MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2 3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 2 1.1. Cơ sở lý luận 2 1.2. Phương pháp nghiên cứu 2 4. Kết cấu đề tài 3 CHƯƠNG 1:NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 4 1.Chủ nghĩa Mac Lê Nin nguồn gốc lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 4 2.Hoạt động thực tiễn – cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. 6 CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 8 1. Vấn đề dân tộc thuộc địa 8 1.1. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa 8 1.2. Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa 10 1.3. Chủ nghĩa dân tộc – Một động lực lớn của đất nước 11 2 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp 12 2.1. Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau 12 2.2. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 12 2.3. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp 12 2.4. Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác 14 CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI 15 1.Quan điểm vận dụng của Đảng ta về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước 15 1.1. Khơi dậy sức mạnh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 15 1.2. Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam 15 1.3. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp 16 2.Những thành tựu đạt và hạn chế của Đảng khi vận dụng những quan điểm đó trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay 18 2.1. Thành tựu của Đảng khi vận dụng những quan điểm đó trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay 19 2.2. Những hạn chế của Đảng khi vận dụng những quan điểm đó trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. 22 KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong tất cả các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa người với người, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự định hướng cuộc sống của mỗi con người ở thời đại hiện nay. Ở mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới, nhất là những dân tộc, quốc gia đã từng bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâm lược, áp bức trên cơ sở duy trì chế độ bóc lột ở bên trong, ý thức giải phóng dân tộc của nhân dân là động lực to lớn và khi nó kết hợp với ý thức giải phóng giai cấp của những người lao động nó trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển và tiến bộ của đất nước. Vấn đề dân tộc và giai cấp được coi là cơ sở quan trọng nhất trong hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển ở mỗi dân tộc và mỗi quốc gia. Thế giới ngày nay đang có những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, tác động mạnh mẽ đến xu hướng phát triển của nhân loại và con đường phát triển của mỗi quốc gia dân tộc. Những biến đổi đó đã làm cho mối quan hệ giữa các dân tộc lại càng phức tạp. Đây cũng là vấn đề thời sự cấp bách, đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyết đúng đắn trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay. Hiện nay, nước ta đang tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế, hội nhập với khu vực với thế giới. Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Trong bối cảnh quốc tế có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc. Đối với chúng ta, hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay phải được giải quyết đầy đủ và đúng đắn đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc gắn liền với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc với giai cấp, dân tộc Việt Nam với cộng đồng thế giới đang đặt ra hiện nay. Vì vậy nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí minh về vấn đề dân tộc có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. 1 2.Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Mục đích Đề tài làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc qua đó thấy được sự vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc đổi mới hiện nay. Nhiệm vụ Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau: Trình bày nguồn gốc lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Trình bày và phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay. 3.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 1.1. Cơ sở lý luận Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc kết hợp với vấn đề đất nước, chủ trương lãnh đạo của Nhà nước. 1.2. Phương pháp nghiên cứu Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin và các nguyên tắc phương pháp luận của Hồ Chí Minh như : tính Đảng, tính khoa học, lý luận gắn liền với thực tiễn, quan điểm lịch sử cụ thể, tính toàn diện, tính kế thừa và phát triển. Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, phương pháp đối chiếu, bên cạnh đó nhóm chúng em còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm đối với việc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng. 2 4.Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu 3 chương : Chương 1: Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Chương 3: Vận dụng những quan điểm đó trong công cuộc đổi mới hiện nay. 3 CHƯƠNG 1:NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1.Chủ nghĩa Mac Lê Nin nguồn gốc lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Dân tộc là một vấn đề rộng lớn được C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt chú ý trong quá trình xây dựng học thuyết của mình. Hai ông đã nêu ra các quan điểm cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết những vấn đề về nguồn gốc, bản chất của vấn đề dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc. Một trong những mục đích nghiên cứu vấn đề dân tộc của các ông là trả lời câu hỏi: Giai cấp công nhân có thái độ như thế nào đối với dân tộc? Xử lý như thế nào trong mối quan hệ dân tộc với giai cấp? Như thế các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xem xét vấn đề dân tộc trong mối liên hệ chặt chẽ với triển vọng của cách mạng vô sản ở Châu Âu.1,tr6 C. Mác và Ph.Ăngghen cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò độc lập dân tộc trong cuộc đấu tranh giai cấp. C. Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng, quá trình ra đời và thay đổi của các hình thức cộng đồng người trong lịch sử, xét cho đến cùng đều có nhân tố kinh tế. Mỗi hình thức cộng đồng người nói chung đều tương ứng với một phương thức sản xuất nhất định. Trong Hệ tư tưởng Đức C. Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Không phải chỉ riêng những quan hệ dân tộc này với dân tộc khác mà toàn bộ kết cấu bên trong của bản thân dân tộc đó đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất và sự giao tiếp bên trong và bên ngoài dân tộc ấy”2,tr30. Khi nghiên cứu về sự hình thành dân tộc tư sản, C. Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận: “Dân tộc là một sản vật và hình thức tất nhiên của thời đại tư sản trong quá trình phát triển xã hội”3,tr44. Kế thừa tư tưởng của C. Mác và Ph.Ăngghen, khi nghiên cứu về dân tộc V.I Lênin làm rõ thêm nội dung khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc, nó trở thành một hệ thống lý luận toàn diện, sâu sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của các Đảng cộng sản kiểu mới về vấn đề dân tộc. Theo quan điểm của V.I Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Trước dân tộc là những hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, 4 bộ tộc, bộ lạc. V.I. Lênin đấu tranh kiên quyết chống lại các biến tướng của chủ nghĩa duy tâm, xem dân tộc dường như phát sinh từ mảnh đất trống rỗng, không phải là kết quả của quá trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất, của sự phát triển các hình thức tộc người. V.I. Lênin cũng đã nêu ra cương lĩnh về quyền bình đẳng, quyền tự quyết dân tộc và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền bình đẳng và quyền tự quyết đó trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.. Khi bàn về sự phát triển của vấn đề dân tộc, V.I. Lênin đã đề cập hai. hướng phát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản: .Xu hướng thứ nhất, ở những quốc gia, khu vực tư bản chủ nghĩa gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người làm ăn, sinh sống. Đến một thời kỳ nào đó, sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về quyền sống của mình mà các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân tộc độc lập. Bởi vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới phát triển, còn xu hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản già cỗi sắp chuyển sang xã hội xã hội chủ nghĩa; Cả hai xu hướng đều phát triển trong điều kiện đối kháng giai cấp gay gắt. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa dân tộc tư sản không thể giải quyết được vấn đề dân tộc mà chỉ làm cho mối xung đột dân tộc ngày càng tăng lên. Chỉ có cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở thủ tiêu ách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, mới tạo điều kiện để thực hiện sự bình đẳng dân tộc và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau. Từ đó 5 V.I.Lênin yêu cầu các Đảng Cộng sản phải đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa vô sản, giành thắng lợi cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Như vậy dân tộc và sự phát triển của dân tộc không chỉ chịu sự chi phối của quy luật kinh tế xã hội mà còn chịu sự chi phối của quy luật phát triển tộc người. Bởi vì, quy luật kinh tế xã hội giữ vai trò quyết định nhất, song nếu chưa có sự chín muồi của nhân tố tộc người thì dân tộc cũng chưa thể xuất hiện. Vì vậy, có thể nói dân tộc là sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tộc người1,tr7. 2.Hoạt động thực tiễn – cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, việc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, xác lập đường lối, mục tiêu, chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam là một dấu mốc trong quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là quá trình nhận thức của Người từ thấp đến cao, từ hành trang tư tưởng trước khi ra đi tìm đường cứu nước đến nhận thức lý luận để vận dụng vào cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống tư tưởng đó có quá trình hình thành quan điểm về dân tộc, mối quan hệ dân tộc với giai cấp và con đường giải phóng dân tộc. Trước hết, phải khẳng định là do nội dung tư tưởng chiến lược về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mà Lênin đã nêu ra. Đó là quyền được độc lập của các dân tộc thuộc địa; là quyền tự quyết dân tộc nói chung phải bao gồm cả quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa.Luận cương của Lê nin đã chỉ rõ, những người cách mạng ở các nước thuộc địa phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân ở các nước chính quốc, không để những tư tưởng quốc gia dân tộc hẹp hòi mê hoặc; còn những người cách mạng ở chính quốc phải tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ở các nước thuộc địa; những nước cách mạng vô sản thành công phải giúp đỡ nhân dân các nước thuộc địa làm cách mạng và phải coi đây là nhiệm vụ chung của cách mạng vô sản quốc tế.1,tr 12 Với những nội dung cơ bản từ Luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm được lời giải đáp ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chính yếu về vấn đề dân tộc, cách 6 mạng giải phóng dân tộc và những biện pháp cơ bản nhằm đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Thông thường, từ sự giác ngộ ý thức giai cấp công nhân mới đi tới giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng ở Hồ Chí Minh thì điểm xuất phát lại từ thức về việc giải phóng dân tộc mình. Ngay cả khi đã đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn coi vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề cấp bách nhất. Quá trình nhận thức về dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, về con đường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản đã được từng bước thể hiện và ngày càng hoàn thiện, từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh đến Chính cương vắn tắt, điều lệ vắn tắt…đã thể hiện đầy đủ điều đó. Người xác định, cách mạng giải phóng dân tộc nhưng phải theo con đường cách mạng vô sản, cách mạng Tháng Mười Nga.5,tr 6 Như vậy, từ tinh thần yêu nước đã hình thành ở Hồ Chí Minh ý thức giai cấp của giai cấp vô sản. Từ sự đồng cảm của người dân nô lệ bị chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tình cảm quốc tế vô sản. Đó cũng là bước chuyển biến căn bản trong tình cảm và ý thức của Hồ Chí Minh. Đó cũng là nền tảng cực kỳ quan trọng để người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của thời đại. 7 CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1. Vấn đề dân tộc thuộc địa 1.1. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa. Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập. Trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đưa đại bác đến gõ cửa các quốc gia phương Đông, thì những quốc gia này vẫn còn đang chìm nặng trong bóng tối của chế độ phong kiến ở giai đoạn suy vong, với cấu trúc xã hội gồm hai giai cấp: Địa chủ phong kiến và nông dân. Dưới tác động của những chương trình khai thác thuộc địa, các giai cấp này ở Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi, những giai cấp mới lần lượt ra đời: Công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Tất cả các giai cấp đó đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa và là một mâu thuẫn không điều hòa được. Không chỉ quần chúng lao động (công nhân và nông dân), mà cả các giai cấp và tầng lớp trên trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản và địa chủ) đều phải chịu nỗi nhục của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập tự do. Ngay giai cấp tư sản Việt Nam cũng khác với giai cấp tư sản phương Tây, mặc dù vẫn là giai cấp bóc lột nhưng không phải là giai cấp thống trị. Họ không phải là đối tượng cách mạng, mà trái lại, có thể trở thành lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc1,tr16. Trong nhiều tác phẩm như Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người..., Hồ Chí Minh tập trung tố cáo chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chúng. Người viết: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v.”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
✡✡
MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG
CÔNG CUÔC ĐỔI MỚI HIỆN NAY
Trang 2ĐIỂM SỐ
ĐIỂM
NHẬN XÉT
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ký tên
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 2
1.1 Cơ sở lý luận 2
1.2 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1:NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 4
1 Chủ nghĩa Mac -Lê Nin - nguồn gốc lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 4
2. Hoạt động thực tiễn – cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 6
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 8
1 Vấn đề dân tộc thuộc địa 8
1.1 Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa 8
1.2 Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa 10
1.3 Chủ nghĩa dân tộc – Một động lực lớn của đất nước 11
2 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp 12
2.1 Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau 12
2.2 Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 12 2.3 Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp 12 2.4 Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của
các dân tộc khác 14
Trang 51. Quan điểm vận dụng của Đảng ta về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi
mới đất nước 15 1.1 Khơi dậy sức mạnh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn
động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 15 1.2 Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ
giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam 15 1.3 Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết vấn đề dân
tộc trên quan điểm giai cấp 16
2 Những thành tựu đạt và hạn chế của Đảng khi vận dụng những quan điểm
đó trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay 18 2.1 Thành tựu của Đảng khi vận dụng những quan điểm đó trong công
cuộc đổi mới đất nước hiện nay 19 2.2 Những hạn chế của Đảng khi vận dụng những quan điểm đó trong
công cuộc đổi mới đất nước hiện nay 22 KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tất cả các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa người với người,quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự địnhhướng cuộc sống của mỗi con người ở thời đại hiện nay Ở mọi dân tộc, quốc gia trênthế giới, nhất là những dân tộc, quốc gia đã từng bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâmlược, áp bức trên cơ sở duy trì chế độ bóc lột ở bên trong, ý thức giải phóng dân tộccủa nhân dân là động lực to lớn và khi nó kết hợp với ý thức giải phóng giai cấp củanhững người lao động nó trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển và tiến bộcủa đất nước Vấn đề dân tộc và giai cấp được coi là cơ sở quan trọng nhất trong hoạchđịnh và thực hiện chiến lược phát triển ở mỗi dân tộc và mỗi quốc gia
Thế giới ngày nay đang có những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, tác độngmạnh mẽ đến xu hướng phát triển của nhân loại và con đường phát triển của mỗi quốcgia dân tộc Những biến đổi đó đã làm cho mối quan hệ giữa các dân tộc lại càng phứctạp Đây cũng là vấn đề thời sự cấp bách, đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyếtđúng đắn trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay
Hiện nay, nước ta đang tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế, hội nhập vớikhu vực với thế giới Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động sức mạnh to lớn củakhối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trong bối cảnh quốc tế
có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược “diễn biếnhòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhằm phủ nhận vai tròlãnh đạo của giai cấp công nhân, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kếtgiữa các dân tộc Đối với chúng ta, hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay phải được giảiquyết đầy đủ và đúng đắn đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc gắn liền với việc xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội Đó cũng chính là giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc với giai cấp, dântộc Việt Nam với cộng đồng thế giới đang đặt ra hiện nay Vì vậy nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí minh về vấn đề dân tộc có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận và thực tiễn
Trang 72 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Trình bày và phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
- Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc kết hợp với vấn đề đấtnước, chủ trương lãnh đạo của Nhà nước
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc phương pháp luận của Hồ Chí Minh như : tính Đảng, tínhkhoa học, lý luận gắn liền với thực tiễn, quan điểm lịch sử cụ thể, tính toàn diện, tính
kế thừa và phát triển
Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic,phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, phương pháp đối chiếu, bên cạnh đónhóm chúng em còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm đối vớiviệc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng
Trang 9CHƯƠNG 1:NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
C Mác và Ph.Ăngghen cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò độc lập dân tộctrong cuộc đấu tranh giai cấp C Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng, quá trình rađời và thay đổi của các hình thức cộng đồng người trong lịch sử, xét cho đến cùng đều
có nhân tố kinh tế Mỗi hình thức cộng đồng người nói chung đều tương ứng với mộtphương thức sản xuất nhất định Trong Hệ tư tưởng Đức C Mác và Ph.Ăngghen đã chỉrõ: “Không phải chỉ riêng những quan hệ dân tộc này với dân tộc khác mà toàn bộ kếtcấu bên trong của bản thân dân tộc đó đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của sảnxuất và sự giao tiếp bên trong và bên ngoài dân tộc ấy”[2,tr30] Khi nghiên cứu về sựhình thành dân tộc tư sản, C Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận: “Dân tộc là mộtsản vật và hình thức tất nhiên của thời đại tư sản trong quá trình phát triển xãhội”[3,tr44]
Kế thừa tư tưởng của C Mác và Ph.Ăngghen, khi nghiên cứu về dân tộc V.ILênin làm rõ thêm nội dung khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc, nó trở thànhmột hệ thống lý luận toàn diện, sâu sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh,đường lối, chính sách của các Đảng cộng sản kiểu mới về vấn đề dân tộc
Theo quan điểm của V.I Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâudài của lịch sử Trước dân tộc là những hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc,
4
Trang 10bộ tộc, bộ lạc V.I Lênin đấu tranh kiên quyết chống lại các biến tướng của chủ nghĩaduy tâm, xem dân tộc dường như phát sinh từ mảnh đất trống rỗng, không phải là kếtquả của quá trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất, của sự phát triển các hìnhthức tộc người V.I Lênin cũng đã nêu ra cương lĩnh về quyền bình đẳng, quyền tựquyết dân tộc và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền bình đẳng và quyền tự quyết đótrên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Khi bàn về sự phát triển của vấn đề dân tộc, V.I Lênin đã đề cập hai hướngphát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản:
.Xu hướng thứ nhất, ở những quốc gia, khu vực tư bản chủ nghĩa gồm nhiềucộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người làm ăn, sinh sống Đến một thời kỳ nào đó,
sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về quyền sống của mình màcác cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân tộc độc lập Bởi vì
họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập họ mới có quyền quyết định vậnmệnh của mình mà cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đườngphát triển của dân tộc mình
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiềuquốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, củakhoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làmxuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộcxích lại gần nhau
Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới phát triển,còn xu hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản già cỗi sắp chuyển sang xã hội
xã hội chủ nghĩa; Cả hai xu hướng đều phát triển trong điều kiện đối kháng giai cấpgay gắt Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa dân tộc tư sản không thể giải quyếtđược vấn đề dân tộc mà chỉ làm cho mối xung đột dân tộc ngày càng tăng lên Chỉ cócách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở thủ tiêu ách áp bức giai cấp và ápbức dân tộc, mới tạo điều kiện để thực hiện sự bình đẳng dân tộc và xây dựng tình hữunghị giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau Từ đó
Trang 11V.I.Lênin yêu cầu các Đảng Cộng sản phải đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủnghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa vô sản, giành thắng lợi cho chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Như vậy dân tộc và sự phát triển của dân tộc không chỉ chịu sự chi phối của quyluật kinh tế - xã hội mà còn chịu sự chi phối của quy luật phát triển tộc người Bởi vì,quy luật kinh tế - xã hội giữ vai trò quyết định nhất, song nếu chưa có sự chín muồicủa nhân tố tộc người thì dân tộc cũng chưa thể xuất hiện Vì vậy, có thể nói dân tộc là
sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tộcngười[1,tr7]
2 Hoạt động thực tiễn – cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc.
Trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, việc sáng lập Đảngcộng sản Việt Nam, xác lập đường lối, mục tiêu, chiến lược, sách lược cho cách mạngViệt Nam là một dấu mốc trong quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là quátrình nhận thức của Người từ thấp đến cao, từ hành trang tư tưởng trước khi ra đi tìmđường cứu nước đến nhận thức lý luận để vận dụng vào cách mạng Việt Nam Trong
hệ thống tư tưởng đó có quá trình hình thành quan điểm về dân tộc, mối quan hệ dântộc với giai cấp và con đường giải phóng dân tộc
Trước hết, phải khẳng định là do nội dung tư tưởng chiến lược về vấn đề dântộc và vấn đề thuộc địa mà Lênin đã nêu ra Đó là quyền được độc lập của các dân tộcthuộc địa; là quyền tự quyết dân tộc nói chung phải bao gồm cả quyền tự quyết của cácdân tộc thuộc địa.Luận cương của Lê nin đã chỉ rõ, những người cách mạng ở cácnước thuộc địa phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân ở các nước chính quốc, không đểnhững tư tưởng quốc gia dân tộc hẹp hòi mê hoặc; còn những người cách mạng ởchính quốc phải tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ở cácnước thuộc địa; những nước cách mạng vô sản thành công phải giúp đỡ nhân dân cácnước thuộc địa làm cách mạng và phải coi đây là nhiệm vụ chung của cách mạng vôsản quốc tế.[1,tr 12]
Với những nội dung cơ bản từ Luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìmđược lời giải đáp ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chính yếu về vấn đề dân tộc, cách
6
Trang 12mạng giải phóng dân tộc và những biện pháp cơ bản nhằm đưa sự nghiệp cách mạngđến thắng lợi Thông thường, từ sự giác ngộ ý thức giai cấp công nhân mới đi tới giácngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng ở Hồ Chí Minh thì điểm xuất phát lại từ thức vềviệc giải phóng dân tộc mình Ngay cả khi đã đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Ngườivẫn coi vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề cấp bách nhất.
Quá trình nhận thức về dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, về conđường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản đã được từng bước thể hiện và ngàycàng hoàn thiện, từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh đến Chính cươngvắn tắt, điều lệ vắn tắt…đã thể hiện đầy đủ điều đó Người xác định, cách mạng giảiphóng dân tộc nhưng phải theo con đường cách mạng vô sản, cách mạng Tháng MườiNga.[5,tr 6]
Như vậy, từ tinh thần yêu nước đã hình thành ở Hồ Chí Minh ý thức giai cấpcủa giai cấp vô sản Từ sự đồng cảm của người dân nô lệ bị chủ nghĩa thực dân áp bức,bóc lột, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tình cảm quốc tế vô sản Đó cũng là bướcchuyển biến căn bản trong tình cảm và ý thức của Hồ Chí Minh Đó cũng là nền tảngcực kỳ quan trọng để người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành tiếpnhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của thời đại
Trang 13CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1 Vấn đề dân tộc thuộc địa
1.1 Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa
Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấutranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập
Trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đưa đại bác đến gõ cửa các quốc gia phương Đông, thì những quốc gia này vẫn còn đang chìm nặng trong bóng tối của chế
độ phong kiến ở giai đoạn suy vong, với cấu trúc xã hội gồm hai giai cấp: Địa chủ phong kiến và nông dân Dưới tác động của những chương trình khai thác thuộc địa, các giai cấp này ở Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi, những giai cấp mới lần lượt ra đời: Công nhân, tư sản, tiểu tư sản Tất cả các giai cấp đó đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân
Hồ Chí Minh chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa và là một mâu thuẫn không điều hòa được Không chỉ quần chúng lao động (công nhân và nông dân), mà cả các giai cấp vàtầng lớp trên trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản và địa chủ) đều phải chịu nỗi nhục của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập tự do Ngay giai cấp tư sản Việt Nam cũng khác với giai cấp tư sản phương Tây, mặc dù vẫn là giai cấp bóc lột nhưng không phải là giai cấp thống trị Họ không phải là đối tượng cách mạng, mà trái lại, cóthể trở thành lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc[1,tr16]
Trong nhiều tác phẩm như Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người , Hồ Chí Minh tập trung tố cáo chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chúng Người viết: “Để che đậy sự xấu xa của chế
độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v.”
8
Trang 14“Nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối với nhữngngười da đen là một hành động vô nhân đạo, thì tôi không còn biết gọi việc nhữngngười Âu nhân danh đi khai hóa mà giết hàng loạt người dân châu Phi là cái gì
nữa”[4,tr43] Trong những bài có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác, Người lên ánmạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dươngtrên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Người chỉ rõ sự đối kháng giữacác dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộcđịa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được Sự áp bức, thống trị dân tộc càng nặng
nề, thì phản ứng dân tộc sẽ càng quyết liệt về tính chất, đa dạng về nội dung và phongphú về hình thức Nghiên cứu tình hình Đông Dương, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Đằngsau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gàothét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”[4,199] Trong tác phẩm Bản ánchế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc lên án mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa thực dân
đã tước bỏ tất cả quyền con người và quyền dân tộc ở các thuộc địa
Hồ Chí Minh sinh ra trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, giai cấp phong kiến từng bước nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh chống Pháp lần lượt thất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế
“dường như trong đêm tối không có đường ra” Năm 1911, Người rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước Khác với các nhà yêu nước trước đó ra nước ngoài tìm kiếm sự giúp đỡ, học tập, “cầu viện”, hoặc đào tạo cán bộ để chỉ đạo, chuẩn bị lựclượng, phát động phong trào đấu tranh trong nước, Hồ Chí Minh quyết định sang Pháp
Những nhận định ban đầu của Người về nước Pháp đã được thực tiễn chứng minh
là đúng đắn Đặc biệt, với bước ngoặt tư tưởng khi tiếp xúc với “Luận cương của Lênin
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, có thể nói, Hồ Chí Minh đã tìm ra được chìa khóacho con đường cách mạng Việt Nam Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam
là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới; giải quyết vấn đề dân tộc và thuộc địa là một bộ phận của cách mạng thế giới: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới
và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt vớivận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”[4,tr121]
Trang 15Người nhận thấy ở Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản cần phải giải quyết: Một
là, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc cướp nước; Hai là, mâu thuẫn giữa đông đảo quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến Mâu thuẫn cơ bản ở Việt Nam cần tập trung giải quyết là mâu thuẫn giữa dân tộcViệt Nam với bọn đế quốc cướp nước và tay sai của chúng
Con đường giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh khẳng định rõ:
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[4,tr322] Giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng Tháng Mười, theo con đường cách mạng vô sản, đó là tư tưởng chỉ đạo mang tính nguyên tắc, được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đảng cũng như chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2 Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa
Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung cốt lõi là vấn đề độclập dân tộc Người tiếp cận vấn đề dân tộc từ những tư tưởng từ hai bản tuyên ngôncủa Pháp và Mỹ rồi đúc kết thành những hệ thống luận điểm về độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người được thiết lập từ giá trịcách mạng thế giới mang lại Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người hoàn toàn khácvới các học giả tư sản và những nhà tư tưởng hay triết học của nhân loại Cách tiếp cậncủa Người hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc Người xuất phát từ đặc điểm của thời đại vàcon người hiện thực để xem xét và giải quyết vấn đề con người Với cách xem xét đóthì quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết thông qua một cuộc cáchmạng hiện thực Nhận thức về quyền con người của Hồ Chí Minh là sự kế thừa nhữnggiá trị tư tưởng trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776 vàTuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng pháp năm 1791.[1,tr16]
Trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra cóquyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trongnhững quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Từ
lý luận về quyền con người mà hai cuộc cách mạng Pháp và Mỹ xác lập, trở thành giá
10