu bị, dẫn đến năng suất sinh sản được cải thiện.

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại

4.2.1 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Chăm sóc lợn con theo mẹ là một thách thức lớn trong chăn nuôi lợn, yêu cầu sự tận tâm từ người chăm sóc để giảm thiểu tác động của môi trường Mục tiêu tại trại là đạt tỷ lệ sống sót của lợn con sau cai sữa trên 95%, với trọng lượng lợn cai sữa từ 5,5 kg đến 7 kg ở độ tuổi 21 - 24 ngày Các bước thực hiện quy trình chăm sóc lợn con cần được tuân thủ nghiêm ngặt để đạt được kết quả mong muốn.

4.2.1.1 Chuẩn bị ô chuồng cho lợn đẻ và đỡ đẻ cho lợn nái

+ Ô chuồng lợn nái trước khi đẻ cần được cọ rửa sạch sẽ, dội nước vôi và phun sát trùng để trống chuồng

+ Hàng ngày sàn, chuồng nái chửa được cào phân thường xuyên, không dính phân bẩn

Nái chửa cần được cho ăn một cách hợp lý trước khi đẻ để đảm bảo quá trình sinh nở diễn ra thuận lợi và vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho việc nuôi con.

Để chuẩn bị ô úm cho lợn con khi sinh, cần che chắn cẩn thận Nhiệt độ ủ ấm cho lợn con trong những ngày đầu rất quan trọng: từ 0 - 7 ngày tuổi, nhiệt độ cần duy trì khoảng 37 - 39°C; từ 8 - 15 ngày tuổi, khoảng 33 - 35°C; và từ 15 - 21 ngày tuổi, khoảng 28 - 31°C.

Khi lợn mẹ có dấu hiệu sắp đẻ, cần vệ sinh bầu vú, mông và bộ phận sinh dục bằng nước sát trùng ấm pha loãng (tỷ lệ 1:3200) Trong quá trình lợn mẹ đẻ, cần theo dõi sát sao, đặc biệt khi có dấu hiệu đẻ khó như khoảng cách giữa các lần đẻ quá lâu hoặc rặn mà không đẩy được thai ra ngoài Trong trường hợp này, cần can thiệp bằng cách xoa bầu vú và tiêm oxytoxin Nếu lợn mẹ vẫn có hiện tượng rặn sau khi tiêm oxytoxin và kiểm tra thấy còn thai, cần tiến hành móc Khi thực hiện biện pháp móc, phải rửa tay sạch bằng nước sát trùng và vệ sinh kỹ lưỡng.

Đại học Thái Nguyên (TNU) sẽ tiến hành quy trình chăm sóc lợn mẹ bằng cách cắt móng tay, sau đó bôi gel và thực hiện móc Cần lưu ý không lạm dụng việc móc, vì điều này có thể dẫn đến viêm nhiễm cho lợn mẹ nếu vệ sinh và thực hiện không đúng cách.

+ Lợn mẹ đẻ xong được lau mông và cơ quan sinh dục bằng nước ấm pha nước sát trùng (tỷ lệ tương ứng 1: 3200) và bôi cồn iod

Khẩu phần ăn cho nái trước, trong và sau khi đẻ được quy định bởi công ty CP nhằm đảm bảo khả năng tiết sữa và nuôi con hiệu quả, đồng thời hỗ trợ quá trình đẻ, đặc biệt là với nái hậu bị.

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ

Chế độ ăn Nái hậu bị (kg) Nái sinh sản (kg)

(Nguồn: kĩ thuật trại Bùi Huy Hạnh cung cấp)

Trong những ngày nắng nóng, lợn mẹ cần được bổ sung điện giải và vitamin C Sau khi sinh, nếu lợn mẹ có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn và giảm tiết sữa, cần tiêm thuốc analgin 1 ml bắp, đồng thời truyền glucose và muối natri clorid để hỗ trợ sức khỏe.

4.2.1.2 Chăm sóc lợn con mới sinh

Khi lợn con được sinh ra, người đỡ đẻ cần lau sạch nhờn trong miệng và mũi để ngăn ngừa dịch nhờn chảy ngược vào khí quản gây ngạt thở Sau đó, toàn thân lợn con cũng cần được lau sạch Nếu lợn con thở yếu, cần vỗ nhẹ vào lưng hoặc gập bụng vài lần cho đến khi lợn con thở đều.

+ Sau khi lau sạch nhờn toàn thân thì tiến hành buộc dây rốn để tránh tình trạng rốn sát với sàn chuồng gây nhiễm trùng rốn

+ Vị trí buộc cách bụng lợn con khoảng 3 - 4 cm, sau khi buộc dùng kéo đã sát trùng cắt cách vị trí buộc 1 cm, sau đó bôi cồn iod

Khi buộc dây rốn, cần thắt chặt để ngăn máu chảy ra Nếu phát hiện máu vẫn chảy, hãy buộc lại, nhưng tránh thắt quá chặt để không làm đứt dây rốn.

Sau khi buộc dây rốn cho lợn con, hãy đặt chúng vào quây úm đã chuẩn bị sẵn, có thắp bóng đèn và lót thảm Vào mùa đông, nên xoa một ít bột mistral lên cơ thể lợn con để giúp ấm nhanh và làm khô cơ thể.

Sữa đầu là nguồn dinh dưỡng quý giá cho lợn con sơ sinh, vì nó chứa nhiều kháng thể giúp bảo vệ lợn con khỏi các mầm bệnh bên ngoài.

Sữa đầu là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho lợn con, chứa nhiều vitamin A, protein, chất béo, canxi, phospho, đường lactose và γ-globulin Để tối ưu hóa khả năng hấp thu kháng thể từ mẹ, lợn con cần được bú sữa đầu trong khoảng 24 - 36 giờ đầu đời, với lượng tối thiểu từ 150 - 200 ml.

- Đồng thời, việc cho lợn con bú sớm cũng kích thích lợn mẹ tiết prolactin, tiết sữa và đẻ nhanh hơn

- Khi lợn con được đẻ ra khoảng 10 phút thì cho lợn con ra bú sữa đầu, vì lợn con được bú sữa đầu sớm sẽ tốt hơn

Ghép đàn là quá trình quan trọng trong chăn nuôi lợn, được thực hiện sau khi lợn con bú sữa đầu hoàn thiện, cụ thể là sau 36 giờ kể từ khi sinh Trong quá trình này, những lợn có trọng lượng lớn sẽ được chuyển vào đàn mới để đảm bảo sự phát triển đồng đều và khỏe mạnh cho đàn lợn.

Đại học Thái Nguyên (TNU) nghiên cứu về việc ghép đàn lợn, đặc biệt là khi có sự chênh lệch trọng lượng phù hợp và số ngày đẻ chỉ khác nhau từ 1 đến 2 ngày Việc ghép đàn thường được thực hiện trong các trường hợp như lợn con mất mẹ, số lượng lợn con trong đàn quá nhiều, lợn mẹ ít sữa hoặc lợn mẹ đang bị bệnh.

4.2.1.3 Chăm sóc lợn con 1 - 2 ngày tuổi

+ Phòng lợn con cắn đuôi nhau khi nuôi thịt

+ Dùng dụng cụ máy cắt đuôi, cắt cách vị trí mông lợn con 2 cm, cắt xong sát trùng bằng cồn iod

+ Phòng tổn thương vú mẹ do lợn con tranh bú và tổn thương lợn con do cắn nhau giành bú

Sử dụng kìm bấm nanh chuyên dụng đã được khử trùng để bấm hai răng nanh của hàm trên và hàm dưới Cần chú ý bấm ở vị trí 1/3 phía trên của răng, tránh bấm quá sâu để không gây tổn thương cho lợi.

+ Để nhận diện lợn, biết được lý lịch, theo dõi được sức tăng trưởng từng cá thể và điều tra ngược khi nuôi thịt có vấn đề bệnh tật

Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã theo dõi tỷ lệ sống sót của lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Kết quả được thể hiện trong bảng 4.4.

Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Tháng Con đực Con cái

Kết quả bảng 4.4 cho thấy:

Tỷ lệ nuôi sống của lợn con đực đạt 95,18%, trong khi lợn con cái cao hơn với 97,96% Sự khác biệt này chủ yếu phụ thuộc vào quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng Tỷ lệ nuôi sống lợn đực thấp hơn lợn cái do thiếu kinh nghiệm trong kỹ thuật và việc quan sát chưa kỹ lưỡng, dẫn đến việc không phát hiện kịp thời các vấn đề như hecni bẩm sinh và tình trạng lòi ruột sau khi thiến.

Lợn con có thể chết vì nhiều nguyên nhân, bao gồm sự yếu ớt khi mới sinh, mắc bệnh, hoặc bị mẹ dẫm đè trong quá trình sống Khi lợn mẹ không chú ý đến việc ăn uống và vệ sinh, lợn con có thể bị đè chết nếu không được phát hiện kịp thời.

Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con gầy yếu và bệnh tật cần được thực hiện tốt để đạt hiệu quả cao Đặc biệt, lợn con không thể tranh bú hoặc đang trong thời gian điều trị nên được cho uống thêm sữa từ những mẹ lợn đang đẻ, kết hợp với thức ăn cháo để phục hồi sức khỏe nhanh chóng.

Những con có dấu hiệu mắc bệnh được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi

4.4.1 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh

Trước khi lợn con ra đời, cần phải vệ sinh sạch sẽ các ô chuồng và vật dụng xung quanh, sau đó rửa bằng nước vôi và để trống chuồng trong 4-5 ngày Trong thời gian chờ đẻ, cần hót phân sạch để đảm bảo môi trường chuồng trại luôn khô ráo và sạch sẽ cho lợn con khi sinh ra.

Mỗi cửa chuồng đều được trang bị khay sát trùng, yêu cầu mọi người phải dẫm qua khay trước khi vào chuồng với tỷ lệ nước sát trùng là 1:200 Khay sát trùng được thay mới mỗi sáng, và tất cả công nhân cũng như kỹ sư đều phải tuân thủ quy trình này khi vào chuồng.

+ Hàng ngày vào 10 giờ và 14 giờ, phun sát trùng toàn chuồng đặc biệt là những chuồng lợn đang đẻ sẽ được phun cẩn thận

Đường tra cám và đường lấy phân cần được giữ khô ráo, hàng ngày được rắc vôi và quét dọn sạch sẽ Phân phải được đưa ra kho hàng ngày, không để tồn đọng trong chuồng.

Mỗi nhân viên trong chuồng đều chú ý quan sát kỹ lưỡng, thay thế ngay những thảm lót bẩn của lợn con bằng thảm mới Việc này rất quan trọng, vì thảm ướt bẩn nếu không được thay sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển.

Để đảm bảo sức khỏe cho lợn con bị tiêu chảy, cần lau sạch những ô chuồng bằng nước sát trùng Lợn con nên được tắm bằng nước ấm pha nước sát trùng với tỷ lệ 1:3200, sau đó được đưa vào khu vực úm có cắm điện Cuối cùng, rắc bột mistral lên lợn con giúp chúng nhanh khô và ấm cơ thể.

Trong điều kiện thời tiết nóng, hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và quạt gió ở cuối chuồng hoạt động hiệu quả để duy trì sự thoải mái cho vật nuôi Ngược lại, vào mùa đông, các dàn mát ở đầu chuồng được che chắn và bóng đèn sưởi được bật trong các ô úm để đảm bảo nhiệt độ ấm áp cho vật nuôi.

+ Lợn con bị bệnh ở những dãy chuồng thì được tách riêng chăm sóc tại dãy đó không được đưa sang dãy chuồng khác

+ Ngoài ra, cầu trùng là một trong những bệnh mà lợn con cũng hay gặp phải, cần chú ý phòng bệnh

+ Thời điểm lợn con mắc bệnh thường: xảy ra trên lợn con theo mẹ từ

+ Chuồng trại thiếu vệ sinh, ẩm ướt, thức ăn và nước uống không sạch + Không được uống thuốc phòng bệnh lúc 3 ngày tuổi

+ Giai đoạn đầu triệu chứng chính là tiêu chảy

Giai đoạn sau của phân sẽ đặc hơn, màu sắc chuyển từ vàng sang xám xanh, và có thể xuất hiện máu trong phân khi bệnh trở nên nghiêm trọng.

+ Khi lợn bị nhiễm cầu trùng sẽ còi cọc hơn, chậm lớn và phát triển không đều

- Điều trị: cho uống toltrazuril 5% với liều 1 ml/con

+ Vệ sinh chuồng trại, dụng cụ thiết bị chăm sóc sạch sẽ

+ Thức ăn, nước uống phải đảm bảo vệ sinh

+ Trại tiến hành phun sát trùng toàn chuồng theo quy định của công ty CP

Bảng 4.5 Lịch phun sát trùng toàn trại Thứ

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái chửa Chuồng đẻ Chuồng cách ly

Quét hoặc rắc vôi đường đi

Phun sát trùng + rắc vôi Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng + quét vôi đường đi

Quét hoặc rắc vôi đường đi Thứ 4

Phun sát trùng và xả vôi gầm

Phun sát trùng và xả vôi gầm Rắc vôi Rắc vôi

Thứ 5 Phun ghẻ Phun sát trùng

Phun sát trùng + rắc vôi Phun sát trùng Phun sát trùng

Phun sát trùng và xả vôi gầm

Phun sát trùng và xả vôi gầm

Công nhân và sinh viên tại trại thực hiện lịch phun sát trùng nghiêm túc nhằm phòng ngừa mầm bệnh Đặc biệt, chuồng đẻ được sát trùng hai lần mỗi ngày vào lúc 10 giờ sáng và 14 giờ chiều.

Công việc vệ sinh và sát trùng được thực hiện hiệu quả với tỷ lệ phun hợp lý, đảm bảo rằng trong quá trình phun thuốc sát trùng và thuốc ghẻ, các máng ăn của lợn được chú ý để tránh dính thuốc.

Trong quá trình thực tập em đã tham gia vào công tác vệ sinh phòng bệnh Kết quả được thể hiện qua bảng 4.6

Bảng 4.6 Kết quả khử trùng tại cơ sở

Nội dung công việc Kế hoạch

Kết quả thực hiện (số lần)

Kết quả từ bảng 4.6 cho thấy rằng tôi đã tham gia trực tiếp vào lịch khử trùng tại cơ sở trong suốt 6 tháng thực tập Kế hoạch phun khử trùng của cơ sở được triển khai một cách hiệu quả.

Trong quá trình thực hiện các kế hoạch vệ sinh và khử trùng, em đã phun khử trùng 150 lần trên tổng số 180 lần, đạt tỷ lệ 88,33% Đối với việc rắc vôi đường đi, em đã hoàn thành 160/180 lần, tương ứng với tỷ lệ 88,88% Kế hoạch xả vôi xút gầm có 48 lần, em chỉ thực hiện được 20 lần, đạt 41,46% Tuy nhiên, kế hoạch vệ sinh tổng chuồng đã được thực hiện đầy đủ 180 lần, đạt tỷ lệ 100%.

Tỷ lệ pha thuốc sát trùng Omicide để phun khử trùng chuồng trại là 1:3200, cần đảm bảo đúng tỷ lệ để tránh lãng phí và tổn thương bề mặt da Việc rắc vôi trong chuồng phải được thực hiện hàng ngày, chú ý không rắc quá nhiều và đi từ hướng gió để tránh lợn con bị sặc Người thực hiện cần đeo găng tay, ủng và khẩu trang để bảo vệ sức khỏe Để xả vôi xút gầm, cho vôi vào xô, thêm nước và khuấy đều trước khi xả xuống gầm Mỗi tuần, xả vôi xút gầm được thực hiện hai lần vào thứ Tư và thứ Bảy.

4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Thời điểm phòng

Loại vắc xin, thuốc phòng

Suyễn, Hội chứng còi cọc

18 Dịch tả Coglapest 2 ml Tiêm bắp 3690 3690 100

Để bảo vệ lợn con khỏi các mầm bệnh, việc tiêm phòng vắc xin đầy đủ trong từng giai đoạn phát triển là rất quan trọng Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con dễ bị nhiễm bệnh nếu không được tiêm vắc xin kịp thời Để duy trì sản xuất và kinh tế, lợn con tại trại cần được chăm sóc chu đáo và tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ, đặc biệt là trong vòng 4 ngày sau khi sinh.

Toltrazuril 5% được sử dụng kết hợp với tiêm sắt để phòng ngừa thiếu sắt ở lợn con Tiêm vắc xin là một biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ mắc bệnh cho lợn con Trong quá trình thực tập tại trại, em đã cho 3762 con lợn con uống thuốc cầu trùng, với tỷ lệ an toàn đạt 99,14% Tuy nhiên, do không tuân thủ đúng liều lượng hoặc không chú ý trong quá trình ghép lợn, một số con chưa được nhỏ đã bị bỏ sót, dẫn đến dấu hiệu mắc bệnh Bên cạnh đó, em đã tham gia tiêm vắc xin phòng bệnh suyễn cho 3702 con lợn, đạt tỷ lệ an toàn 100%.

3690 con, tỷ lệ an toàn đạt 100%.

Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

4.5.1 Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Trong thời gian thực tập, tôi đã tham gia vào việc chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Tại trại, các bệnh thường gặp ở lợn con bao gồm:

- Thời điểm lợn con mắc bệnh: lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa

+ Bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi đột ngột như trời đang nắng ấm đổ mưa, trở rét hoăc bị gió lùa

+ Vệ sinh chuồng trại không tốt, chuồng bị ẩm ướt

+ Bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống nước có chứa mầm bệnh, thay đổi thức ăn

Lợn con thường có biểu hiện nằm tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, với da xung quanh đuôi và hậu môn dính phân Phân của chúng thường lỏng đến sệt, có màu kem, và có thể thấy lợn con nôn mửa.

+ Lợn mất nước do tiêu chảy, mắt lõm vào, da trở lên khô

+ Trên lợn cai sữa, triệu chứng đầu tiên là sụt cân, đi phân nước và mất nước

Thai Nguyen University – TNU Điều trị bằng nhiều loại thuốc, cụ thể ở trại em sử dụng các loại thuốc sau:

+ Điều trị bằng nova amcoli: 0,5 ml/con tiêm bắp đối với lợn con dưới

+ Điều trị bằng nor-100 :1 ml/ con tiêm bắp đối với lợn con trên 10 ngày tuổi

+ Cho uống: amoxycillin pha 1 g/ 1 lít nước, cho uống toàn đàn Điều trị liên tục 3 - 5 ngày liên tục

+ Khẩu phần của lợn nái phải cân đối đảm bảo chất lượng và ổn định

Tất cả lợn con cần được bú sữa đầu để phát triển khỏe mạnh Nếu lợn mẹ có dấu hiệu viêm nhiễm như sốt cao, ăn ít hoặc bỏ ăn, cần phải điều trị kịp thời để lợn mẹ nhanh chóng phục hồi sức khỏe.

+ Chuồng trại phải khô ráo thường xuyên Sưởi ấm, tập ăn sớm và cai sữa sớm, tiêm sắt đầy đủ cho lợn con

Bệnh truyền nhiễm đa nguyên nhân, trước đây được gọi là bệnh suyễn hoặc viêm phổi địa phương, chủ yếu do Mycoplasma gây ra, kết hợp với các vi khuẩn như Pasteurella multocida, Bordetella, Chlamydia, Streptococcus và Staphylococcus Mycoplasma thường cư trú tại hạch amidal hoặc xâm nhập vào cơ thể do tác động của các yếu tố stress và sức đề kháng yếu, từ đó tăng cường độc lực, xâm nhập vào phế quản và phế nang, gây ra bệnh lý.

Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gian mang thai

Triệu chứng bệnh ở lợn con có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, với biểu hiện là lợn gầy còm, lông xù và thở khó khăn, có khi phải ngồi thở với bụng hóp lại Những con lợn này không thể tranh giành bú với các con khác, dẫn đến tình trạng ngày càng yếu hơn và dễ mắc các bệnh viêm khớp kế phát Nếu không được điều trị kịp thời, tỷ lệ chết ở lợn con sẽ rất cao.

- Điều trị: Bệnh viêm phổi có thể sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị, ở trong trại thường sử dụng phác đồ sau để điều trị:

+ Nova Gentylo: 1 ml/con Tiêm bắp 1 lần/ ngày

+ Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine (HCl):

- Thời điểm lợn con mắc bệnh: lợn ở mọi lứa tuổi

Nguyên nhân gây bệnh do Streptococcus suis thường xảy ra qua các con đường như miệng, cuống rốn, vết thương trong quá trình cắt đuôi, bấm nanh, cũng như các tổn thương trên da và đầu gối khi tiếp xúc với nền chuồng, và qua các vết thiến.

Lợn con thường biểu hiện triệu chứng què, đi lại khó khăn do khớp bị viêm, sưng to và đau Ngoài ra, chúng còn có lông xù, sốt và ăn ít hoặc không ăn Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng viêm khớp có thể dẫn đến mủ, gây nguy hiểm cho sức khỏe của lợn con.

- Biện pháp phòng bệnh: áp dụng biện pháp phòng tổng hợp, giữ vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, định kỳ phun thuốc khử trùng chuồng trại chăn nuôi

Có thể dùng nhiều loại thuốc Cụ thể khi thực tập tại trại, em đã sử dụng liệu trình như sau:

+ Đối với lợn con dưới 10 ngày tuổi dùng kháng sinh vetrimoxin LA: 0,5 ml/con

+ Đối với lợn con trên 10 ngày tuổi dùng kháng sinh amoxinject LA: tiêm 0,5 ml/ con

+ Tiêm mỗi ngày 1 lần, điều trị liên tục 4 - 6 ngày

- Thời điểm lợn con bị bệnh: xảy ra khi lợn con được 4 - 5 ngày tuổi

+ Bệnh xảy ra do lợn con sau khi sinh không được cắt rốn hoặc không đảm bảo vệ sinh khi cắt rốn cho lợn con

+ Do sử dụng các dụng cụ như: dao, kéo, chỉ cột rốn không được vô trùng hoặc vô trùng không tốt

+ Do người can thiệp quá mạnh tay khi đưa lợn con từ tử cung ra ngoài cơ thể mẹ

+ Do chuồng trại ẩm thấp, kém vệ sinh tạo điều kiện cho vi khuẩn cơ hội xâm nhập vào chỗ cắt trên cuống rốn khi vết thương chưa lành

Lợn con bị viêm rốn có nguy cơ mắc các bệnh như viêm gan và tiêu chảy, dẫn đến tình trạng còi cọc, ốm yếu và chậm lớn Điều này không chỉ kéo dài thời gian nuôi mà còn làm giảm hiệu quả chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

Khoảng 3 ngày sau khi sinh, các mạch máu rốn của lợn con sẽ teo lại và hình thành dây chằng với gan và bàng quang Tuy nhiên, nếu lợn con bị viêm rốn, quá trình này sẽ bị chậm lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, gây ra các bệnh như viêm gan, viêm bàng quang, nhiễm trùng máu và viêm tủy xương.

+ Lợn con bị bệnh thiếu máu, da nhợt nhạt, lông dày và cứng, lợn ốm và dễ bị nhiễm bệnh do hệ miễn dịch yếu

- Điều trị: dùng vetrimoxin LA tiêm 0,5 ml/con, điều trị từ 3 - 5 ngày, kết hợp với bôi cồn sát trùng vào cuống rốn

+ Khi cắt rốn lợn con: sử dụng kéo sắc, ngâm sát trùng dụng cụ 30 phút trước khi sử dụng Sau khi cắt xong chấm cồn để sát trùng

+ Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, tránh để ẩm ướt, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập

4.5.1.5 Dịch tiêu chảy cấp (PED)

Trong 6 tháng thực tập tại trại, chúng em đã tham gia vào công tác dập dịch PED, xảy ra vào tháng 12/2017 Công ty CP thực hiện quy trình phòng chống dịch PED một cách nghiêm ngặt và hiệu quả.

 Quản lý tổng thể để kiểm soát bệnh tiêu chảy cấp (PED)

Ngoài việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học và ngăn chặn sự xâm nhập của mầm bệnh, chúng ta cần chú trọng đến vệ sinh và sát trùng, cùng với những điểm chính sau đây.

Để ngăn chặn sự phát triển của mầm bệnh gây bệnh tiêu chảy cấp (PED), cần sử dụng kháng sinh uống và tiêm kết hợp với việc bổ sung đường glucose 5%, điện giải và vitamin C vào thức ăn.

+ 1 g kháng sinh amoxicillin kết hợp với colistin bột/20 kgTT, hòa tan vào nước cho lợn uống

+ Tiêm kháng sinh vetrimoxin LA 2 ml/10 kgTT

+ Truyền đường glucose 5%, điện giải, vitamin tổng hợp,…

Để ngăn chặn sự lây lan của bệnh tật, cần tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp cách ly, bao gồm việc sử dụng dụng cụ riêng biệt cho lợn ốm và nước sát trùng cho từng ô chuồng Ngoài ra, hạn chế tối đa tiếp xúc giữa những người chăm sóc lợn ốm và lợn khỏe cũng rất quan trọng Đội xe trung gian vận chuyển thức ăn cần được tổ chức để mỗi xe chỉ vận chuyển thức ăn cho từng khu vực trại, đảm bảo an toàn và vệ sinh.

Để giảm tối đa stress cho lợn, cần đảm bảo môi trường sống thông thoáng, sạch sẽ và yên tĩnh Hạn chế việc bắt lợn nhiều lần bằng cách kết hợp nhiều thao tác trong một lần bắt, như bơm nước muối sinh lý, tiêm thuốc bổ và kháng sinh phòng ngừa Điều này không chỉ giảm số lần bắt lợn mà còn giúp giảm stress cho chúng.

Quản lý nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng nuôi lợn là yếu tố quan trọng giúp lợn nhiễm bệnh tiêu chảy cấp (PED) hồi phục và khỏe mạnh Nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ hỗ trợ quá trình hồi phục của lợn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự sống còn của chúng.

Ngày đăng: 24/10/2023, 09:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016 - 2018 - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016 - 2018 (Trang 34)
Bảng 4.2. Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.2. Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ (Trang 36)
Bảng 4.3. Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng   Tháng  Con đực (con)  Con cái (con)  Tổng - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.3. Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng Tháng Con đực (con) Con cái (con) Tổng (Trang 40)
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (Trang 41)
Bảng 4.5. Lịch phun sát trùng toàn trại  Thứ - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.5. Lịch phun sát trùng toàn trại Thứ (Trang 44)
Bảng 4.6. Kết quả khử trùng tại cơ sở - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.6. Kết quả khử trùng tại cơ sở (Trang 45)
Bảng 4.7. Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.7. Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con (Trang 46)
Bảng 4.8. Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Bảng 4.8. Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày (Trang 52)
Hình 1: Thuốc Nor-100  Hình 2: Thuốc - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 1 Thuốc Nor-100 Hình 2: Thuốc (Trang 60)
Hình 6: Thuốc Nova- Amcoli  Hình 7: Thuốc Nova- Fe+B12 - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 6 Thuốc Nova- Amcoli Hình 7: Thuốc Nova- Fe+B12 (Trang 61)
Hình 8: Thuốc - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 8 Thuốc (Trang 61)
Hình 11: Chọn lợn xuất  Hình 12: Tiêm lợn mẹ Hình 13:  Truyền nước - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 11 Chọn lợn xuất Hình 12: Tiêm lợn mẹ Hình 13: Truyền nước (Trang 62)
Hình 17: Đỡ đẻ cho lợn  Hình 18: Điều trị lợn con  Hình 19: Can thiệp - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 17 Đỡ đẻ cho lợn Hình 18: Điều trị lợn con Hình 19: Can thiệp (Trang 63)
Hình 20: Cho lợn con - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 20 Cho lợn con (Trang 63)
Hình 26: Lợn con bị     Hình 27: Mổ khám lợn     Hình 28: Dạ dày lợn con          viêm khớp         con mắc hội chứng tiêu chảy  mắc hội chứng tiêu chảy - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi bùi huy hạnh, xã tái sơn, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương
Hình 26 Lợn con bị Hình 27: Mổ khám lợn Hình 28: Dạ dày lợn con viêm khớp con mắc hội chứng tiêu chảy mắc hội chứng tiêu chảy (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w