1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

26 52 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vấn Đề Phụ Nữ Và Sự Vận Dụng Của Đảng Trong Việc Giải Quyết Các Vấn Đề Về Quyền Phụ Nữ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. HCM
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Tiểu luận
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 465,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận 1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2 5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3 6. Kết cấu tiểu luận 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ. 4 1.1. Khái niệm quyền phụ nữ và các quyền phụ nữ 4 1.2. Khái niệm bình đẳng giới 4 1.3. Lịch sử về phong trào nữ quyền thế giới 5 1.4. Những dấu ấn trong phong trào phụ nữ Việt Nam đến nay 7 CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ NƯỚC TA HIỆN NAY 9 2.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề phụ nữ 9 2.2. Quan điểm tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ 9 2.2.1. Nhận định của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 9 2.2.2. Tầm quan trọng trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới 11 2.3. Hồ Chí Minh khẳng định vị thế và vai trò của phụ nữ trong xã hội 12 2.3.1. Vai trò của phụ nữ trong quan điểm của Hồ Chí Minh 12 2.3.2. Chủ trương trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ 13 2.4. Nhận định của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phụ nữ 14 2.5. Thực trạng công tác giải quyết các vấn đề về phụ nữ của đảng ta 16 2.5.1. Những kết quả đạt được 16 2.5.2. Những hạn chế 18 2.6. Một số biện pháp bảo vệ và phát huy quyền phụ nữ ở nước ta hiện nay 19 KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Một trong những vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử và cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn đề nổi bật của thời đại chúng ta đó là quyền con người. Quyền con người, dĩ nhiên trước hết là quyền cho mỗi cá nhân, quyền được khẳng định mình là một chủ thể với những quyền lợi, nghĩa vụ như mọi người khác. Thế nhưng loài người đã từng vạch đôi xã hội, một nửa là nam giới, nửa kia là phụ nữ, trong đó phụ nữ đã từng bị hạn chế hoặc bị loại trừ khỏi những quyền con người cơ bản. Chính vì lẽ đó, vấn đề giải phóng con người, đặc biệt là giải phóng phụ nữ luôn được các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa quan tâm và ngày nay nó là vấn đề chung của toàn nhân loại, bởi lẽ, quan tâm đến phụ nữ cũng có nghĩa là quan tâm đến nguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động. Trong thời kỳ hòa bình vàxây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹthuật. Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” (1). Như vậy người phụ nữ có một vị trí rất quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên năng lực của người phụ nữ vẫn không được đảm bảo và luôn bị xâm phạm về các quyền lợi. Ở Việt Nam vấn đề bất bình đẳng giới vẫn chưa được giải quyết triệt để mà biểu hiện cụ thể là phụ nữ vẫn chưa được hưởng các quyền bình đẳng như của nam giới. 2.Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận Mục đích: Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ 1 Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ, trên cơ sở đó nghiên cứu, đánh giá chủ trương của Đảng và nhà nước ta hiện nay trong công tác bảo vệ bình đẳng giới nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau: Trình bày có hệ thống các quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng; chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện và bảo vệ về quyền phụ nữ trong thời kỳ đổi mới. Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ quyền riêng của người phụ nữ và quyền bình đẳng nam nữ. Đề xuất quan điểm, giải pháp cũng như rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về chính sách bảo vệ bình đẳng nam nữ của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, tiểu luận đi sâu nghiên cứu sự tiếp thu,vận dụng của Đảng nhà nước trong việc thực hiện giải quyết các vấn đề về phụ nữ. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung đánh giá việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ vào thực hiện bình đẳng giới thông qua các số liệu đánh giá chung của Đảng, Nhà nước, các bộ ngành, các báo cáo của nhiều tổ chức trong nước và quốc tế về tình hình thực hiện bình đẳng giới trên bình diện cả nước. 4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: 2 Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; các quan điểm, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng em nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên hai phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó là các quan điểm giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh như tính Đảng, khoa học, tính lý luận và thực tiễn, tính lịch sử cụ thể, tính toàn diện hệ thống và tính kế thừa. Sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp logic và phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp điều tra xã hội học và ứng dụng. 5.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Góp phần khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề phụ nữ. Bài tiểu luận có thể làm tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập những chuyên đề liên quan đến vấn đề phụ nữ, bình đẳng nam nữ, bình đẳng giới ... trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học, khoa học chính trị và khoa học xã hội nhân văn. Góp phần cung cấp những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách về bình đẳng giới, thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức, giám sát thực hiện bình đẳng giới. 6.Kết cấu tiểu luận Tiểu luận có đầy đủ các phần mở đầu, nội dung, kết luận và mục tài liệu tham khảo. Trong phần nội dung bao gồm 3 chương: Chương 1: Các vấn đề về phụ nữ và quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ. Chương 2: vận dụng tư tưởng hồ chí minh trong việc giải quyết các vấn đề về phụ nữ của đảng trong giai đoạn hiện nay. 3 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ. 1.1. Khái niệm quyền phụ nữ và các quyền phụ nữ Nữ quyền, tức quyền nữ giới hay quyền phụ nữ, là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới. Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác, chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế. Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai trọng nam khinh nữ. Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về quyền nữ giới gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công, làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, được giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân. 1.2. Khái niệm bình đẳng giới Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới”. Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội. Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỉ lệ 5050 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển tòan diện về mọi mặt. Đồng thời tạo điều kiện và cơ hội 4 cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại. 1.3. Lịch sử về phong trào nữ quyền thế giới Trải qua nhiều biến động của lịch sử nhân loại cho thấy một bức tranh khá đầy đủ về sự bất bình đẳng đối với phụ nữ.Phong trào phụ nữ ngay từ khi ra đời là phong trào đòi quyền bình đẳng đối với nam giới, gọi tắt là phong trào nữ quyền. Phong trào nữ quyền bắt đầu từ thế kỷ XVIII, khi người ta ngày càng tin rằng phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trước pháp luật. Tư tưởng của nữ quyền bắt nguồn từ phương Tây vào Thời đại Khai sáng, khi con người biết rằng chính lý trí và khoa học chứ không phải tôn giáo sẽ làm cho nhân loại tiến bộ. Những nhà tư tưởng của thời kỳ này có bà Mary Wortley Montagu và Hầu tước Condorcet đấu tranh cho việc học vấn của phụ nữ. Nhiều nhà tư tưởng tự do như Jeremy Bentham đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ về mọi mặt. Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 với trên 5.000 phụ nữ diễu hành đến Versailles là một trong những sự kiện trọng đại. Ởchâu Á, Pandita Ramabai (1858 1922) ở Ấn Độ đã phê phán sự giáo điều của Ấn Độ giáo và bênh vực cho sự tự do của Phụ nữ ngay từ năm 1880. Kartini (1879 1904) ở Indonesia là người tiên phong trong phong trào giáo dục phụ nữ và giải phóng phụ nữ, thách thức xã hội bằng cách lập một trường nữ. Jiu Jin (18751907) ở Trung Quốc đã sang Nhật học và sau đó dấn thân vào phong trào phụ nữ. Sang thế kỷ XIX, những hoạt động của phong trào phụ nữ đã dẫn đến sự ra đời ngày Quốc tế Phụ nữ 83. Đó là phong trào phụ nữ công nhân trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 1844, nữ công nhân thành lập Hiệp hội Cải cách Nữ công nhân vùng Lowell, đòi chỉ làm việc 10 giờ mỗi ngày. Hoạt động của Hiệp hội đã khởi đầu cho những cải thiện điều kiện lao động trong ngành công nghiệp dệt. Năm 1848, phong trào nữ quyền có tổ chức được ghi nhận là từ Công ước Seneca Falls, bản Công ước đầu tiên về Quyền của phụ nữ hoặc còn được gọi là 5 Nghị quyết đầu tiên về quyền bầu cử của phụ nữ Hoa Kỳ. Công ước này được thông qua vào năm 1848. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có sự xuất hiện của nhiều tổ chức phụ nữ. Sớm nhất là Hội đồng Quốc tế của Phụ nữ, thành lập năm 1888 với mục đích tập hợp tất cả các tổ chức Phụ nữ ở các nước để đòi quyền bình đẳng cho Phụ nữ, quyền tham gia vào đời sống chính trị – xã hội. Lúc đầu các tổ chức này chỉ có ở Tây Âu và Bắc Mỹ, dần dần lan ra các vùng khác. Vào đầu thế kỷ XX, phụ nữ tại nhiều nước bắt đầu có quyền đi bầu cử, nhất là vào khoảng những năm cuối Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất và những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc. Có nhiều lý do khác nhau về việc cho phụ nữ được quyền bầu cử, trong đó có cả lý do nhằm công nhận sự đóng góp của phụ nữ trong thời gian chiến tranh. Thập kỷ 1920 là khoảng thời gian quan trọng đối với phụ nữ. Ngoài việc được quyền bầu cử, phụ nữ còn được sự công nhận của pháp luật tại nhiều nước. Tuy nhiên, cũng có nhiều phụ nữ bị mất việc làm mà họ đã có được trong thời gian chiến tranh. Tuy nhiên cũng còn nhiều phụ nữ làm việc tại nhà máy, nông trại và các nghề truyền thống của phụ nữ. Phụ nữ cũng đạt sự tiến bộ trong một số ngành. Thời gian sau Chiến tranh Thế giới thứ II, phong trào phụ nữ ở các nước công nghiệp có phần lắng vì phụ nữ đã có quyền đi bầu, đã giành được các phúc lợi xã hội. Từ thập niên 1960 và nhất là từ thập niên 1970, phong trào nữ quyền phát triển mạnh. Nhiều nhóm đấu tranh cho nữ quyền đã hình thành ở các nước phát triển và cả ở những nước đang phát triển. Điều đáng chú ý ở những nước đang phát triển là ảnh hưởng của phong trào phụ nữ tiến bộ ở các nuớc XHCN. Sự phát triển mới của phong trào phụ nữ với các chủ đề mới như: tăng số phụ nữ làm công tác quản lý, phụ nữ và phát triển… bởi mặc dù có những tiến bộ về kinh tế, xã hội, chính trị, phụ nữ vẫn chưa được tham gia một cách bình đẳng. 6 Năm 1975, với việc ra đời cuốn sách “Một tiếng nói nữa”, Marcia Millman và Rosabeth Kanter đã đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên nâng tư tưởng nữ quyền trở thành một môn khoa học xã hội. 1.4. Những dấu ấn trong phong trào phụ nữ Việt Nam đến nay Năm 1978: Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Năm 1989: Hội LHPN Việt Nam phát động hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII (1992): Tiếp tục thực hiện hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (1951997): phát triển hai phong trào thi đua từ Đại hội VII thành phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”; Phong trào “Ngày tiết kiệm vì Phụ nữ nghèo”; Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục phát động phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” thực hiện trong nữ công nhân viên chức và người lao động; Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX (2002): tiếp tục phát động phong trào thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X (01102007): tiếp tục phát động phong trào thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ xây dựng Mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo. Năm 2010, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, hưởng ứng chương trình xây dựng nông thôn mới, Hội phát động cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (2012) phát động phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh 7 phúc”; đồng thời triển khai sâu rộng 2 cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và “Rèn luyện các phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII (2017): Phong trào thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộc vận động: “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ

SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 2

ĐIỂM SỐ

ĐIỂM

NHẬN XÉT

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

6 Kết cấu tiểu luận 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ 4

1.1 Khái niệm quyền phụ nữ và các quyền phụ nữ 4

1.2 Khái niệm bình đẳng giới 4

1.3 Lịch sử về phong trào nữ quyền thế giới 5

1.4 Những dấu ấn trong phong trào phụ nữ Việt Nam đến nay 7

CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ NƯỚC TA HIỆN NAY 9

2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề phụ nữ 9

2.2 Quan điểm tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ 9

2.2.1 Nhận định của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 9

2.2.2 Tầm quan trọng trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới 11

2.3 Hồ Chí Minh khẳng định vị thế và vai trò của phụ nữ trong xã hội 12

2.3.1 Vai trò của phụ nữ trong quan điểm của Hồ Chí Minh 12

2.3.2 Chủ trương trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ 13

2.4 Nhận định của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phụ nữ 14

2.5 Thực trạng công tác giải quyết các vấn đề về phụ nữ của đảng ta 16

2.5.1 Những kết quả đạt được 16

2.5.2 Những hạn chế 18

Trang 4

2.6 Một số biện pháp bảo vệ và phát huy quyền phụ nữ ở nước ta hiện nay 19

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấutranh dân tộc trong lịch sử và cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn đề nổibật của thời đại chúng ta đó là quyền con người Quyền con người, dĩ nhiêntrước hết là quyền cho mỗi cá nhân, quyền được khẳng định mình là một chủ thểvới những quyền lợi, nghĩa vụ như mọi người khác Thế nhưng loài người đãtừng vạch đôi xã hội, một nửa là nam giới, nửa kia là phụ nữ, trong đó phụ nữ đãtừng bị hạn chế hoặc bị loại trừ khỏi những quyền con người cơ bản Chính vì lẽ

đó, vấn đề giải phóng con người, đặc biệt là giải phóng phụ nữ luôn được cácnhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa quan tâm và ngày nay nó là vấn đề chung củatoàn nhân loại, bởi lẽ, quan tâm đến phụ nữ cũng có nghĩa là quan tâm đếnnguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xãhội loài người

"Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời

kỳ hòa bình vàxây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vựckinh tế, văn hóa, khoa học - kỹthuật Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đángvới tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: “Anh hùng, bấtkhuất, trung hậu, đảm đang” (1) Như vậy người phụ nữ có một vị trí rất quantrọng trong xã hội

Tuy nhiên năng lực của người phụ nữ vẫn không được đảm bảo và luôn bịxâm phạm về các quyền lợi Ở Việt Nam vấn đề bất bình đẳng giới vẫn chưađược giải quyết triệt để mà biểu hiện cụ thể là phụ nữ vẫn chưa được hưởng cácquyền bình đẳng như của nam giới

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu luận

Mục đích:

Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ

Trang 6

Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về bìnhđẳng nam nữ, trên cơ sở đó nghiên cứu, đánh giá chủ trương của Đảng và nhànước ta hiện nay trong công tác bảo vệ bình đẳng giới nhằm nâng cao hiệu quảthực hiện bình đẳng giới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

vệ về quyền phụ nữ trong thời kỳ đổi mới

Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sáchbảo vệ quyền riêng của người phụ nữ và quyền bình đẳng nam nữ

Đề xuất quan điểm, giải pháp cũng như rút ra những kinh nghiệm từ thựctiễn nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay theo

tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về chính sách bảo vệ bìnhđẳng nam nữ của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, tiểu luận đi sâunghiên cứu sự tiếp thu,vận dụng của Đảng nhà nước trong việc thực hiện giảiquyết các vấn đề về phụ nữ

Phạm vi nghiên cứu:

Tập trung đánh giá việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam

nữ vào thực hiện bình đẳng giới thông qua các số liệu đánh giá chung của Đảng,Nhà nước, các bộ ngành, các báo cáo của nhiều tổ chức trong nước và quốc tế vềtình hình thực hiện bình đẳng giới trên bình diện cả nước

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Trang 7

Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; các quan điểm, chủ trương, chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng em nghiên cứu tư tưởng Hồ ChíMinh dựa trên hai phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảnggồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó làcác quan điểm giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh như tính Đảng, khoa học, tính

lý luận và thực tiễn, tính lịch sử cụ thể, tính toàn diện hệ thống và tính kế thừa

Sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích tổng hợp,phương pháp logic và phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp điều tra xãhội học và ứng dụng

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Góp phần khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng

và Nhà nước Việt Nam về vấn đề phụ nữ

Bài tiểu luận có thể làm tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy,học tập những chuyên đề liên quan đến vấn đề phụ nữ, bình đẳng nam nữ, bìnhđẳng giới trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học, khoa học chính trị và khoahọc xã hội nhân văn

Góp phần cung cấp những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạchđịnh chính sách về bình đẳng giới, thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳnggiới trong tổ chức, giám sát thực hiện bình đẳng giới

6 Kết cấu tiểu luận

Tiểu luận có đầy đủ các phần mở đầu, nội dung, kết luận và mục tài liệutham khảo Trong phần nội dung bao gồm 3 chương:

Chương 1: Các vấn đề về phụ nữ và quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề phụ nữ

Chương 2: vận dụng tư tưởng hồ chí minh trong việc giải quyết các vấn đề

về phụ nữ của đảng trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA TƯ

TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ.

1.1 Khái niệm quyền phụ nữ và các quyền phụ nữ

Nữ quyền, tức quyền nữ giới hay quyền phụ nữ, là các quyền lợi bình đẳnggiới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trênthế giới Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởiluật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác,chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộnghơn về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống vàlịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khithiên vị nam giới và trẻ em trai "trọng nam khinh nữ"

Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về quyền nữ giới gồm cácquyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công,làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng,được giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyềntrong hôn nhân

1.2 Khái niệm bình đẳng giới

Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống

và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới” Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiệnbình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có

cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xãhội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bìnhđẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội

Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai tròcủa nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệtđối hóa bằng con số hoặc tỉ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vaitrò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻcông việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiệncho nam, nữ phát triển tòan diện về mọi mặt Đồng thời tạo điều kiện và cơ hội

Trang 9

cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vácphần lớn lao động gia đình đem lại.

1.3 Lịch sử về phong trào nữ quyền thế giới

Trải qua nhiều biến động của lịch sử nhân loại cho thấy một bức tranh kháđầy đủ về sự bất bình đẳng đối với phụ nữ.Phong trào phụ nữ ngay từ khi ra đời

là phong trào đòi quyền bình đẳng đối với nam giới, gọi tắt là phong trào nữquyền

Phong trào nữ quyền bắt đầu từ thế kỷ XVIII, khi người ta ngày càng tinrằng phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trước pháp luật Tư tưởng của nữ quyền bắtnguồn từ phương Tây vào Thời đại Khai sáng, khi con người biết rằng chính lýtrí và khoa học chứ không phải tôn giáo sẽ làm cho nhân loại tiến bộ

Những nhà tư tưởng của thời kỳ này có bà Mary Wortley Montagu và Hầutước Condorcet đấu tranh cho việc học vấn của phụ nữ Nhiều nhà tư tưởng tự

do như Jeremy Bentham đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ về mọi mặt

Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 với trên 5.000 phụ nữ diễu hành đếnVersailles là một trong những sự kiện trọng đại

Ở châu Á, Pandita Ramabai (1858 -1922) ở Ấn Độ đã phê phán sự giáođiều của Ấn Độ giáo và bênh vực cho sự tự do của Phụ nữ ngay từ năm 1880.Kartini (1879 -1904) ở Indonesia là người tiên phong trong phong trào giáo dụcphụ nữ và giải phóng phụ nữ, thách thức xã hội bằng cách lập một trường nữ JiuJin (1875-1907) ở Trung Quốc đã sang Nhật học và sau đó dấn thân vào phongtrào phụ nữ

Sang thế kỷ XIX, những hoạt động của phong trào phụ nữ đã dẫn đến sự rađời ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 Đó là phong trào phụ nữ công nhân trong thời kỳđầu của công nghiệp hóa ở Châu Âu và Bắc Mỹ

Năm 1844, nữ công nhân thành lập Hiệp hội Cải cách Nữ công nhân vùngLowell, đòi chỉ làm việc 10 giờ mỗi ngày Hoạt động của Hiệp hội đã khởi đầucho những cải thiện điều kiện lao động trong ngành công nghiệp dệt

Năm 1848, phong trào nữ quyền có tổ chức được ghi nhận là từ Công ướcSeneca Falls, bản Công ước đầu tiên về Quyền của phụ nữ hoặc còn được gọi là

Trang 10

Nghị quyết đầu tiên về quyền bầu cử của phụ nữ Hoa Kỳ Công ước này đượcthông qua vào năm 1848.

Đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có sự xuất hiện của nhiều tổ chứcphụ nữ Sớm nhất là Hội đồng Quốc tế của Phụ nữ, thành lập năm 1888 với mụcđích tập hợp tất cả các tổ chức Phụ nữ ở các nước để đòi quyền bình đẳng choPhụ nữ, quyền tham gia vào đời sống chính trị – xã hội Lúc đầu các tổ chức nàychỉ có ở Tây Âu và Bắc Mỹ, dần dần lan ra các vùng khác

Vào đầu thế kỷ XX, phụ nữ tại nhiều nước bắt đầu có quyền đi bầu cử, nhất

là vào khoảng những năm cuối Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất và những nămđầu sau khi chiến tranh kết thúc Có nhiều lý do khác nhau về việc cho phụ nữđược quyền bầu cử, trong đó có cả lý do nhằm công nhận sự đóng góp của phụ

nữ trong thời gian chiến tranh

Thập kỷ 1920 là khoảng thời gian quan trọng đối với phụ nữ Ngoài việcđược quyền bầu cử, phụ nữ còn được sự công nhận của pháp luật tại nhiều nước.Tuy nhiên, cũng có nhiều phụ nữ bị mất việc làm mà họ đã có được trong thờigian chiến tranh Tuy nhiên cũng còn nhiều phụ nữ làm việc tại nhà máy, nôngtrại và các nghề truyền thống của phụ nữ Phụ nữ cũng đạt sự tiến bộ trong một

số ngành

Thời gian sau Chiến tranh Thế giới thứ II, phong trào phụ nữ ở các nướccông nghiệp có phần lắng vì phụ nữ đã có quyền đi bầu, đã giành được các phúclợi xã hội Từ thập niên 1960 và nhất là từ thập niên 1970, phong trào nữ quyềnphát triển mạnh Nhiều nhóm đấu tranh cho nữ quyền đã hình thành ở các nướcphát triển và cả ở những nước đang phát triển Điều đáng chú ý ở những nướcđang phát triển là ảnh hưởng của phong trào phụ nữ tiến bộ ở các nuớc XHCN

Sự phát triển mới của phong trào phụ nữ với các chủ đề mới như: tăng sốphụ nữ làm công tác quản lý, phụ nữ và phát triển… bởi mặc dù có những tiến

bộ về kinh tế, xã hội, chính trị, phụ nữ vẫn chưa được tham gia một cách bìnhđẳng

Trang 11

Năm 1975, với việc ra đời cuốn sách “Một tiếng nói nữa”, Marcia Millman

và Rosabeth Kanter đã đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên nâng tư tưởng nữquyền trở thành một môn khoa học xã hội

1.4 Những dấu ấn trong phong trào phụ nữ Việt Nam đến nay

Năm 1978: Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Năm 1989: Hội LHPN Việt Nam phát động hai cuộc vận động “Phụ nữgiúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ emsuy dinh dưỡng và bỏ học”

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII (1992): Tiếp tục thực hiện hai cuộcvận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Nuôi dạy con tốt, góp phầnhạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (19/5/1997): phát triển hai phongtrào thi đua từ Đại hội VII thành phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao độngsáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ nữ giúp nhauphát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”; Phong trào “Ngày tiếtkiệm vì Phụ nữ nghèo”; Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục phát động phongtrào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” thực hiện trong nữ công nhân viên chức vàngười lao động;

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX (2002): tiếp tục phát động phong tràothi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnhphúc”

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X (01/10/2007): tiếp tục phát động phongtrào thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đìnhhạnh phúc” gắn với thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ xây dựng Mái ấmtình thương cho phụ nữ nghèo Năm 2010, gắn với phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa”, hưởng ứng chương trình xây dựng nông thônmới, Hội phát động cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (2012) phát động phong trào thi đua

“Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh

Trang 12

phúc”; đồng thời triển khai sâu rộng 2 cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5không, 3 sạch” góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và “Rènluyện các phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” gắn với họctập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII (2017): Phong trào thi đua: “Phụ nữtích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộcvận động: “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảmđang”gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:

“Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thịvăn minh

Trang 13

CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT

CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHỤ NỮ NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề phụ nữ

Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen - các lãnh tụ thiên tài của giaicấp vô sản toàn thế giới - đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bạilịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đànông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bịbiến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơnthuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nềnsản xuất xã hội” “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ

xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà

là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” Hai ông khẳng định: “Một sựbình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đãthủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nộitrợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”

V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”,

“Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, khôngphân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “ bổ nhiệm nữ thanh tra trong cácngành mà lao động nữ chiếm đa số”; “thành lập chế độ cộng hòa , thực hiệnchế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng”; “hủy bỏ tất cả mọi sựhạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so vớicác quyền của nam giới” Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạtđược tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”

2.2 Quan điểm tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ

2.2.1 Nhận định của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từlâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độthực dân phong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến,nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề

Ngày đăng: 24/10/2023, 01:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS.TS Đỗ Thị Thạch, ThS. Nguyễn Thị Tuyết - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạp chí tổ chức nhà nước online, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam (tcnn.vn) , 07/07/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và sự vận dụngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam
3. Báo phụ nữ Việt Nam – cơ quan trung ương của hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Lịch sử phong trào nữ quyền thế giới Lịch sử phong trào nữ quyền thế giới ằ Bỏo Phụ Nữ Việt Nam (phunuvietnam.vn) , 26/03/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào nữ quyền thế giới
Tác giả: Báo phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Bỏo Phụ Nữ Việt Nam
Năm: 2016
4. Th.s_Ủy viên thường trực Ủy Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Thị Quốc Khánh - Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207473 , 1/1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới
Tác giả: Trần Thị Quốc Khánh
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011
5. Trung ương hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam – 90 năm, những mốc son lịch sử của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2020), https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/90-nam-nhung-moc-son-lich-su-27, 10/10/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 90 năm, những mốc son lịch sử của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2020)
Tác giả: Trung ương hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Năm: 2020
6. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà - THS. Trần Thị Vân, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ coogn cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, Tạp chí Cộng sản online, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ coogn cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà, THS. Trần Thị Vân
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản online
2018/821700/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-giai-phong-phu-nu-trong-su-nghiep-day-manh-toan-dien%2C-dong-bo-cong-cuoc-doi-moi%2C-hoi-nhap-va-phat-trien-dat-nuoc.aspx#, 04-04-2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w