1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

78 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Hoàng Ngọc Sơn
Người hướng dẫn TS. Đặng Thị Thu Hà
Trường học Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. Đặt vấn đề (11)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 1.3. Ý nghĩa (12)
      • 1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học (12)
      • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn (12)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 2.1. Cơ sở khoa học (13)
    • 2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (15)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (15)
      • 2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam (17)
    • 2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu (21)
      • 2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (21)
      • 2.3.2. Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội (24)
  • PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (25)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (25)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 15 1. Điều tra sự hiểu biết, khai thác và sử dụng của loài cây Nghiến gân ba15 (25)
      • 3.3.3. Đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (25)
      • 3.3.4. Một số đặc điểm sinh thái của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (25)
      • 3.3.5. Đánh giá trữ lượng cây Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (25)
      • 3.3.6. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (25)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 3.4.1. Phương pháp nghiên cứu chung (25)
      • 3.4.2. Phương pháp nghiên cứu (26)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (35)
    • 4.1. Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài Nghiến gân ba 25 1. Sự hiểu biết của người dân địa phương về các loài Nghiến gân ba (35)
      • 4.1.2. Đặc điểm khai thác và sử dụng loài Nghiến gân ba (36)
    • 4.2. Đặc điểm nổi bật về hình thái của loài Nghiến gân ba (36)
      • 4.2.1. Đặc điểm hình thái rễ, thân cây Nghiến gân ba (36)
      • 4.2.2. Đặc điểm hình thái lá cây (38)
    • 4.3. Đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (39)
      • 4.3.1. Tần xuất xuất hiện của loài Nghiến trên các tuyến điều tra (39)
      • 4.3.2. Đặc điểm phân bố cây Nghiến theo vị trí (40)
    • 4.4. Một số đặc điểm sinh thái của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (40)
      • 4.4.1. Cấu trúc mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến (40)
      • 4.4.3. Đặc điểm cây bụi và thảm tươi nơi có loài Nghiến gân ba phân bố (48)
    • 4.5. Đặc điểm trữ lượng cây Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (50)
    • 4.6. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (51)
      • 4.6.1. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển cây Nghiến gân ba tại Võ Nhai (51)
      • 4.6.2. Đề xuất biện pháp bảo tồn (51)
      • 4.6.3. Đề xuất biện pháp phát triển loài (52)
  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (53)
    • 5.1. Kết luận (53)
    • 5.2. Tồn tại (54)
    • 5.3. Khuyến nghị ............................................................................................. 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO (54)
  • PHỤ LỤC (63)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

Sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng làm nổi bật vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, khi mà đô thị hóa, ô nhiễm môi trường và chặt phá rừng đang gây ra sự suy giảm diện tích rừng và đe dọa nhiều loài động thực vật quý hiếm Để đối phó với tình trạng này, cộng đồng cần thực hiện các chương trình và dự án bảo tồn kịp thời Trong số đó, Nghiến gân ba là một loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, hiện đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do khai thác mạnh mẽ Do đó, cần tiến hành nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này để đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

Về cơ sở sinh học

Sinh thái học nghiên cứu các mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường sống của chúng, bao gồm cả yếu tố hữu sinh và vô sinh Nó tập trung vào các mối quan hệ hỗ trợ và cạnh tranh giữa động vật và thực vật, cũng như sự tương tác trực tiếp và gián tiếp giữa chúng.

Để nghiên cứu bất kỳ loài cây rừng nào, việc nắm vững đặc điểm sinh học của từng loài là rất quan trọng Hiểu rõ đặc tính sinh học giúp chúng ta áp dụng các biện pháp tác động phù hợp, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm Điều này không chỉ giúp chúng ta bảo tồn thiên nhiên mà còn nâng cao hiểu biết về sinh vật.

Về cơ sở bảo tồn

Bảo tồn là quá trình bảo vệ và duy trì sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong trạng thái tự nhiên của chúng Điều này có nghĩa là giữ lại, không để mất mát hay thay đổi bản chất của chúng.

Biến đổi khí hậu và nạn chặt phá rừng đang đẩy nhiều loài động thực vật vào nguy cơ tuyệt chủng Do đó, công tác bảo tồn loài và bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng trở nên quan trọng và được chú trọng hơn bao giờ hết.

Chính phủ Việt Nam đã công bố Sách đỏ Việt Nam dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, nhằm hướng dẫn và thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.

Nhiều loài động thực vật tại Việt Nam đang được xếp vào các cấp bảo tồn CR, EN và VU, cần được bảo vệ để duy trì nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học toàn cầu Cây Nghiến gân ba, mặc dù có phân bố rộng, nhưng đang bị khai thác mạnh mẽ, với hơn 50% số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá Việc khai thác này chủ yếu nhằm mục đích xuất khẩu trái phép, trong khi cây này cũng xuất hiện tại các Vườn quốc gia như Ba Bể, Phia Đén - Phia Oắc, Xuân Sơn và Phong Nha.

Kẻ Bàng và các khu bảo tồn thiên nhiên như Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa-Phượng Hoàng đang đối mặt với tình trạng khai thác trộm, đe dọa sự tồn vong của nhiều loài sinh vật Sự suy giảm đa dạng sinh học này đặt ra nguy cơ cao về sự tuyệt chủng cho các loài ngoài tự nhiên Đây là lý do khoa học quan trọng cho việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp của tôi.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Quy luật cấu trúc rừng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu sinh thái học Nghiên cứu cấu trúc rừng được phân chia thành ba dạng chính: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.

Cấu trúc thảm thực vật là kết quả của sự cạnh tranh giữa các loài thực vật và môi trường sống Từ góc độ sinh thái, cấu trúc rừng phản ánh hình thức bên ngoài của hệ sinh thái rừng, cho thấy tính quy luật và trật tự trong quần xã Nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được thực hiện bởi P W Richards (1952) và G N Baur (1964).

E P Odum (1971) đã thực hiện những nghiên cứu quan trọng, trong đó nêu rõ quan điểm và khái niệm về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng Những mô tả định tính này đóng góp vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái rừng.

G N Baur (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng

P Odum (1971) [19] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học Công trình nghiên cứu của R Catinot (1965) [4], J Plaudy

Năm 1987, nghiên cứu đã trình bày cấu trúc hình thái rừng thông qua các phẫu đồ rừng, đồng thời khám phá các cấu trúc sinh thái bằng cách phân loại dựa trên các khái niệm về dạng sống và tầng phiến.

Các nghiên cứư về cây Nghiến gân ba trên thế giới

Cây Nghiến gân ba, tên khoa học là Excentrodendron tonkinense, thuộc họ Đay (Tiliaceae) và được mô tả chi tiết bởi Chang & Miau vào năm 1978 Loài cây này là một loại thực vật có hoa lớn, nằm trong chi Nghiến gân ba và bộ Bông (Malvales) Cây Nghiến gân ba còn có các tên đồng nghĩa như Pentace tonkinensis và Burretiodendron tonkinensis.

Loài cây Nghiến gân ba Excentrodendron tonkinense (A Chevalier)

Hung T Chang & RH Miao với các tên đồng nghĩa (cynonym):

Pentace tonkinensis A Chevalier, Bull Écon, Indochine, ns, 20: 803

1918; Burretiodendron hsienmu Chun & FC Làm thế nào; B tonkinense (A Chevalier) Kostermans; Excentrodendron hsienmu (Chun & FC How) Hung

T Chang & RH Miao; E rhombifolium Hung T Chang & RH Miao [20].

Cây cao tới 40 m, với cuống lá dài từ 3,5-6,5 cm Phiến lá có màu xanh lá cây, hình trứng hoặc hình bầu dục, kích thước 8-14 × 5-8 cm, có lông và bóng, với lông màu nâu vàng ở rìa tĩnh mạch Gân bên dài đến 1/2 như lưỡi kiếm, cách mép 10-15 mm, mỗi cạnh có 4 hoặc 5 gân phụ, gốc tròn và đỉnh nhọn hoặc tù Cụm hoa đực gồm 7-13 hoa, dài 5-9 cm, có màu hồng nhạt và hoa đơn tính Cuống hoa nhỏ không khớp nối, nhụy hoa thuôn dài 1-1,5 cm, hoa chương màu nâu nhợt nhạt, nhẵn nhụi, không có tuyến hoặc có một vài cánh hoa bên trong có 2 tuyến Cánh hoa rộng 8-9 × 5-6 mm, với cơ sở rõ ràng có vuốt, xuất hiện 25-35; sợi tơ dài 4-6 mm và bao phấn cao 3 mm Thông tin về hoa cái vẫn chưa được biết.

Excentrodendron tonkinense mọc ở rừng thường xanh trên đá vôi

Tỉnh Quảng Tây, Đông Nam tỉnh Vân Nam giáp [Việt Nam] Excentrodendron tonkinense (như Burretiodendron hsienmu) được đưa vào Danh sách đỏ của

IUCN là cây "Dễ bị tổn thương (B1 + 2c)" Gỗ rất cứng và được đánh giá cao để làm thớt

Cây Nghiến gân ba hay còn có tên khác: Nghiến gân ba đỏ; Nghiến gân ba trứng; Kiêng mật; Kiêng đỏ; tên khoa học là Excentrodendron tonkinensis

Việt Nam sở hữu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, và đông, tạo điều kiện cho sự phong phú và đa dạng của hệ động thực vật Theo thống kê của các nhà khoa học, hiện có 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ trong 7 ngành khác nhau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).

Việt Nam sở hữu hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng với hệ động thực vật phong phú, bao gồm nhiều loài quý hiếm như cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) Loài cây này thường phân bố tại các vùng núi đá vôi và đang được nghiên cứu cũng như bảo tồn nhằm đối phó với nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học.

Các nghiên cứu về bảo tồn

Sách đỏ Việt Nam được công bố lần đầu vào năm 1996 và phiên bản năm 2007 đã phát huy tác dụng rõ rệt, hỗ trợ hiệu quả trong nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật Tài liệu này đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường thiên nhiên tại Việt Nam trong thời gian qua.

Việt Nam đã thực hiện nhiều cam kết và hành động cụ thể nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã Những nỗ lực này thể hiện sự quyết tâm của quốc gia trong việc bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường tự nhiên.

Đại học Thái Nguyên – TNU đã phát triển thông qua nhiều văn bản và chính sách quan trọng Ba mốc đáng chú ý nhất trong lĩnh vực bảo tồn tại Việt Nam bao gồm sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT.

(1992) [10], Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) [6], Nghị Định 32-CP/2006

Vào ngày 30 tháng 3 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ đạo nhằm tăng cường bảo vệ động thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Nghị định 160/2013 NĐ-CP quy định tiêu chí xác định và chế độ quản lý các loài thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ Luật Đa dạng sinh học năm 2008 cũng đã xác định các loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ.

Nghiên cứu sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đồng thời giúp ngăn ngừa suy thoái các loài động, thực vật quý hiếm và ô nhiễm môi trường.

Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân và Cs (2000)

Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Vũ Chấn là một xã vùng cao thuộc huyện Võ Nhai, nằm cách trung tâm huyện 38km về phía đông và cách quốc lộ 1B chỉ 2km Với diện tích 47,8 km², xã có tọa độ địa lý 21°48′53″ vĩ độ Bắc và 106°1′32″ kinh độ Đông Vũ Chấn nằm ở phía bắc huyện, thuộc lưu vực sông Nhinh Tường, giáp với hai xã Sảng Mộc và Nghinh Tường.

- Phía tây bắc và đông bắc giáp với xã Phú Thượng

- Phía đông nam giáp với xã Lâu Thượng

- Phía nam giáp với xã Cúc Đường

- Phía tây nam và giáp với xã Thượng Nung ở phía tây

2.3.1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết

Khu vực này thuộc vùng khí hậu Trung du miền núi phía Bắc, đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè tại đây nóng ẩm với lượng mưa lớn, nhưng hiếm khi có những ngày nhiệt độ quá cao hoặc gió lào Trong khi đó, mùa đông thường lạnh và khô hanh, đặc biệt vào cuối mùa đông có hiện tượng mưa phùn và độ ẩm không khí tăng cao.

Mùa đông lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3), mùa hè ẩm ướt, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 10)

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,4°C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là 36,8°C (tháng 6); tháng thấp nhất là 3°C (tháng 1, 2)

Biên độ ngày đêm trung bình là 7°C, lớn nhất là tháng 10: 8,2°C

Với chế độ nhiệt như vậy rất thích hợp để phát triển các loại cây như: quế, hồi, chè và các loại cây ăn quả

Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa khô, lượng mưa thấp chỉ chiếm 9% tổng lượng mưa cả năm

Từ tháng 4 đến tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa lớn chiếm đến 90% tổng lượng mưa cả năm

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.941 mm, với lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9 Điều này dẫn đến hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất và lũ lụt cục bộ.

+ Độ ẩm trung bình năm là 83%, cao nhất là 87%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 12: 77%

- Gió: Có hai loại gió chính: gió mùa đông bắc và gió tây nam

Gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài đến tháng 3 năm sau, mang theo không khí lạnh và sương muối Hiện tượng này có tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp cũng như chăn nuôi gia súc và gia cầm.

* Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, khí hậu mát mẻ, kèm theo mưa nhiều

2.3.1.3 Tài nguyên khoáng sản và đất đai thổ nhưỡng

- Diện tích đất tự nhiên của xã: 7.769 ha Trong đó:

+ Đất phi nông nghiệp: 77,41 ha

+ Đất chưa sử dụng: 21,18 ha

+ Đất ở tại nông thôn: 20,51ha

Tài nguyên đất tại xã rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên, diện tích đất rừng chiếm ưu thế, trong khi diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng cây lương thực, lại hạn chế Điều này dẫn đến việc sản xuất nông nghiệp chỉ đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực mà không thể thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Mặc dù xã sở hữu nguồn tài nguyên đất đai rộng lớn, nhưng các loại đất lại phân tán và xen kẹp lẫn nhau, gây khó khăn cho việc khai thác hiệu quả.

Xã có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống khe suối dày đặc và lượng mưa hàng năm đạt khoảng 1.941 mm, cung cấp nước chủ yếu cho tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.

Địa hình của xã được chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và núi đất, tạo nên hệ thống sông suối, ao hồ phong phú cùng với nguồn nước ngầm từ các hang động Khảo sát cho thấy trữ lượng nước ngầm tại đây khá dồi dào và chất lượng tốt, tuy nhiên việc khai thác vẫn còn nhiều hạn chế.

Mặc dù nguồn tài nguyên nước phong phú, nhưng địa hình chia cắt và chất lượng thảm thực vật rừng không cao dẫn đến tình trạng mùa mưa có dòng chảy lớn và thường xuyên xảy ra lũ lụt, trong khi mùa khô lại thiếu nước, gây ra hạn hán.

2.3.1.4 Về tài nguyên - khoáng sản

Xã có địa hình đồi núi và khí hậu nhiệt đới gió mùa với độ ẩm cao và lượng mưa lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông – lâm nghiệp Hiện tại, diện tích rừng tại xã đạt 6609,41 ha, chiếm 85,07% tổng diện tích đất tự nhiên.

2.3.2 Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội

Vũ Chấn sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế nông lâm nghiệp Qua đó, khu vực này từng bước phát triển dịch vụ và ngành nghề, góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội và hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Loài Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài cây

Nghiến gân ba, làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019.

Nội dung nghiên cứu 15 1 Điều tra sự hiểu biết, khai thác và sử dụng của loài cây Nghiến gân ba15

Để đạt được các mục tiêu, khóa luận nghiên cứu các nội dung chính sau:

3.3.1 Điều tra sự hiểu biết, khai thác và sử dụng của loài cây Nghiến gân ba 3.3.2 Đặc điểm nổi bật về hình thái của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

3.3.3 Đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

3.3.4 Một số đặc điểm sinh thái của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

3.3.5 Đánh giá trữ lượng cây Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu tại xã

Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

3.3.6 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Phương pháp kế thừa được áp dụng để tiếp thu các kết quả nghiên cứu trước đây liên quan đến điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu, cũng như thông tin về loài Nghiến gân ba cả trong và ngoài nước.

Thai Nguyen University – TNU đặc điểm sinh học cơ bản, điều kiện lập địa, khả năng sinh trưởng, )

Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa, tiến hành khảo sát theo các tuyến điều tra và lập các ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời, nhằm thu thập số liệu liên quan đến nội dung của khóa luận.

Phương pháp chuyên gia đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chính xác của đối tượng nghiên cứu ngoài thực địa, quyết định kết quả nghiên cứu của khóa luận Do đó, trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi sẽ hợp tác với các chuyên gia từ trường Đại học Nông Lâm, chuyên về thực vật, lâm sinh học và điều tra rừng để đảm bảo chất lượng nghiên cứu.

3.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Trong quá trình thực hiện, khóa luận đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:

Các nghiên cứu và tài liệu về đặc điểm sinh thái, hình thái, khả năng tái sinh và giá trị sử dụng của loài Nghiến gân ba đã được thực hiện cả trong nước và quốc tế.

- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu

3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại học Để xác định, làm quen và nhận rõ loài khi triển khai nghiên cứu thực địa thì việc nghiên cứu phân loại loài rất quan trọng Nghiên cứu này thực hiện tốt giúp nhà nghiên cứu không nhầm lẫn đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, nó cũng chỉ rõ vi trí phân loại của loài trong các hệ thống phân loại Để thực hiện được nội dung này, khóa luận đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan về hệ thống học của chi và họ Đay trên thế giới và trong nước, đồng thời tiến hành kiểm tra và được thầy giáo La Quang Độ giảng viên trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TNU) cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách nhận biết cây Nghiến gân ba trong thực địa, giúp người nghiên cứu tránh nhầm lẫn với các loài cây khác Bài viết cũng ghi chép các đặc điểm hình thái của loài này, phục vụ cho công tác nghiên cứu và phân tích hình thái.

Sau khi thu thập thông tin cơ bản về hình thái và phân bố của loài, bước tiếp theo là xác định vị trí trên bản đồ khu vực cần điều tra Mục đích của việc điều tra sơ thám là để có cái nhìn tổng quát và đánh giá ban đầu về sự hiện diện của loài trong khu vực đó.

- Nhận diện chính xác loài và xác định sơ bộ khu vực nghiên cứu của loài Nghiến gân ba

- Xác định sơ bộ tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các loại rừng đại diện, nới có loài Nghiến gân ba phân bố

3.4.2.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái

Phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng đại diện, kết hợp với đối chiếu và so sánh tài liệu hiện có, là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [12].

Để nghiên cứu cây Nghiến gân ba, cần quan sát và ghi lại hình thái cũng như kích thước của các bộ phận như thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt Đối với thân cây, sử dụng thước dây để đo chu vi tại vị trí D1.3 Khi đo lá và quả, chọn những mẫu bình thường, không bị sâu bệnh hay biến dạng, sau đó dùng thước kẻ hoặc thước dây để đo chiều dài và rộng, ghi lại thông số vào bảng Thước kẹp cũng có thể được sử dụng để đo kích thước quả, mang lại độ chính xác cao và tiện lợi.

Lấy mẫu tiêu bản không chỉ từ loài nghiên cứu mà còn từ các loài khác trong quần xã để hỗ trợ việc định danh loài Các mẫu vật thu thập cần được so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự.

Thai Nguyen University – TNU nhằm xác định tính chính xác của loài (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001) [12]

Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Nghiến gân ba bằng cách thu hái 100 mẫu ở ba vị trí khác nhau trên tán cây: dưới tán, giữa tán và đỉnh tán.

Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết cũng như việc sử dụng các loài Nghiến gân ba trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các dụng cụ như máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo độ cao và GPS Phương pháp phỏng vấn được thực hiện với những đối tượng đã từng khai thác và sử dụng các loài cây gỗ trong khu vực, bao gồm cả những người đã trực tiếp nấu dầu từ Nghiến gân ba Chúng tôi cũng phỏng vấn các cụ già, cán bộ tuần rừng và kiểm lâm để thu thập thông tin về giá trị sử dụng và phân bố của loài cây này Mỗi xã được điều tra với 30 phiếu phỏng vấn, và việc tìm kiếm cây cá thể được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo xã và cán bộ lâm nghiệp Thông tin thu thập sẽ giúp đánh giá chính xác về giá trị và sự phân bố của các loài cây trong cộng đồng.

Các cây điều tra được điền vào mẫu biểu 3.1 tại phụ lục 2

- Phương pháp thu hái sử lý mẫu: Việc thu mẫu là nhiệm vụ quan trọng

Thai Nguyen University – TNU làm cơ sở để xác định tên loài, taxon và xây dựng bảng danh lục thực vật chính xác, đầy đủ

Để thu hái mẫu, sử dụng túi nylon lớn để bảo quản và cồn để giữ mẫu vật lâu dài Trước khi gắn vào mẫu, ghi nhãn bằng bút chì và ghi chép đầy đủ các đặc điểm của loài cây trong sổ tay Mẫu thu thập cần được xác định tên địa phương và tên phổ thông thông qua cán bộ kiểm lâm, người địa phương và chuyên gia Cuối cùng, thực hiện điều tra theo tuyến ngẫu nhiên.

Dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng, TNR tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo tài liệu liên quan và ý kiến của các cán bộ, người dân am hiểu địa hình để lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp.

Trước khi tiến hành công tác ngoại nghiệp, tuyến điều tra cần được xác định trên bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, với các tuyến luôn song song và cách đều nhau, khoảng cách giữa các tuyến là 400m Dữ liệu thu thập sẽ được ghi vào mẫu biểu 3.2 trong phụ lục 2, và điều tra sẽ được thực hiện trên các OTC điển hình.

Lập OTC ngẫu nhiên có diện tích 1000 m 2 (25 x 40m) cạnh dài đặt song song với đường đồng mức, cạnh ngắn vuông góc với đường đồng mức

Số lượng OTC 9 ô/xã Trong OTC xác định các nhân tố điều tra sau:

- Đối với tầng cây cao: Các chỉ tiêu thu thập gồm: tên loài cây, Hvn,

Hdc, D1,3, Dt của tất cả các loài cây có D1.3 ≥ 6cm trong OTC

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài Nghiến gân ba 25 1 Sự hiểu biết của người dân địa phương về các loài Nghiến gân ba

4.1.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương về các loài Nghiến gân ba

Qua quá trình phỏng vấn sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Nghiến gân ba trong các xã được thể hiện ở bảng:

Bảng 4.1: Tìm hiểu tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Nghiến của người dân

Sự hiểu biết của người dân về cây Nghiến

Số người biêt/tổng người đc hỏi (PV)

- Cây được xẻ ván làm nhà sàn, bưng vách, cây to thì làm cột nhà

- Rễ cây đào về làm bàn ghế, rễ có vân đẹp thì làm đồ thủ công mỹ nghệ, tiện lục bình để trong nhà làm đồ trang trí

- Trước gỗ nghiến bán 3-4 triệu 1m³

- Hiện nay nhiều thương lái mua với giá 20-30 triệu 1m³ nhưng không có để bán, vì những cây to đã bị khai thác hết từ trước tại khu vực

- Cây Nghiến là cây gỗ quý tuy nhiên cây lại không có tác dụng chữa chữa bệnh 0/30

Mặc dù có giá trị kinh tế cao và từng được khai thác rộng rãi, nhưng hiện nay chưa có hộ gia đình nào trồng cây này một cách quy mô Họ chỉ trồng 1-2 cây lấy từ rừng về quanh nhà Do diện tích rừng hạn chế, người dân chủ yếu tập trung vào việc trồng keo và chè, những loại cây mang lại giá trị kinh tế nhanh chóng.

- Không biết kỹ thuật tạo giống gây trồng

- Phải trồng lâu năm mới khai thác được

-Trước đây khoảng 10 năm còn rải rác cây to đường kính hơn 1m

- Trong khoảng 5 năm trở lại đây chỉ còn những cây có đường kính không quá 40cm nhưng số lượng không nhiều

Qua phỏng vấn tại xã Vũ Chấn, 19/30 người dân hiểu biết về cây Nghiến, cho thấy phần lớn dân cư biết đến loại cây này Nghiến là cây gỗ lớn, có màu xanh đậm, được sử dụng để làm nhà, bàn ghế và đồ thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, do bị khai thác quá mức, giá trị của cây Nghiến hiện cao, từ 20-30 triệu/m³ Người dân địa phương không nắm rõ tác dụng chữa bệnh của cây Nghiến và tình trạng gây trồng rất hiếm gặp do thiếu kỹ thuật tạo giống, dẫn đến việc họ thường lấy giống từ rừng Thêm vào đó, việc cây phải trồng lâu năm mới có thể khai thác cũng là một yếu tố Những năm gần đây, số lượng và chất lượng cây Nghiến đã giảm sút do khai thác quá mức.

4.1.2 Đặc điểm khai thác và sử dụng loài Nghiến gân ba

Số lượng cây Nghiến tại xã Vũ Chấn đã giảm đáng kể do khai thác quá mức, dẫn đến việc gần như không còn cây để lấy gỗ cho xây dựng nhà ở, đồ gia dụng và thủ công mỹ nghệ Các sản phẩm từ gỗ Nghiến nổi bật với độ bền cao, ít bị mối mọt và vẫn giữ được chất lượng dù được chôn lâu năm, vì vậy chúng có giá trị cao trên thị trường Hoạt động của con người như cưa, xẻ, chặt cây và khai thác gỗ đã tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên này.

Hiện tại ở xã Vũ Chấn, loài Nghiến phân bố tập trung tại 3 xóm: Xóm

Tại Na Đồng, xóm Na Rang và xóm Na Mấy, qua phỏng vấn người dân, hầu hết mọi người đều không biết về tác dụng dược liệu của cây nghiến cũng như chưa ai nắm rõ cách nhân giống loài cây này.

Đặc điểm nổi bật về hình thái của loài Nghiến gân ba

4.2.1 Đặc điểm hình thái rễ, thân cây Nghiến gân ba

Rễ trụ ăn sâu vào đất, hệ rễ bám rất phát triển giúp cây đứng chắc nơi có địa hình dốc

Bài viết tổng hợp các nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài Nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep) Change & Miau, 1978) trong và ngoài nước, kết hợp với điều tra thực địa tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Qua đó, các đặc điểm của loài Nghiến đã được tổng hợp một cách chi tiết và khoa học.

Hình 4.1: Thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn

Thân Nghiến là một loại cây gỗ lớn thường xanh, có thân thẳng và phân cành cao, chiều cao có thể lên đến trên 23m với đường kính thân từ 60-90cm Vỏ cây nứt sần sùi, trong khi cành non thì nhẵn mịn và trở nên sần sùi theo thời gian Cuống lá dài từ 2-5 cm và khi bóc vỏ, màu sắc bên trong sẽ là đỏ thẫm.

Bảng 4.2: Kích thước thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây Nghiến trong khu vực khảo sát có chiều cao dao động từ 8cm đến 23m, với đường kính thân cây từ 8cm đến 22cm Đường kính trung bình (D1.3) của cây là 13.8cm, trong khi chiều cao trung bình (Hvn) đạt 17.06m Đặc biệt, không có cây nào đạt đường kính trên 40cm do việc khai thác gỗ đã làm giảm số lượng cây lớn trong khu vực.

4.2.2 Đặc điểm hình thái lá cây

Hình 4.2: Hình thái lá cây nghiến

Lá cây có màu xanh, hình trứng, kích thước rộng từ 12 - 15cm và dài từ 7 - 10cm, với mép lá nguyên và có từ 5 - 7 đôi gân bên, trong đó có 3 gân gốc Cuống lá dài từ 3 - 5cm và không phình Khi lá rụng, chúng sẽ chuyển sang màu vàng đỏ, thường rụng nhiều vào tháng.

11 Tiến hành đo đếm kích thước trung bình của lá Nghiến gân ba kết quả thu được tổng hợp trong bảng:

Bảng 4.3: Kết quả đo đếm kích thước trung bình của lá cây Nghiến Chỉ số

Lá Chiều dài cuống lá

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Lá đơn có hình dạng trứng tròn với đầu nhọn và mũi lồi, đuôi lá hình tim hoặc gần tròn, kích thước dài từ 9 - 12cm và rộng từ 7 - 10cm Phiến lá dày, cứng và bóng, mép lá nguyên, cuống lá thô, dài từ 3 - 5cm và có màu hơi đỏ, trong khi lá non có đặc điểm hơi dính.

Đặc điểm phân bố của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

4.3.1 Tần xuất xuất hiện của loài Nghiến trên các tuyến điều tra

Bảng 4.4 Phân bố của cây Nghiến trên các tuyến điều tra

TT Tên tuyến Chiều dài (km) Số cá thể (cây) Tần số (cây/km)

Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy loài Nghiến phân bố chủ yếu ở bốn tuyến đường: tuyến 6, tuyến 9, tuyến 13 và tuyến 18, với tần số cao nhất đạt 0,270 cây/km và thấp nhất là 0,086 cây/km Trung bình, tần số phân bố của loài này dao động ở mức 0,158 cây/km.

4.3.2 Đặc điểm phân bố cây Nghiến theo vị trí

Bảng 4.5: Phân bố của cây Nghiến theo vị trí

Kết quả từ bảng 4.6 chỉ ra rằng loài Nghiến phân bố từ chân đến đỉnh núi, với tỷ lệ phân bố cụ thể là 20% ở chân núi, 33,7% ở sườn núi và 46,7% ở đỉnh núi Đặc biệt, loài này chủ yếu tập trung ở sườn và đỉnh núi với tỷ lệ lần lượt là 33,3% và 46,7%.

Một số đặc điểm sinh thái của loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

4.4.1 Cấu trúc mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến

4.4.1.1 Mật độ tầng cây gỗ của loài Nghiến

Mật độ tầng cây gỗ, được tính bằng số cây trên một hecta (N cây/ha), là một đặc trưng quan trọng của quần thể rừng Nó phản ánh mức độ tận dụng dinh dưỡng của quần thể, đồng thời là chỉ tiêu thể hiện sức khỏe và sự phát triển của rừng.

Đại học Thái Nguyên (TNU) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây cùng loài và khác loài, cũng như khả năng thích nghi của cây rừng với những thay đổi trong điều kiện sống Nghiên cứu này thể hiện khoảng cách giữa các cây trong quần thể và mức độ tác động của quần thể đối với quần xã Do đó, việc nghiên cứu mật độ cây là cần thiết để đánh giá mức độ lợi dụng tiềm năng sản xuất của điều kiện lập địa.

Bảng 4.6: Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến

OTC N/ Lp N/ Ng N Lp (cây/ha) N Ng (Nghiến/ha)

Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy sự khác biệt về mật độ tầng cây gỗ và cây Nghiến ở các OTC Cụ thể, OTC 1 có mật độ tầng cây gỗ là 320 cây/ha, trong khi cây Nghiến đạt 10 cây/ha Tương tự, OTC 8 có mật độ tầng cây gỗ là 390 cây/ha, với cây Nghiến cũng đạt 10 cây/ha Mật độ cây Nghiến trong các OTC dao động từ 1-3 cây, với giá trị trung bình là 1,7 cây Trung bình mật độ lâm phần đạt 338,9 cây/ha và mật độ Nghiến trung bình là 16,7 cây/ha Khi so sánh các OTC có mật độ tầng cây gỗ tương đương, mật độ cây Nghiến cho thấy sự khác biệt rõ rệt.

Phân tích bảng số liệu tầng cây gỗ tại 9 OTC nơi có cây Nghiến phân bố cho phép xác định công thức kết cấu tổ thành loài cây gỗ Việc này giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa loài cây nghiên cứu và các loài cây khác, bao gồm cả quan hệ hỗ trợ và cạnh tranh Nhờ đó, việc điều tra và phát triển loài cây Nghiến sẽ trở nên dễ dàng hơn, từ đó có thể áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp, như được thể hiện trong bảng 4.7.

Bảng 4.7: Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi có Nghiến phân bố

Số loài tham gia CTTT

1 12,3Sog+8,0Tnt+7,9Hav+7,4Ngh+7,2Duo+6,4Mbs+6,3

2 16,2Cbb+12,0Map+11,4Mat+7,5Dbl+6,4Ngh+5,5Sog+

3 17,3Map+10,8Ngh+8,2Duo+7,2Sog+6,8Deg+6,0Klt+5,

4 9,8Lah+9,1Sog+8,2Tnt+7,8Tmt+5,5Mbs+5,4Ddx+5,0T bl+49,3LK 4,0 7

5 8,1Sog+7,9Mat+7,8Ngh+7,7Map+6,7Mbs+6,2Thd+5,9

6 13,5Hav+8,1Tnt+7,6Sog+7,3Hvn+6,6Cbb+6,4Ddx+6,4

7 18,6Hav+10,0Sog+9,1Klt+5,7Thd+5,7Mbs+5,6Cbb+45

8 13,1Mat+10,0Mbs+8,5Tbl+8,3Lmt+7,6Klt+7,5Hav+7,5

Nnd+6,8Tnt+5,6Cbb+5,6Deg+19,5LK 2,0 10

9 14,5Map+11,5Kig+9,4Klt+9,4Hav+8,7Sog+7,2Tbl+6,8

Nguồn: Số liệu điều tra

Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy tổ thành rừng tự nhiên nơi Nghiến phân bố rất đa dạng, với các loài chủ yếu như Mạy puôn, Dướng, Thích năm thùy, Mạy tèo, Hương viên núi và Xoan nhừ.

Tại OTC 3, loài Nghiến chiếm tỷ lệ tham gia cao nhất trong CTTT với 10,8%, trong khi OTC 1 và OTC 5 có cùng số loài tham gia là 9, với tỷ lệ IVi của Nghiến dao động từ 7,4% đến 7,8% Mặc dù OTC 8 có số loài tham gia lớn nhất là 10, nhưng tỷ lệ Nghiến chỉ đạt 2,0% Các OTC còn lại cho thấy chỉ số IVi% của loài Nghiến không đáng kể, dao động từ 2,1% đến 6,4%.

Cấu trúc tầng thứ của rừng phản ánh hình thái theo mặt phẳng đứng và là kết quả của sự cạnh tranh sinh tồn giữa các loài cây trong quần xã Trong rừng tự nhiên, cấu trúc này không chỉ thể hiện bản chất sinh thái nội bộ của hệ sinh thái rừng mà còn mô phỏng mối quan hệ giữa các tầng rừng và các loài cây khác nhau Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng rừng, đảm bảo phù hợp với mục đích sử dụng Qua quan sát và đo chiều cao tầng cây gỗ, có thể xác định cấu trúc tầng thứ nơi Nghiến phân bố.

Những loài cây cao trong rừng có sự phân tầng rõ rệt, với chiều cao dao động từ 6 đến 24 mét Tán rừng chủ yếu được hình thành từ các loài như Nghiến, Mạy tèo, Mạy puôn, Kháo lá to, và Han voi.

Rừng ở trạng thái này chưa có sự phân tầng rõ rệt, với cấu trúc tầng cây gỗ duy nhất có chiều cao biến động từ 6 đến 24 mét.

Đại học Thái Nguyên – TNU có chiều cao trung bình của tán rừng là 16,9m Tán rừng chính bao gồm các loại cây như Nghiến, Thổ mật tù, Sồi Gai, Mạy puôn, Han voi, và Mạy tèo, với chiều cao dao động từ 16-24m, chiếm phần lớn số lượng cây trong khu vực Độ che phủ chủ yếu được tạo ra bởi tầng cây này.

Tầng cây bụi thảm tươi đang phát triển nhưng vẫn chưa đạt mức độ phát triển như các loài cây khác, bao gồm Dương xỉ, Dóng xanh, Lấu núi, Thường sơn và Tắc kè đá.

Trong cấu trúc tầng thứ của rừng, cây Nghiến chủ yếu thuộc tầng tán chính và thường phát triển mạnh mẽ hơn Điều này cho thấy Nghiến là một loài cây gỗ lớn ưa sáng, thường xuất hiện ở tầng tán trên của rừng tự nhiên.

4.4.1.4 Thành phần đi kèm với cây Nghiến

Trong hệ sinh thái rừng, các loài thực vật có mối quan hệ hỗ trợ hoặc cạnh tranh lẫn nhau, thể hiện sự tương tác phức tạp giữa chúng Sự tồn tại của các loài không chỉ dựa vào khả năng thích ứng mà còn phản ánh mối quan hệ sâu sắc, là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên kéo dài.

Các loài cây hỗn dao có khả năng thích nghi hoặc đối kháng lẫn nhau trong môi trường sống Nghiên cứu loài cây đi kèm với Nghiến rất quan trọng trong sản xuất, giúp hiểu rõ đặc điểm tương tác với các loài khác Điều này giúp giảm thiểu mối quan hệ cạnh tranh và tạo cơ sở cho việc chọn lựa cây trồng phù hợp trong công tác bảo tồn.

Qua điều tra tầng cây gỗ tại 9 OTC ở 3 xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đã thu được kết quả về thành phần loài cây gỗ đi kèm với Nghiến, được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 4.8: Thành phần loài cây gỗ đi kèm với Nghiến ở các OTC

OTC Loài cây chủ yếu

1 Sồi gai, Thích năm thùy, Han Voi, Dướng, Móc bắc sơn, Mạy puôn, Dâu da xoan, Vàng anh

2 Chay bắc bộ, Mạy puôn, Mạy tèo, Đẹn ba lá, Sồi gai

3 Mạy puôn, Dướng, Sồi gai, Dẻ gai, Kháo Lá To, Thích năm thùy, Móc bắc sơn, Dâu da xoan

4 Lát hoa, Sồi gai, Thích năm thùy, Thổ mật tù, Móc bắc sơn, Dâu da xoan, Thôi ba long

5 Sồi gai, Mạy tèo, Mạy puôn, Móc bắc sơn, Thị đá, Han voi, Kháo lá to, Dướng

6 Han voi, Thích năm thùy, Sồi gai, Hương viên núi, Chay bắc bộ, Dâu da xoan, Lát hoa, Thị đá

7 Han voi, Sồi gai, Kháo lá to, Thị đá, Móc bắc sơn, Chay bắc bộ

Đặc điểm trữ lượng cây Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Bảng 4.13: Bảng tổng hợp trữ lượng lâm phần và loài Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu

Trữ lượng (m 3 ) Tổng tiết diện ngang

M/ha M Ng /ha G/ha G Ng /ha Nghiến/ha

Kết quả ở bảng 4.14 cho thấy: D1.3 trung bình cao nhất ở OTC 5 là 15,06cm, thấp nhất ở OTC 3 là 12,68cm Chiều cao trung bình cao nhất ở OTC

3 là 19,29m, thấp thất ở OTC 2 là 11,71m Trữ lượng lâm phần cao nhất ở OTC

Trữ lượng cây gỗ Nghiến tại các khu vực khảo sát có sự chênh lệch đáng kể, với OTC 1 đạt 3,92098m³/ha, trong khi OTC 9 chỉ có 0,38278m³/ha Về tổng tiết diện ngang lâm phần, OTC 2 ghi nhận giá trị cao nhất là 6,65366m²/ha, còn OTC 3 có giá trị thấp nhất là 4,61031m²/ha Đối với tổng tiết diện ngang của cây Nghiến, OTC 2 và OTC 3 đều có giá trị cao nhất là 0,47493m²/ha, trong khi OTC 9 thấp nhất với 0,06359m²/ha.

Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

4.6.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển cây Nghiến gân ba tại Võ Nhai

4.6.1.1 Thuận lợi trong công tác bảo tồn cây Nghiến

Khu vực nghiên cứu là nơi có điều kiện tự nhiên lý tưởng cho loài Nghiến phát triển, với khí hậu và đất đai phù hợp Là một loại cây gỗ quý hiếm với giá trị sử dụng cao, Nghiến thu hút sự quan tâm từ các nhà khoa học, cơ quan chức năng và chính quyền Việc bảo tồn và phát triển loài này không chỉ quan trọng cho hệ sinh thái mà còn là nhiệm vụ chung của cộng đồng, vì rừng chính là nguồn sống chủ yếu của người dân địa phương.

4.6.1.2 Khó khăn trong công tác bảo tồn cây Nghiến

Xã Vũ Chấn, nằm ở miền Bắc với khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là nắng nóng và gió Lào, phụ thuộc nhiều vào rừng như một nguồn sống quan trọng Tuy nhiên, tình trạng phá rừng và đốt nương làm rẫy vẫn diễn ra không chỉ ở các khu vực rừng phục hồi sinh thái mà còn cả những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt bởi cơ quan kiểm lâm Điều này gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt là trong công tác phòng cháy chữa cháy.

4.6.2 Đề xuất biện pháp bảo tồn

Công tác bảo tồn và phát triển cây Nghiến tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa đang gặp khó khăn do địa hình đồi núi cao, dẫn đến việc tuần tra bảo vệ rừng chưa được thực hiện hiệu quả Tình trạng chặt phá và khai thác gỗ Nghiến vẫn diễn ra, đe dọa sự sống còn của loài cây này.

Để bảo vệ cây Nghiến khỏi việc chặt phá bừa bãi, việc tạo sinh kế cho người dân là rất quan trọng, bởi họ vẫn phụ thuộc vào nguồn sống từ khu vực này.

Đại học Thái Nguyên - TNU nhận thấy rằng cây Nghiến là một loại cây có giá trị kinh tế cao Do đó, việc đảm bảo sinh kế cho người dân trong khu vực xã là rất quan trọng, nhằm giúp họ không còn phải phụ thuộc vào rừng.

- Thực hiên xử lý nghiêm minh những hành vi xâm lấn, khai thác trái phép tài nguyên rừng

Để bảo vệ tài nguyên rừng, cần khoanh vùng các khu vực phân bố, lắp đặt biển cấm và thực hiện tuần tra giám sát thường xuyên nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm trái phép.

4.6.3 Đề xuất biện pháp phát triển loài

Nghiến là loài cây có khả năng tái sinh tự nhiên kém và ưa sáng, vì vậy cần phải dọn dẹp dây leo và bụi rậm xung quanh để tạo điều kiện cho cây phát triển Phương pháp nhân giống hiệu quả cho Nghiến là thông qua dâm và hom.

- Thực hiện các biện pháp quản lý, bảo tồn cây Nghiến gân ba

Ngày đăng: 24/10/2023, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tìm hiểu tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Nghiến - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.1 Tìm hiểu tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Nghiến (Trang 35)
Hình 4.1: Thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Hình 4.1 Thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn (Trang 37)
Hình 4.2: Hình thái lá cây nghiến - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Hình 4.2 Hình thái lá cây nghiến (Trang 38)
Bảng 4.2: Kích thước thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.2 Kích thước thân cây Nghiến tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, (Trang 38)
Bảng 4.4. Phân bố của cây Nghiến trên các tuyến điều tra - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.4. Phân bố của cây Nghiến trên các tuyến điều tra (Trang 39)
Bảng 4.5: Phân bố của cây Nghiến theo vị trí - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.5 Phân bố của cây Nghiến theo vị trí (Trang 40)
Bảng 4.6: Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.6 Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến (Trang 41)
Bảng 4.7: Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi có Nghiến phân bố - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.7 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi có Nghiến phân bố (Trang 42)
Bảng 4.8: Thành phần loài cây gỗ đi kèm với Nghiến ở các OTC - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.8 Thành phần loài cây gỗ đi kèm với Nghiến ở các OTC (Trang 45)
Bảng tổng hợp độ tàn che của tầng cây gỗ ở các trạng thái có Nghiến  phân bố được thể hiện dưới bảng sau: - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng t ổng hợp độ tàn che của tầng cây gỗ ở các trạng thái có Nghiến phân bố được thể hiện dưới bảng sau: (Trang 46)
Bảng 4.10: Chất lượng và nguồn gốc của loài Nghiến - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.10 Chất lượng và nguồn gốc của loài Nghiến (Trang 47)
Bảng 4.11: Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của cây bụi - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.11 Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của cây bụi (Trang 48)
Bảng 4.12: Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của thảm tươi - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.12 Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của thảm tươi (Trang 49)
Bảng 4.13: Bảng tổng hợp trữ lượng lâm phần và loài Nghiến gân ba - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp trữ lượng lâm phần và loài Nghiến gân ba (Trang 50)
Hình ảnh cây Nghiến tại thực địa - Nghiên cứu số đặc điểm lâm học lồi Nghiến gân ba – (Excentrodendron tonkinensis) nhằm góp phần bảo tồn phát triển nguồn gen rừng quý, xã Vũ Chấn, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
nh ảnh cây Nghiến tại thực địa (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w