Điều này cũng có những tác động nhất định đối với một số quốc gia có ngành hàng hải phát triển, dẫn đến việc các quốc gia đang dần cân nhắc ban hành khung pháp lý điều chỉnh việc phát hà
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ - QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA HƯỚNG HOÀN THIỆN DÀNH CHO VIỆT
Trang 2MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ - QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA HƯỚNG HOÀN THIỆN DÀNH CHO VIỆT
Trang 3Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS.Võ Hưng Đạt, đảm bảo tính trung thực
và tuân thủ quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Hoàng Anh
Trang 4năm 2000 của Hoa Kỳ
tế Liên Hợp Quốc
2013 quy định về thực hiện các quy định của Đạo luật Thương mại về Vận đơn Điện tử của Hàn Quốc Nghị định số
52/2013/NĐ-CP
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP vào ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử
Đơn Đường Biển Được Ký Tại Brussel Ngày 25 Tháng 8 Năm
1924 Quy tắc Hague
Visby
Nghị Định Thư Sửa Đổi Công Ước Quốc Tế Để Thống Nhất Một Số Quy Tắc Về Vận Đơn Đường Biển năm 1968
Trang 5Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ ĐƯỜNG BIỂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ 7
1.1 Khái quát về vận đơn và vận đơn điện tử đường biển 7
1.1.1 Khái niệm vận đơn đường biển 7
1.1.2 Cơ chế hoạt động của vận đơn đường biển 9
1.1.3 Chức năng của vận đơn đường biển 10
1.1.4 Phân loại vận đơn 12
1.2 Khái quát về vận đơn điện tử đường biển 15
1.2.1 Khái niệm vận đơn điện tử đường biển 15
1.2.2 Cơ chế hoạt động của vận đơn điện tử đường biển 18
1.3 Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng vận đơn điện tử thay thế vận đơn truyền thống 20
1.3.1 Những lợi ích của việc sử dụng vận đơn điện tử 20
1.3.2 Những khó khăn khi sử dụng vận đơn điện tử 22
1.4 Một số vấn đề pháp lý liên quan đến vận đơn điện tử đường biển 25
1.4.1 Giá trị pháp lý của vận đơn điện tử 25
1.4.2 Quyền kiểm soát đối với vận đơn điện tử 27
1.4.3 Tính chuyển nhượng của vận đơn điện tử 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ THEO LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI - KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 33
2.1 Giá trị pháp lý của vận đơn điện tử theo một số Công ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia 33
2.2.1 Quy định của các Công ước và tập quán quốc tế 33
2.1.1 Quy định của Hoa Kỳ 37
2.1.2 Quy định của Hàn Quốc 42
2.2 Quyền kiểm soát đối với vận đơn điện tử 45
2.2.1 Quy định của một số Công ước và Tập quán quốc tế 45
2.2.2 Quy định của Hoa Kỳ 48
2.2.3 Quy định của Hàn Quốc 53
2.3 Tính chuyển nhượng của vận đơn điện tử 57
Trang 62.3.1 Quy định của một số Công ước và Tập quán quốc tế 57
2.3.2 Quy định của Hoa Kỳ 58
2.3.3 Quy định của Hàn Quốc 60
2.4 Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị 62
2.4.1 Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam dành cho vận đơn điện tử 62
2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thương mại quốc tế đang dần trở thành một phần thiết yếu trong nền kinh tế thế giới Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, các quốc gia, các doanh nghiệp tăng cường mở rộng thị trường hàng hóa Do đó, vận tải biển từ nhiều năm nay đóng vai trò quan trọng, chi phối phần lớn hoạt động vận chuyển hàng hóa trên thế giới Tuy nhiên, giữa năm 2019 – 2021, đại dịch Covid xuất hiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế thế giới nói chung và ngành xuất nhập khẩu nói riêng Giãn cách xã hội kéo dài, nhiều quốc gia thực hiện chính sách không cho xuất, nhập cảnh đã dẫn đến việc giao nhận hàng hóa khó khăn Không chỉ vậy, việc giao nhận các bộ chứng từ liên quan đến vận chuyển hàng hóa đường biển, trong đó có vận đơn bị thất lạc, đến chậm, không xuất trình đúng hạn dẫn đến hàng hóa bị ách tắc tại cảng và các hệ lụy cho các chủ thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu
Trong vài thập kỷ qua, phần mềm máy tính và nền tảng web hoạt động đã châm ngòi cho sự gia tăng của các giao dịch không cần giấy tờ, định hình cách mọi người giao tiếp, sắp xếp thông tin và kinh doanh Tuy nhiên, ngành công nghiệp vận tải biển đã không bắt kịp Qua đại dịch Covid 19, ngành hàng hải thế giới đã bước đầu ứng dụng công nghệ trong việc số hóa giấy tờ để khắc phục được những bất cập mà hồ sơ truyền thống mắc phải Vận đơn điện tử là một trong số những bước cải tiến đầu tiên trong cuộc cải cách này Việc cho ra đời một loại vận đơn mới, cũng kéo theo nhiều vấn đề cần được giải quyết Vì tính mới về mặt công nghệ và ứng dụng nên đã tạo ra “mơ hồ” về mặt pháp lý khi đưa vận đơn điện tử vào sử dụng Do đó, để vận đơn điện tử là một phần thiết yếu của ngành hàng hải, cần phải có một khung pháp lý hoàn thiện, để các doanh nghiệp nói chung và các chủ hàng hay các hãng vận chuyển nói riêng tự tin áp dụng và hạn chế tối đa sự bất cập về mặt pháp lý của vận đơn điện tử
Trang 8Nhận thấy được tầm quan trọng của vận đơn điện tử đối với vận tải biển nội địa và vận tải xuyên biên giới, một số Công ước, tập quán, bộ quy tắc quốc tế được ra đời nhằm tạo ra môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu Điều này cũng có những tác động nhất định đối với một số quốc gia có ngành hàng hải phát triển, dẫn đến việc các quốc gia đang dần cân nhắc ban hành khung pháp lý điều chỉnh việc phát hành và sử dụng vận đơn, vận đơn điện tử
Công ước Rotterdam, Luật mẫu về Hồ sơ điện tử của UNCITRAL, Quy tắc CMI
là một trong những văn bản quốc tế đầu tiên đề cập đến giá trị pháp lý và đặt ra những quy tắc trong quá trình sử dụng vận đơn điện tử Từ kinh nghiệm của các văn bản này, các quốc gia như Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng bắt đầu nội địa hóa những quy định quốc
tế để phù hợp hơn với hệ thống pháp luật quốc gia Nhìn chung, chủ yếu các quốc gia này tham khảo và ứng dụng cách quy định theo Luật mẫu của UNCITRAL Dù vậy, cả Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều có những cách quy định khác biệt và chi tiết hơn so với Luật mẫu Không dừng lại ở đó, hiện nay Việt Nam vẫn chưa có văn bản nào công nhận hay quy định cụ thể về vận đơn điện tử Chính vì vậy, các công ty vận chuyển lớn, các hãng tàu lớn trên thế giới dù đã ứng dụng vận đơn điện tử nhưng tại Việt Nam việc sử dụng lại không được thực hiện Đây là một trong những trở ngại lớn trong việc phát triển kinh
tế hàng hải bắt nguồn từ việc thiếu hụt khung pháp lý phù hợp với thực tiễn xã hội Do
đó, tác giả đã chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý của vận đơn điện tử - quy định quốc
tế và pháp luật của một số quốc gia Hướng hoàn thiện dành cho Việt Nam” để
nghiên cứu, từ đó rút ra những kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế để đưa ra những kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực hàng hải
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tại Việt Nam
Đoàn Mai Anh (2018), “Công nghệ Blockchain tạo bước tiến mới trong việc số hóa vận đơn đường biển” Căn cứ vào sự phát triển của công nghệ hiện nay được ứng dụng
Trang 9vào ngành hàng hải trên toàn thế giới, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về việc sử dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để tạo ra vận đơn điện tử Qua đó, tác giả đánh giá sơ bộ về tính ứng dụng của vận đơn điện tử và sự công nhận của pháp luật trên thế giới đối với loại vận đơn mới này
Ngô Khắc Lễ, “Vận đơn điện tử có thay thế được vận đơn giấy trong mọi trường hợp không?, Ta ̣p chí Vietnam Logistics Review” Bài viết cung cấp những thông tin khái quát về vận đơn điện tử, phân tích những vấn đề mang tính kỹ thuật và tính pháp lý phát sinh từ vận đơn điện tử Cuối cùng là phân tích những thuận lợi và khó khăn khi đưa vận đơn điện tử vào áp dụng trong thực tế
Nguyễn Thái Sơn, “Vận Đơn Đường Biển Điện Tử (E-B/L) Và Khả Năng Áp Dụng
Ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, số 212(ii) tháng 2/2015” Bài viết đưa ra góc nhìn tổng quan về vận đơn đường biển điện tử Tác giả thực hiện khảo sát ở nhiều khía cạnh lĩnh vực và chỉ ra sự cần thiết của vận đơn đường biển điện tử tại Việt Nam Từ đó, đánh giá khả năng áp dụng vận đơn điện tử tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị để sử dụng vận đơn điện tử tại Việt Nam
Dương Thị Thu Lan, “Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Vận Đơn Đường Biển Điện Tử
Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Việt Nam, Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế số 149 (09/2022)” Tác giả đã khái quát về vận đơn điện tử cũng như vấn đề pháp lý về pháp luật điều chỉnh vận đơn điện tử trong luật pháp quốc tế và Việt Nam Đồng thời tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị dành cho nhà nước và các doanh nghiệp trong vấn đề đưa vận đơn điện tử vào ứng dụng
2.2 Trên thế giới
Ali Abbas Khayoon (2021), “The Legal Recognition of Electronic Bills of Lading, WMU Publications: Malmö, Sweden” Nghiên cứu này xem xét liệu vận đơn điện tử có thể thực hiện ba chức năng của vận đơn truyền thống hay không Tác giả tập trung nghiên cứu việc công nhận vận đơn điện tử theo pháp luật hiện hành Nghiên cứu kết hợp hai
Trang 10cách tiếp cận: cách tiếp cận quốc tế và cách tiếp cận pháp luật Anh Tác giả nghiên cứu nguồn gốc, định nghĩa, loại và quan trọng nhất là chức năng của vận đơn giấy được phi vật chất hóa bằng vận đơn điện tử, cũng như khung pháp lý quốc tế hiện hành điều chỉnh vận đơn giấy Cách tiếp cận này nghiên cứu các vận đơn điện tử và theo dõi quá trình phát triển của chúng từ những nỗ lực đầu tiên cho đến khi chúng được sử dụng trên thị trường ngày nay
Van Boom, W.H., “Certain Legal Aspects of Electronic Bills of Lading, European Transport Law” Bài viết chủ yếu nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý của vận đơn điện
tử Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung khai thác các vấn đề từ việc nghiên cứu vận đơn BOLERO dưới các khía cạnh như tính tương đương giữa vận đơn điện tử và vận đơn truyền thống; khả năng thay thế vận đơn truyền thống của vận đơn điện tử
Meetali B Shambharkar, “Ambiguous Status of Electronic Bill of Lading in the Era of Digitalization: An Overview” Bài viết nhằm làm nổi bật ý nghĩa và chức năng của vận đơn Đồng thời tập trung vào sự xuất hiện của vận đơn điện tử và tình trạng pháp
lý “mơ hồ” của nó trong thời đại số hóa
Quentin Schiltz, “Legal compliance of the electronic Bill of Lading, Atlantis Highlights in Computer Sciences, volume 1, International Conference on Digital Transformation in Logistics and Infrastructure.” Bài báo này bàn luận về các tiêu chuẩn
và quy định hiện có như Quy tắc Rotterdam, Luật mẫu về Hồ sơ có thể chuyển nhượng điện tử và Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và đánh giá mức độ chúng có thể hỗ trợ việc triển khai
Các công trình nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu về khả năng áp dụng hay khả năng thay thế vận đơn truyền thông của vận đơn điện tử Bên cạnh đó, một số bài viết cũng chỉ tập trung khai thác các quy định dưới góc độ pháp luật quốc tế như Quy tắc CMI, MLETR, Quy tắc CMI, Quy tắc BOLERO hoặc Trao đổi dữ liệu điện tử mà chưa đi sâu vào việc phân tích những vấn đề pháp lý quan trọng và cần thiết khi sử dụng
Trang 11vận đơn điện tử Trên tinh thần kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, nghiên cứu của tác giả tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý, quyền kiểm soát và chuyển nhượng vận đơn điện tử theo phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia; từ đó làm cơ sở phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam
và định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp dành cho vận đơn điện tử tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện với những mục đích: (i) Làm rõ những vấn đề lý luận về vận đơn điện tử; (ii) Phân tích một số vấn đề pháp lý quan trọng của vận đơn điện tử; (iii) Nghiên cứu và phân tích quy định của Công ước Rotterdam, MLETR và Quy tắc CMI
về giá trị pháp lý, quyền kiểm soát và tính chuyển nhượng của vận đơn điện tử; (iii) Phân tích, đánh giá pháp luật của Hoa Kỳ và Hàn Quốc khi quy định về vận đơn điện tử; (iv) Tìm hiểu về thực trạng quy định về vận đơn điện tử tại Việt Nam; (v) Rút ra những kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế để đóng góp giải pháp tạo ra khung pháp lý cho vận đơn điện tử tại Việt Nam
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài với những phạm vi nghiên cứu cụ thể sau:
Dưới góc độ lý luận: Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về vận đơn điện tử, một
số vấn đề pháp lý của vận đơn điện tử bao gồm giá trị pháp lý của vận đơn điện tử, quyền kiểm soát vận đơn điện tử và tính chuyển nhượng vận đơn điện tử
Dưới góc độ quy định của pháp luật: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế như Công ước Rotterdam, MLETR, Quy tắc CMI; các quy định của pháp luật quốc gia như Hoa Kỳ và Hàn Quốc về những vấn đề pháp lý được nêu tại phần lý luận Phân tích, đánh giá một số ưu và nhược điểm trong mỗi quy định được nghiên cứu Từ
đó đánh giá sự phù hợp đối với pháp luật Việt Nam, đồng thời đưa ra đóng góp xây dựng khung pháp lý của Việt Nam dành cho vận đơn điện tử
Trang 124.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các quy định pháp luật đối với vận đơn điện tử theo pháp luật quốc tế là Công ước Rotterdam, MLETR, Quy tắc CMI và theo pháp luật quốc gia là Hoa Kỳ, Hàn Quốc Cụ thể là các quy định về giá trị pháp lý của vận đơn điện tử, quy định liên quan đến quyền kiểm soát vận đơn điện tử và một số thủ tục thực hiện khi chuyển nhượng vận đơn điện tử
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận về một số vấn đề pháp lý liên quan đến vận đơn điện tử Đề tài cũng làm rõ thực trạng thiếu hụt khung pháp lý dành cho vận đơn điện tử tại Việt Nam Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và đánh giá, đề tài đóng góp định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp khi sử dụng vận đơn điện tử tại Việt Nam
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khải, bố cục của khóa luận bao gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về vận đơn điện tử đường biển và một số vấn đề pháp lý Chương 2: Vận đơn điện tử theo luật pháp quốc tế và một số quốc gia trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ ĐƯỜNG BIỂN VÀ MỘT
SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ 1.1 Khái quát về vận đơn và vận đơn điện tử đường biển
1.1.1 Khái niệm vận đơn đường biển
Trước thế kỷ XI, các quốc gia không sử dụng hồ sơ hoặc tài liệu khi vận chuyển hàng hóa, bởi tại thời điểm đó thương nhân cũng là chủ của con tàu, hoặc đi cùng hàng hóa của họ trên biển cho đến khi hàng hóa được bán Đến thế kỷ XVI, vận đơn bắt đầu xuất hiện và được sử dụng phổ biến Những vận đơn “sơ khai” chỉ thể hiện tình trạng của hàng hóa Chúng thường được tìm thấy nhiều nhất trong các hóa đơn vận chuyển hàng hóa từ Tây Ban Nha hoặc hàng hóa của người Tây Ban Nha Vào năm 1549, những thông tin được thể hiện trên vận đơn đã chi tiết hơn, thể hiện số lượng, khối lượng hàng hóa, tình trạng chi tiết của hàng hóa trên tàu Đến năm 1802, các thương nhân đã thiết lập một số nguyên tắc quản lý vận đơn Pháp lệnh Hàng hải của Louis XIV được ban hành và thực hiện tại thời điểm đó Theo đó, các điều khoản xác nhận tình trạng của hàng hóa đã không còn tùy nghi; tất cả các hóa đơn được yêu cầu phải "có chất lượng, số lượng và nhãn hiệu của hàng hóa.” Sắc lệnh cũng ghi nhận rằng cần phải giới hạn trách
Hiện nay, đa số hàng hóa trong giao dịch thương mại quốc tế được vận chuyển bằng phương thức vận tải đường biển, vận đơn cũng vì thế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số chứng từ vận tải đang được sử dụng
Với lịch sử hình thành và nguồn gốc xuất xứ, có thể nhận định rằng vận đơn đường biển (Ocean bill of lading) bản chất là một hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Theo định nghĩa của từ điển Oxford, vận đơn là “một danh sách cung cấp thông tin
1 Daniel E Murray (1983), History and development of Bill of lading, University of Miami Law Review vol.37’
2 Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 1992
Trang 14sử thế giới cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, vận đơn dần được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế Cụ thể, vận đơn được đề cập lần đầu tiên trên phương diện toàn cầu tại Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển được ký tại Brussel ngày 25 tháng 8 năm 1924 (thường được gọi là Quy tắc Hague) Tuy nhiên, quy tắc này vẫn chưa nêu ra được khái niệm hay định nghĩa về vận đơn mà chỉ
tắc Hague, Công ước Hamburg 1978 ra đời và có sự tiến bộ trong việc ghi nhận khái niệm vận đơn vào các điều khoản Được hình thành giữa thời điểm thương mại quốc tế đang trên đà phát triển, công ước Hamburg đã định nghĩa vận đơn một cách chính xác, phù hợp hơn với thực tiễn Cụ thể, tại Khoản 7 Điều 1 Công ước có quy định:
“Vận đơn đường biển là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng chuyên chở bằng đường biển và cho việc người vận chuyển đã nhận hàng để chở hoặc để xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó Một điều khoản trong chứng từ này quy định rằng lô hàng phải được giao theo lệnh của người được ghi đích danh hoặc giao theo lệnh hoặc giao cho người nắm giữ vận
Qua định nghĩa của công ước Hamburg 1978, vận đơn được nhìn nhận là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở, đồng thời, cũng là công cụ hỗ trợ trong việc giao nhận hàng hóa giữa nhà chuyên chở và nhà nhập khẩu Định nghĩa này đã góp phần làm rõ khái niệm “vận đơn” trong thương mại quốc tế nói chung và ngành hàng hải nói riêng
Từ đó, tạo tiền đề cho các quốc gia trên thế giới nội luật hóa vận đơn trong ngành hàng hải nội địa
Kế thừa tinh thần và kinh nghiệm từ các quy định quốc tế, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 cũng đã ghi nhận khái niệm vận đơn như sau:
3 Điều 1 (b) Quy tắc Hague
4 Khoản 7 Điều 1 Công ước Hamburg 1978
Trang 15“Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng
Quy định này của Việt Nam không chỉ đưa ra định nghĩa mà còn lồng ghép vào đó vai trò của chính vận đơn Có thể thấy, quy định này không định nghĩa một cách khái quát vận đơn là gì mà thông qua vai trò, cơ chế của vận đơn để làm rõ khái niệm vận đơn nhằm phân biệt vận đơn với những chứng từ vận tải khác trong bộ chứng từ hàng hóa Như vậy, dựa trên bản chất và các định nghĩa trên, vận đơn được xem là một chứng
từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện người chuyên chở cấp phát cho người gửi hàng hóa sau khi đã nhận hàng để xếp xuống tàu hoặc sau khi hàng hóa đã được xếp xuống tàu, và bằng chứng từ này người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng cho người nhận sau khi xuất trình tại cảng dỡ
1.1.2 Cơ chế hoạt động của vận đơn đường biển
Về cơ bản, vận đơn được xem là một hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Do đó, vận đơn cũng có tính chất khá tương đồng với những loại hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng các phương thức khác Một cách khái quát thì vận đơn sẽ được người vận chuyển phát hành để xác nhận tình trạng hàng hóa cũng như một số thông tin thiết yếu liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa khi nhà vận chuyển nhận từ chủ hàng; đồng thời, người mua hàng sẽ xuất trình vận đơn để chứng minh quyền sở hữu và nhận hàng tại cảng dỡ
Khi các bên (nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu) thực hiện một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên sẽ thực hiện các thủ tục của hợp đồng Sau khi nhà nhập khẩu phát hành thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) cho nhà xuất khẩu và hoàn thành các quy
5 Khoản 2 Điều 148 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015
Trang 16trình chứng từ nhất định, nhà xuất khẩu sẽ gửi hàng tới cảng của quốc gia nơi nhà nhập khẩu yêu cầu thông qua đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu Nhà chuyên chở (hãng tàu)
sẽ phát hành hai bộ chứng từ bao gồm một vận đơn gốc và một bản sao của vận đơn Trong đó, vận đơn gốc sẽ được chủ tàu ký và gửi lại cho đại lý vận chuyển của chủ hàng Ngay khi đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu nhận được vận đơn gốc đã được ký, hàng hóa sẽ được vận chuyển đến cảng của nhà nhập khẩu Đồng thời, đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu sẽ chuyển vận đơn tới nhà nhập khẩu để nhà nhập khẩu chuyển cho nhà xuất khẩu Sau khi nhận được vận đơn gốc, nhà nhập khẩu sẽ lập tức chuyển cho đại
lý vận chuyển của mình Đại lý vận chuyển của nhà nhập khẩu sau đó sẽ phát hành Lệnh giao hàng (Delivery order) và nhận hàng hóa tại cảng dỡ Cuối cùng, đại lý của nhà nhập khẩu sẽ giao hàng hóa vừa nhận tại cảng dỡ tới địa điểm nhà nhập khẩu yêu cầu
1.1.3 Chức năng của vận đơn đường biển
Vận đơn được sử dụng như một căn cứ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người gửi, người nhận và người chuyên chở Đây cũng chính là cơ sở cho việc khai báo hải quan, giao nhận hàng hóa Song, vận đơn giữ vai trò quan trọng bởi nó là chứng từ được
sử dụng trong việc thanh toán giá trị hàng hóa giữa các bên và cũng là tài liệu quan trọng
để yêu cầu bồi thường trong những trường hợp xảy ra thiệt hại về hàng hóa trong quá trình vận chuyển Vận đơn có khá nhiều công dụng; ở mỗi một giai đoạn khác nhau trong quá trình giao thương, vận đơn lại thực hiện một chức năng để phát huy công dụng mà các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hướng tới Nhìn chung, vận đơn có
ba chức năng chính:
(i) Là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển: Đa số thường nhầm lẫn rằng vận
đơn là bằng chứng của hợp đồng mua bán giữa người gửi hàng (người bán) và người mua Cũng không ít người xem vận đơn là hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển (chủ hàng hay đại lý vận chuyển của chủ hàng) Trên thực tế, sau khi đại lý vận chuyển của chủ hàng giao hàng cho bên vận chuyển, bên
Trang 17công ty vận chuyển sẽ lập và ký phát một biên nhận để vận chuyển hàng hóa (vận đơn) Biên nhận này được xem là chứng cứ chứng minh việc giao nhận hàng hóa giữa người gửi hàng và công ty vận chuyển Như vậy, cần lưu ý rằng, vận đơn chỉ có chức năng là giấy biên nhận, là bằng chứng chỉ ra rằng có tồn tại một hợp đồng vận chuyển giữa người vận chuyển và người gửi hàng để thực hiện việc vận chuyển theo hợp đồng mua bán Từ
đó, có thể khẳng định, vận đơn và hợp đồng thuê vận chuyển là hoàn toàn độc lập Vì vậy, bên mua hàng (người hưởng lợi) sẽ không chịu ràng buộc bởi những điều khoản trong hợp đồng vận chuyển Tương tự, trong trường hợp vận đơn được người thuê vận chuyển chuyển nhượng sang một chủ thể mới thì người nhận chuyển nhượng cũng sẽ không bị ràng buộc bởi các quy định về quyền và nghĩa vụ có trong hợp đồng thuê vận chuyển, trừ trường hợp trong vận đơn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên sở hữu vận đơn bị ràng buộc bởi hợp đồng Trường hợp trên, sau khi chuyển nhượng, vận đơn
sẽ là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề phát sinh giữa công ty vận chuyển và chủ sở hữu vận đơn
(ii) Là biên nhận hàng hóa: Vận đơn thường được thể hiện dưới dạng văn bản,
nội dung của vận đơn thường bao gồm những thông tin cơ bản miêu tả về hàng hóa như: điều kiện, chất lượng, số lượng Như đã đề cập ở trên, ngay khi công ty vận chuyển nhận hàng, sẽ lập và ký phát vận đơn theo yêu cầu của chủ hàng Theo đó, hành vi phát hành vận đơn của công ty vận chuyển được xem là việc tạo ra một tài liệu nhằm xác nhận thông tin về hàng hóa tại thời điểm giao nhận; đồng thời thừa nhận rằng tất cả hàng hóa xuất khẩu đã được xếp lên tàu Với bản chất được tạo ra để ghi nhận tình trạng của hàng hóa nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại, mất mát, biến đổi tình trạng hàng hóa của chủ hàng trong quá trình vận chuyển; nội dung của vận đơn phải được thiết lập một cách phù hợp với số lượng, chất lượng, điều kiện với thực tế Bởi lẽ, dựa trên sự chênh lệch về số lượng, điều kiện hay chất lượng giữa hàng hóa thực tế với thông tin trong vận đơn, người
thụ hưởng có thể quy trách nhiệm pháp lý đối với chủ hàng hoặc nhà chuyên chở
Trang 18(iii) Là chứng từ về quyền sở hữu hàng hóa: Chức năng này của vận đơn được
nhận thấy rõ nhất trong việc giao nhận hàng hóa giữa công ty vận chuyển và người mua hàng Chức năng thể hiện người sở hữu vận đơn là người có quyền yêu cầu chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa được ghi trong nội dung của vận đơn đó Nghĩa là để được chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, người mua hàng phải nhận vận đơn từ chủ hàng, sau đó đem vận đơn đến cảng dỡ hàng để công ty vận chuyển giao hàng Với chức năng này, việc chuyển nhượng hàng hóa giữa các bên trở nên dễ dàng và thông suốt hơn Trong trường hợp, hàng hóa đang trên đường vận chuyển mà người mua muốn chuyển nhượng
số hàng hóa cho một bên khác thì chỉ cần thực hiện ký hậu trên vận đơn Việc này thể hiện, vận đơn là đại diện cho hàng hóa Người được chuyển nhượng hàng hóa thuận tiện trong việc đến cảng và nhận hàng trực tiếp từ công ty vận chuyển mà không cần tốn nhiều thời gian thông qua bên chuyển nhượng Tuy nhiên, trên thực tế, chức năng này của vận đơn không phải lúc nào cũng phát huy vai trò của mình Một số trường hợp, không nhất thiết phải có vận đơn thì người mua mới được phép nhận hàng Ví dụ trong thực tế đối với những chuyến hàng có tuyến đường ngắn thường xuyên gặp phải tình huống hàng đến nhưng chứng từ vận đơn gốc chưa đến hoặc người bán chưa kịp gửi vận đơn Nếu dùng vận đơn gốc sẽ gây phát sinh chi phí lưu kho bãi tại cảng nhập, cũng như hao tốn thời gian để người mua được nhận hàng Vì vậy người ta sử dụng loại vận đơn
đã xuất trình (Surrendered bill of lading) để khắc phục tình trạng này Khi phát hành, người vận chuyển đóng dấu “đã xuất trình” lên bản vận đơn gốc và điện báo cho đại lý của mình tại cảng dỡ Do đó, người nhận hàng không cần xuất trình vận đơn gốc mà chỉ cần xuất trình vận đơn đã xuất trình do chủ hàng đã điện báo đến
1.1.4 Phân loại vận đơn
Tùy vào chức năng, công dụng và đặc điểm mà vận đơn được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại vận đơn thường xuyên được sử dụng:
Trang 19(i) Căn cứ vào quyền chuyển nhượng, sở hữu hàng hóa trên vận đơn:
Thứ nhất, vận đơn đích danh: Với vận đơn đích danh, nội dung thường ghi rõ tên,
địa chỉ người nhận hàng; vì đặc trưng này nên vận đơn đích danh không thể chuyển nhượng cho người khác bằng cách ký hậu và chỉ người có tên trên vận đơn mới được phép nhận hàng
Thứ hai, vận đơn vô danh: Với vận đơn đích danh, nội dung thường ghi rõ tên, địa
chỉ người nhận hàng; vì đặc trưng này nên vận đơn đích danh không thể chuyển nhượng cho người khác bằng cách ký hậu và chỉ người có tên trên vận đơn mới được phép nhận hàng Khác với vận đơn đích danh, vận đơn vô danh là vận đơn mà trên đó tên người nhận hàng bị bỏ trống, được ghi là vô danh, hoặc phát hành theo lệnh nhưng không ghi
rõ là theo lệnh của ai, hoặc phát hành theo lệnh cho một người hưởng lợi nhưng người
đó đã ký hậu vận đơn và không chỉ định một người hưởng lợi khác Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách trao tay và người cầm vận đơn có quyền yêu cầu đơn vị
Thứ ba, vận đơn theo lệnh: Tương tự với vận đơn vô danh, vận đơn theo lệnh cũng
không ghi tên và địa chỉ người nhận hàng mà chỉ ghi “theo lệnh” của một ai đó hoặc có ghi tên của người nhận hàng nhưng đồng thời ghi thêm “hoặc theo lệnh” Với cách ghi này, người được quyền đi nhận hàng là tùy thuộc vào người ra lệnh Nghĩa là, người được ghi trên vận đơn (có thể là người gửi hàng, người nhận hàng hoặc ngân hàng thanh toán) sẽ thực hiện ký hậu từ bỏ quyền sở hữu, theo lệnh của người ký hậu, người nào cầm vận đơn gốc và được xác nhận ký hậu sẽ có thể nhận hàng
(ii) Phân loại theo ghi chú của thuyền trưởng trên vận đơn:
6 Xuất nhập khẩu Lê Ánh, “Phân biệt vận đơn đích danh, vận đơn theo lệnh, vận đơn vô danh”,
https://xuatnhapkhauleanh.edu.vn/phan-biet-van-don-dich-danh-van-don-theo-lenh-van-don-vo-danh.html (truy cập vào 10/04/2023)
Trang 20Thứ nhất, vận đơn hoàn hảo: Vận đơn hoàn hảo là vận đơn mà trên đó người chuyên
chở ghi chú không có thiệt hại hoặc mất mát hàng hóa khi nhận hàng từ người gửi hàng Trong trường hợp, thuyền trưởng không có ghi chú trên vận đơn thì được xem là vận đơn sạch Loại vận đơn này sẽ được người nhận hoặc ngân hàng chấp nhận thanh toán
Thứ hai, vận đơn không hoàn hảo: Vận đơn không hoàn hảo là vận đơn mà trong
nội dung có ghi chú về tình trạng xấu của hàng hóa hoặc bao bì bị khuyết tật hay bị hư hỏng như: “bao rách”, “thủng đáy” Trong một vài trường hợp, những khiếm khuyết của hàng hóa vẫn được người mua hoặc ngân hàng chấp nhận thanh toán Tuy nhiên, để được thanh toán, chủ hàng cần phải thực hiện một số thủ tục nhất định nhưng vẫn có khả năng rủi ro về mặt pháp lý nếu xảy ra tranh chấp phải giải quyết tại Tòa án Trên thực tế, vận đơn không hoàn hảo sẽ không được chấp nhận thanh toán tiền hàng Do đó, chủ sở hữu hàng hóa cần chú trọng đến ghi chú hàng hóa của đơn vị chuyên chở khi giao hàng
để biết rõ về tình trạng hàng hóa tránh những rủi ro trong việc không được chấp nhận thanh toán
(iii) Căn cứ vào thời điểm cấp phát vận đơn:
Thứ nhất, vận đơn đã xếp hàng: vận đơn đã xếp hàng là vận đơn được phát hành
sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu; vận đơn nhận hàng để xếp là vận đơn được cấp phát sau khi người chuyên chở nhận hàng và cam kết sẽ xếp hàng và vận chuyển hàng
Thứ hai, vận đơn nhận hàng để xếp: Theo đúng với tiêu chí phân loại vận đơn,
điểm khác biệt giữa hai loại vận đơn đã xếp hàng và vận đơn nhận hàng để xếp là thời điểm cấp phát vận đơn
7 Xuất nhập khẩu Lê Ánh, “Phân biệt vận đơn đã bốc hàng lên tàu và Vận đơn nhận hàng để xếp”,
https://xuatnhapkhauleanh.edu.vn/phan-biet-van-don-da-boc-hang-len-tau-va-van-don-nhan-hang-de-xep.html (truy cập vào 10/04/2023)
Trang 21Bên cạnh những loại vận đơn vừa nêu, trên thực tiễn thương mại quốc tế vẫn tồn tại rất nhiều loại vận đơn như: vận đơn tàu chợ, vận đơn theo hợp đồng thuê tàu chuyến, vận đơn đã xuất trình tại cảng gửi, giấy gửi hàng bằng đường biển, vận đơn của FIATA… Tuy nhiên với phạm vi của đề tài, tác giả chỉ tập trung làm rõ một số loại vận đơn phổ biến và thường xuất hiện như đã phân tích ở trên
1.2 Khái quát về vận đơn điện tử đường biển
1.2.1 Khái niệm vận đơn điện tử đường biển
Thực tế, vận đơn đường biển điện tử (e-B/L) đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XX, dựa trên những thành tựu phát triển công nghệ thông tin Đặt nền móng cho vận đơn điện tử ngày nay, có thể kể đến vận đơn điện tử được phát hành bởi hệ thống SEADOCS Dự án SEADOCS là kết quả của một sáng kiến chung vào năm 1986 giữa Ngân hàng Chase Manhattan và Hiệp hội Độc lập Quốc tế Chủ tàu chở dầu (INTERTANKO) SEADOCS vận hành bằng cách truyền tài liệu thông qua telex thay vì mạng máy tính Mục đích là tạo ra một hệ thống mà tại đó các vận đơn được cấp cho các chuyến tàu chở dầu có thể được đàm phán điện tử Dù vậy, dự án này đã sụp đổ sau chưa đầy một năm với nhiều
lý do khác nhau Từ những năm 1990 và 2000, công nghệ vận đơn điện tử được các doanh nghiệp phát triển trong quá trình sử dụng máy tính và mạng viễn thông để quản
lý các hoạt động vận chuyển hàng hóa của mình Đây được xem là một hình thức hoàn toàn mới của vận đơn, cũng có thể xem đây là một loại vận đơn mới phù hợp với thời đại công nghệ và số hóa trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội Về bản chất đây là một hình thức trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) Nghĩa là, vận đơn điện tử là một thông điệp dữ liệu điện tử, chứa đựng các thông tin như trên vận đơn giấy, được vận hành thông qua hệ thống điện tử viễn thông mà không có sự can thiệp của phương thức lưu chuyển truyền thống để thay thế cho vận đơn giấy trong hoạt động vận
Trang 22tải; theo đó, vận đơn đường biển điện tử sẽ được phát hành và lưu chuyển như một chứng
Theo từ điển Law Insider “vận đơn điện tử có nghĩa là bất kỳ tài liệu, thông tin, thông báo hoặc dữ liệu điện tử nào nhằm thay thế hoặc cung cấp chức năng tương đương
giữa quy tắc pháp lý và công nghệ có thể tái tạo các chức năng của vận đơn giấy truyền thống.11
Về mặt pháp lý, hiện nay, chưa có văn bản pháp luật quốc tế nào đưa ra định nghĩa thế nào là vận đơn điện tử Tuy nhiên, Công ước Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Vận chuyển Hàng hóa Quốc tế Toàn bộ hoặc Một phần bằng Đường biển (Quy tắc Rotterdam) được thông qua vào tháng 12 năm 2008 đã đặt nền móng đầu tiên cho quy định về vận đơn điện tử Khoản 18 Điều 1 Quy tắc Rotterdam quy định:
“ “Hồ sơ vận tải điện tử” là thông tin trong một hoặc nhiều thông điệp được phát hành bằng phương tiện liên lạc điện tử theo hợp đồng vận chuyển của người chuyên chở, bao gồm thông tin được liên kết hợp lý với hồ sơ vận tải điện tử bằng các tệp đính kèm hoặc được liên kết theo cách khác với hồ sơ vận tải điện tử đồng thời hoặc sau khi người vận chuyển phát hành hồ sơ, để trở thành một phần của hồ sơ vận tải điện tử thì:
8 Nguyễn Thái Sơn (2015), “Vận Đơn Đường Biển Điện Tử (E-B/L) Và Khả Năng Áp Dụng Ở Việt Nam”, Tạp
chí Kinh tế và Phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, số 212(ii) tháng 2/2015, trang 135
9 https://www.lawinsider.com/dictionary/electronic-bill-of-lading (truy cập lần cuối vào ngày 10/04/2023)
10 Bolero (Bill of lading Electronic Registry Organization) - Tổ chức Đăng ký vận đơn điện tử là một môi trường hoàn toàn điện tử để quản lý thương mại cung cấp một giải pháp thay thế điện tử cho các tài liệu hỗ trợ thương mại quốc tế Xem thêm tại https://www.itic-insure.com/our-publications/intermediary/bolero-the-electronic- transfer-of-commercial-trade-information-2878/ (truy cập lần cuối vào ngày 10/04/2023)
11 BOLERO, “What is an Electronic Bill of Lading?”, lading/#:~:text=An%20electronic%20bill%20of%20lading%20(eBL)%20is%20an%20electronic%20version,trad itional%20paper%20bill%20of%20lading (truy cập lần cuối vào ngày 10/04/2023)
Trang 23https://www.bolero.net/what-is-an-electronic-bill-of-(a) Bằng chứng về việc người vận chuyển hoặc bên thực hiện đã nhận hàng theo hợp đồng vận chuyển; Và
Rõ ràng, điều luật này đã sử dụng thuật ngữ “hồ sơ vận tải điện tử” thay vì “vận đơn điện tử” Với cách định nghĩa này, công ước có thể quy định khái quát tất cả những tài liệu trong bộ chứng từ vận tải hàng hóa (trong đó có vận đơn) Với thực tiễn kinh tế quốc tế, hầu hết các tài liệu trong bộ chứng từ vận tải đã được các nhà kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải chuyển từ phương thức giấy tờ truyền thống sang hình thức điện tử để thuận tiện trong việc sử dụng cũng như bắt kịp với xu thế số hóa của thời đại Từ đây, nhận thấy rằng việc Công ước đưa ra quy định bằng cách sử dụng từ ngữ bao hàm như trên là phù hợp với nhu cầu của thế giới Với bản chất và khái niệm của vận đơn truyền thống, ta hoàn toàn có thể nhận định, vận đơn điện tử cũng thuộc phạm vi định nghĩa tại điều luật này của Công ước Nghĩa là, vận đơn điện tử là thông tin trong một hay nhiều thông điệp được phát hành bằng phương tiện điện tử theo hợp đồng vận chuyển, nội dung của vận đơn điện tử bao gồm thông tin được liên kết hợp lý với vận đơn bằng các tệp đính kèm hoặc được liên kết theo cách khác với vận đơn điện tử đồng thời hoặc sau khi người vận chuyển phát hành Tuy nhiên, vì định nghĩa đã sử dụng từ ngữ để bao hàm bộ chứng từ vận tải điện tử, nên việc đưa ra khái niệm cụ thể và chi tiết vận đơn là gì vẫn chưa được hoàn thiện Thêm vào đó, pháp luật của một số quốc gia cũng chỉ mới thừa nhận việc ứng dụng vận đơn điện tử vào vận tải mà hoàn toàn chưa đưa ra định nghĩa chính xác về thuật ngữ này
Tóm lại, vận đơn điện tử vẫn chưa được định nghĩa một cách chính xác bởi các văn bản pháp lý tại quốc gia và quốc tế Do đó, dựa trên bản chất, hình thái của loại vận đơn này, có thể hiểu vận đơn điện tử là một hình thức của vận đơn truyền thống, chứa đựng các thông tin như trên vận đơn giấy, được vận hành thông qua hệ thống điện tử viễn
12 Khoản 18 Điều 1 Công ước Rotterdam
Trang 24thông; trong một số trường hợp, vận đơn điện tử cung cấp chức năng tương đương với vận đơn giấy
1.2.2 Cơ chế hoạt động của vận đơn điện tử đường biển
Vận đơn điện tử là thông điệp dữ liệu được tạo lập trên một hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử sử dụng các công nghệ hiện đại như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing), trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) Với tính năng lưu trữ các giao dịch một cách vĩnh viễn và không thể thay đổi bằng cách sử dụng sổ cái phân tán, cùng một số đặc trưng thuận tiện trong việc sử dụng, công nghệ chuỗi khối đang được đa số các hãng tàu lớn trên thế giới ưu tiên đưa vào ứng dụng trong việc phát hành vận đơn điện tử Với sự thông dụng của công nghệ này và phạm vi giới hạn của bài viết, tác giả sẽ tập trung làm rõ cách thức vận hành một vận đơn điện tử được tạo ra từ công nghệ chuỗi khối
Trước hết, cần làm rõ công nghệ chuỗi khối là gì? Chuỗi khối là một hệ thống phân tán, phi tập trung, liên tục, và sổ cái kỹ thuật số chống giả mạo của các giao dịch có thể
lưu trữ dữ liệu kỹ thuật số riêng lẻ trong đó thông tin được lưu trữ về các giao dịch như ngày, giờ và những người tham gia giao dịch, và mỗi khối được nối với khối tiếp theo bằng cách sử dụng chữ ký mật mã được gọi là băm Khối trước đó và khối mới có thể được liên kết với nhau bằng cách thêm giá trị băm của khối trước đó sang khối mới, theo
đó giao dịch có thể được xác nhận bằng mật mã Nghĩa là, khi thông tin giao dịch được lưu trữ trong một khối, chúng sẽ được gửi đến tất cả những người tham gia trên mạng, những người sau đó sẽ xác minh thông tin và xác nhận giao dịch Sau khi giao dịch được xác nhận bởi tất cả các bên trong một khối, nó không thể thay đổi và sau đó được liên kết với một khối tiếp theo
13 Satoshi Nakamoto, “Bitcoin: A peer-to-peer electronic cash system, https://bitcoin.org/bitcoin.pdf (explaining the concept of the blockchain technology, Bitcoin) https://perma.cc/Q8GV-DX9T
Trang 25Hiện nay, một số hãng tàu lớn đã bắt đầu xây dựng nền tảng vận đơn chuỗi khối của riêng họ Bên cạnh đó, nhiều hệ thống vận đơn điện tử cũng được tạo ra dựa trên nền tảng công nghệ chuỗi khối này như: Bolero, CargoX, WAVE… Mỗi hệ thống sẽ có một quy định về việc vận hành khác nhau, nhưng nhìn chung, vận đơn điện tử được tạo lập
và hoạt động như sau:
Người chuyên chở sẽ tạo lập một tài khoản tại một hệ thống nhất định để trở thành một người dùng trên hệ thống Mỗi một người dùng sẽ sở hữu hai loại khóa là khóa công khai (Public key) và khóa riêng tư (Private key) để phục vụ cho việc xác thực trong quá trình sử dụng Sau khi nhận hàng từ chủ hàng hoặc đại lý vận chuyển của chủ hàng, người chuyên chở sẽ tạo lập một thông điệp điện tử (thông điệp điện tử này chính là vận đơn điện tử do nhà chuyên chở phát hành) và đính kèm vào “phong bì” điện tử Người chuyên chở sẽ sử dụng khóa riêng tư của mình để ký vào thông điệp điện tử vừa tạo lập
và gửi tới hệ thống điều hành Hệ thống sẽ xác thực chữ ký điện tử của người chuyên chở thông qua khóa công khai Nếu hệ thống xác nhận hai khóa trùng khớp, hệ thống sẽ
tự động xóa chữ ký của họ và gửi vận đơn đến cho người nhận (chủ hàng) Người gửi hàng sau đó có thể chuyển vận đơn điện tử bằng cách sử dụng khóa riêng của mình để
ký điện tử vào hàm băm trong bản ghi và gửi cho người nhận hàng bằng khóa chung Vì khóa công khai có sẵn trong thư mục công khai của hệ thống nên các bên liên quan khác
có thể xem tài liệu Khi giao hàng, người giữ vận đơn ban đầu (chủ hàng) phải xuất trình cho người vận chuyển Người vận chuyển có quyền yêu cầu bằng chứng hợp lý để xác minh rằng người xuất trình vận đơn có quyền nhận hàng Sau khi kiểm tra, người vận chuyển cam kết đánh dấu vận đơn là "đã hoàn thành"
Đối với trường hợp người mua hàng muốn chuyển nhượng vận đơn điện tử cho một người thụ hưởng mới, người mua hàng sẽ phải liên hệ với chủ hàng và người thụ hưởng mới Nếu cả ba bên là chủ hàng, người mua hàng và người nhận chuyển nhượng đều chấp thuận về việc chuyển nhượng này, thì vận đơn điện tử sẽ được hệ thống gửi
Trang 26đến cho người thụ hưởng mới là người nhận chuyển nhượng Thông thường, đối với vận đơn Bolero, hệ thống sẽ tạo lập một Trung tâm đăng ký quyền sở hữu Trung tâm này là nơi giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyển nhượng quyền giữ các người dùng liên quan đến vận đơn điện tử trong hệ thống Bolero Do đó, khi muốn chuyển nhượng quyền sở hữu vận đơn điện tử, chủ hàng sẽ phải gửi yêu cầu tới Trung tâm đăng ký quyền
sở hữu Yêu cầu này cũng sẽ được chuyển tới người nhận chuyển nhượng Nếu người nhận chuyển nhượng đồng ý nhận chuyển nhượng thì Trung tâm sẽ ghi nhận người này
là chủ sở hữu mới của vận đơn
1.3 Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng vận đơn điện tử thay thế vận đơn truyền thống
1.3.1 Những lợi ích của việc sử dụng vận đơn điện tử
Có thể nói, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ ngày nay, vận đơn điện tử được tạo ra và vận hành ổn định hơn Từ những phiên bản sơ khai nhất như hệ thống SeaDocs đến hệ thống được đánh giá là mới và hoàn thiện nhất - Bolero, vận đơn điện tử đã dần phù hợp hơn, được xem là giải pháp hữu hiệu trong thời đại mới Cụ thể:
Vận đơn điện tử đem lại hiệu quả lớn về mặt thời gian cho các thương nhân trong thương mại quốc tế hiện đại Với mạng lưới công nghệ viễn thông toàn cầu phát triển như hiện nay, các thương nhân sẽ dễ dàng hơn rất nhiều trong việc tạo lập một vận đơn
và chỉ bằng một vài nút nhấp chuột, vận đơn đã đến tay người thụ hưởng Thời gian từ lúc phát hành vận đơn điện tử đến lúc người mua hàng nhận được vận đơn chỉ vỏn vẹn vài phút hay thậm chí là vài giây Như vậy, dù hàng hóa được vận chuyển với khoảng cách địa lý rất gần, chỉ mất một đến hai ngày thì chủ hàng và người mua hàng cũng không phải lo lắng về vấn đề tốn thêm thời gian chờ vận đơn đến nơi
Hiệu quả về mặt thời gian cũng chính là hiệu quả về mặt kinh tế Nghĩa là, vận đơn điện tử giúp người mua hàng hạn chế được những khoản chi phí không cần thiết như phí kho bãi, tiền đền bù hợp đồng Trong hợp đồng thương mại, các bên thường thương
Trang 27lượng và thỏa thuận về thời gian giao hàng và quy định về mức phạt nhất định nếu vi phạm về điều kiện giao hàng đúng thời hạn Giả sử, khi sử dụng vận đơn giấy, hàng đã đến cảng nhập khẩu nhưng vì vận đơn đến sau và quá hạn giao hàng, nhà nhập khẩu không thể nhận hàng để giao đúng hạn hợp đồng cho khách hàng Khi ấy, theo quy định, nhà nhập khẩu sẽ phải tự mình chi trả khoản phí liên quan đến lưu kho tại cảng dỡ hàng
vì không thể nhận hàng, đồng thời nhà nhập khẩu phải đối diện với nguy cơ chịu khoản phạt trong hợp đồng thương mại vì không giao hàng đúng thời hạn trong hợp đồng Việc thay thế vận đơn giấy bằng vận đơn điện tử cũng giúp nhà vận chuyển và nhà xuất khẩu hạn chế được tương đối những khoản chi đối với việc phát hành và vận chuyển vận đơn đến tay người mua hàng Hiệp hội vận chuyển container kỹ thuật số (DCSA) ước tính rằng việc tăng tỷ lệ áp dụng vận đơn điện tử lên 50% có thể tiết kiệm cho ngành hơn 4
Một vấn đề đáng lưu tâm chính là vận đơn điện tử tạo được tính chính xác hơn nhiều so với việc sử dụng vận đơn giấy truyền thống Như đã phân tích ở phần 1.1.3, nội dung của vận đơn phải được thiết lập một cách cẩn trọng để phù hợp với tình trạng của hàng hóa Bởi nếu xảy ra sai lệch giữa tình trạng, số lượng, chất lượng thực tế của hàng hóa với nội dung của vận đơn, người mua sẽ không nhận hàng, ngân hàng không chấp nhận thanh toán, dẫn đến tổn thất nghiêm trọng cho chủ hàng Tương tự với các công cụ điện tử thường thấy, vận đơn điện tử cho phép giảm thiểu những lỗi mã hóa có thể xảy
ra bằng cách đăng ký hoặc sửa thông tin vì nó có các trường biểu mẫu và chức năng tự
đơn có thế dễ dàng thực hiện mà không tốn nhiều thời gian, chi phí, cũng như tránh tạo
ra sự phức tạp trong quá trình sửa đổi
14 Four benefits of the electronic Bill of lading that should increase utilisation,
https://www.bolero.net/digitisation/4-benefits-of-electronic-bills-of-lading-that-will-increase-ebl-utilisation/ (truy cập lần cuối ngày 20/04/2023)
15 Eight benefits of the electronic Bill of Lading https://cargofive.com/8-benefits-of-the-electronic-bill-of-lading/ (truy cập lần cuối ngày 20/04/2023)
Trang 28Công nghệ hiện đại của vận đơn điện tử tăng cường bảo mật và giảm khả năng giả mạo, gian lận và mất mát Vận đơn được lưu trữ và chuyển từ kho lưu trữ đám mây an toàn hoặc thông qua các nền tảng chuỗi khối ngang hàng Thông qua thao tác ký điện tử
và mã hóa, vận đơn điện tử loại bỏ mối lo ngại về việc tài liệu bị giả mạo, thao túng hoặc đánh cắp Các giải pháp công nghệ được ứng dụng cung cấp tính bảo mật và quyền riêng
tư gần như tối ưu giữa các bên giao dịch so với giải pháp thay thế bằng giấy Đồng thời những người dùng có liên quan đến vận đơn có thể dễ dàng theo dõi và quản lý tất cả các sự kiện như thông báo vận đơn, chuyển nhượng quyền sở hữu, sửa đổi, từ bỏ và chuyển đổi hình thức vận đơn Do đó, việc giả mạo hoặc chỉnh sửa tài liệu điện tử khó
Dù mang nhiều lợi ích và được xem là một giải pháp khắc phục những hạn chế của vận đơn giấy, nhưng với tuổi đời ngắn, vận đơn điện tử vẫn chưa thật sự hoàn thiện một cách tuyệt đối Do đó, vận đơn điện tử vẫn còn tồn đọng những điểm bất cập nhất định cần được lưu tâm trước và trong quá trình đưa vào sử dụng
1.3.2 Những khó khăn khi sử dụng vận đơn điện tử
Trước hết, công nghệ mới luôn đi kèm với những đổi mới Và sự thay đổi chính là yếu tố dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng chúng vào quy trình sử dụng Rõ ràng,
để tạo lập được một vận đơn điện tử, nhà vận chuyển, bên mua và bên bán đều phải có một tài khoản trên hệ thống tạo lập vận đơn Các yếu tố như tạo lập tài khoản, tạo khóa riêng, khóa công khai, tạo thông điệp dữ liệu điện tử… đòi hỏi người dùng phải có một lượng kiến thức tương đối về công nghệ Không dừng lại ở vấn đề kỹ năng công nghệ, vận đơn điện tử được vận hành bởi hệ thống quản lý trung tâm Nghĩa là một số công ty vận tải sẽ phải sử dụng hệ thống vận đơn điện tử của một hãng công nghệ khác, làm xuất hiện thêm một bên có trách nhiệm liên quan đối với vận đơn Điều này tăng thêm sự
16 https://www.bolero.net/digitisation/4-benefits-of-electronic-bills-of-lading-that-will-increase-ebl-utilisation/ (truy cập lần cuối ngày 20/04/2023)
Trang 29phức tạp khi xảy ra những vấn đề lỗi về mặt công nghệ Trong khi đó, việc thiết lập một vận đơn giấy lại dễ dàng đơn giản hơn rất nhiều Sự chấp nhận của người dùng là chìa khóa cho vấn đề này, vì vậy giao diện người dùng và trải nghiệm người dùng đòi hỏi phải đơn giản và dễ dàng cho mọi người trên toàn thế giới sử dụng Nếu một quy trình phần mềm mới không trực quan hoặc quá khó sử dụng, thì sẽ không được áp dụng rộng rãi.17
Một lỗ hổng đáng lo ngại tiếp theo của vận đơn điện tử chính là công nghệ chưa hoàn thiện tuyệt đối Cụ thể, vận đơn điện tử vẫn có thể mắc phải các vấn đề liên quan đến bảo mật thông tin Tin tặc – hoặc đội ngũ nhân viên công nghệ của hệ thống điều hành có quyền truy cập nội bộ – có thể giả mạo các vận đơn điện tử hiện có hoặc tạo tài liệu giả mạo, tài liệu này sau đó sẽ được hệ thống xác định là xác thực Một vấn đề kỹ thuật khác cũng được lưu tâm là trường hợp phần mềm mã hóa bị lỗi hoặc vi phạm bản quyền khiến hệ thống bị lộ Theo Hội bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu - P&I Club (Protection and Indemnity Club), những rủi ro về mặt kỹ thuật mạng không nằm
hiểm không chịu trách nhiệm cho những rủi ro này thì trách nhiệm sẽ thuộc về ai? Để giải quyết được vấn đề này, cần đặt ra một khung pháp lý điều chỉnh trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức có liên quan đến vận đơn để các bên trong giao dịch có thể mạnh dạn sử dụng loại hình vận đơn mới này
Vận đơn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế, được xem như là một bằng chứng của hợp đồng vận chuyển, biên nhận hàng hóa và chứng từ sở hữu hàng hóa Do đó, sự công nhận, điều chỉnh của pháp luật quốc
tế và các quốc gia là vô cùng cần thiết đối với vận đơn Tuy nhiên, với sự mới mẻ của loại hình vận đơn điện tử, hiện nay rất ít các quốc gia hay công ước quốc tế có quy định
17 https://incodocs.com/blog/electronic-bill-of-lading-export-process/ (truy cập lần cuối ngày 21/04/2023)
18 paper/ (truy cập lần cuối vào ngày 21/04/2023)
Trang 30https://www.westpandi.com/news-and-resources/news/may-2021/electronic-bills-of-lading-a-good-idea-on-kịp thời điều chỉnh Mặc dù hiện nay đã có Công ước Rotterdam điều chỉnh một số vấn
đề cơ bản liên quan đến vận đơn điện tử; song, công ước này tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có hiệu lực thi hành Một số quốc gia Châu Âu, Hoa Kỳ, Hàn Quốc… đã ban hành quy định điều chỉnh việc ứng dụng vận đơn điện tử trong ngành hàng hải, nhưng đa số các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia kém phát triển vẫn chưa có sự điều chỉnh đối với vận đơn điện tử Khi có câu hỏi liên quan đến khả năng bằng chứng điện
tử được chấp nhận trong quá trình tố tụng của tòa án Một số quốc gia không chấp nhận bằng chứng điện tử trong thủ tục tố tụng tại tòa án hoặc không được ưu tiên xem xét đến
Sự không rõ ràng về mặt pháp lý của vận đơn điện tử được đánh giá là một yếu điểm lớn
so với vận đơn truyền thống Thêm vào đó, khi hóa đơn tồn tại ở dạng điện tử, các mối
đe dọa như tin tặc và sự cố hệ thống vẫn còn phổ biến Vấn đề phát sinh liên quan đến việc ai sẽ chịu tổn thất gây ra cho bên thứ ba nếu hệ thống bị hỏng hoặc bị gian lận vẫn chưa được đảm bảo Cơ chế pháp lý điều chỉnh các hóa đơn điện tử này cũng khá mơ hồ
Tóm lại, vận đơn điện tử hay vận đơn giấy đều có những lợi ích và khó khăn nhất định trong quá trình ứng dụng Tuy nhiên, với lợi thế về mặt công nghệ và sự “hợp thời” giữa kỷ nguyên số hiện đại, vận đơn điện tử là một công cụ hết sức cần thiết để phát triển hàng hải quốc tế cũng như thương mại quốc tế Để làm được điều này, các quốc gia nói riêng và các tổ chức quốc tế nói chung cần tích cực nghiên cứu, thử nghiệm và đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu về mặt công nghệ và mặt pháp lý Với nội dung nghiên cứu của bài viết, tác giả sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý còn vướng mắc của vận đơn điện tử trên phương diện một số công ước quốc tế và pháp luật quốc gia nhằm góp phần tạo một góc nhìn khái quát nhất về tình trạng pháp lý của vận đơn điện tử trên thế giới
19 Meetali B Shambarkari (2020), “Ambiguous status of electronic bill of lading in the Era of digitalization: An
overview”, International Journal of law management & Humanities, trang 479
Trang 311.4 Một số vấn đề pháp lý liên quan đến vận đơn điện tử đường biển
1.4.1 Giá trị pháp lý của vận đơn điện tử
Theo Giáo sư Tiến sĩ Caslav Pejovic và Tiến sĩ Luật Unho Lee: “Vận đơn chuỗi khối có khả năng đóng một vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, nhưng chúng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khác nhau về giá trị pháp lý Chúng chưa được công nhận về mặt pháp lý do không có chế độ pháp lý… Không có khuôn khổ quốc tế nào điều chỉnh hợp lý các vận đơn chuỗi khối, điều này tạo ra sự không chắc chắn về
trên đã cho thấy một thực tiễn về giá trị pháp lý “mơ hồ” của vận đơn điện tử
Một vận đơn điện tử được hình thành dựa trên ba nền tảng: pháp lý, kỹ thuật và cuối cùng là nền tảng về tính năng Dựa vào đây, có thể thấy, nền tảng pháp lý là cơ sở đầu tiên cũng là cơ sở có tính quyết định khi đưa vận đơn điện tử vào thực tiễn áp dụng Bởi lẽ, trong thương mại quốc gia và thương mại quốc tế, luật pháp đóng vai trò rất lớn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích giữa các bên Do đó, việc các bên trong giao dịch
sử dụng một loại chứng từ không được pháp luật công nhận hay điều chỉnh thì khi xảy
ra các tranh chấp, tòa án sẽ khó hoặc gần như không thể xử lý để phân chia quyền lợi và nghĩa vụ Do đó, với nhu cầu cấp bách cho một loại hình vận đơn mới, pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật các quốc gia nói riêng cũng cần đặt ra một hành lang pháp lý Đối với vận đơn điện tử, nhu cầu trước tiên chính là sự công nhận việc sử dụng và giá trị pháp lý của vận đơn ở dạng điện tử Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan trong quá trình sử dụng vận đơn cũng cần thiết được quy định việc có hay không sự công nhận của các cơ quan có thẩm quyền Ví dụ: việc phát hành vận đơn điện tử và vận đơn giấy có
sự khác biệt về mặt quy trình cũng như cách thức thì có dẫn đến sự khác biệt về mặt pháp
20 Caslav Pejovic, Unho Lee (2022), “Blockchain bill of lading: A new generation of electronic transport
documents”, Poredbeno Pomorsko Pravo, 176, 2022, trang 31-62
Trang 32lý hay không Hoặc việc chuyển nhượng vận đơn xuất trình hay chuyển nhượng vận đơn điện tử có thể chuyển nhượng có hiệu lực pháp lý như nhau hay không?
Một vấn đề khác trong việc công nhận giá trị pháp lý của vận đơn điện tử chính là các điều kiện về hình thức và chữ ký để vận đơn điện tử có hiệu lực Khác với vận đơn truyền thống, việc ký phát hay ký hậu chuyển nhượng được thực hiện bằng các thao tác
ký tay thông thường Nhưng với đặc trưng riêng mang tính điện tử, vận đơn điện tử đòi hỏi việc sử dụng chữ ký số hoặc một loại khóa kỹ thuật số đặc biệt Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để bảo mật chữ ký số hoặc khóa ký thuật đó Đồng thời, trong trường hợp các hệ thống sử dụng chữ ký số hoặc khóa số thì giá trị pháp lý của chúng được công nhận như thế nào Nếu chỉ công nhận giá trị pháp lý của vận đơn điện tử mà bỏ qua sự công nhận của chữ ký điện tử, khóa điện tử thì rõ ràng việc sử dụng vận đơn điện tử sẽ gặp nhiều khó khăn và dẫn đến quy trình phức tạp
Như đã biết, vận đơn điện tử chỉ bắt đầu xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX Đây là lý do chúng vượt xa phạm vi điều chỉnh của những công ước quốc tế lâu đời như Công ước Brussels 1924 (Quy tắc Hague) hay Quy tắc Hague Visby 1968 Với lịch sử
ra đời từ rất sớm, Công ước Brussels 1924 và Quy tắc Hague Visby 1968 (được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định của Công ước Brussels 1924) chỉ tập trung điều chỉnh những vấn đề liên quan đến vận đơn giấy truyền thống Tại thời điểm hai công ước quốc tế này ra đời, thương mại điện tử vẫn chưa xuất hiện và phát triển mạnh mẽ như những năm gần đây Do đó, điều duy nhất mà thương mại và hàng hải quốc tế chú trọng đến chính là tạo ra một khung pháp lý thống nhất, hoàn thiện để điều hoà mối quan hệ giữa các bên có quyền lợi về vận tải và hàng hóa bằng cách tiêu chuẩn hóa những điều kiện quan trọng của vận đơn đường biển truyền thống Mười năm sau khi ban hành Quy tắc Hague Visby, Công ước của Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển năm 1970 (Quy tắc Hamburg) được ban hành và lần đầu tiên quy định về việc sử dụng chữ ký điện tử trong vận đơn đường biển Qua quy định trên, Quy tắc Hamburg đã công
Trang 33nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong vận đơn trên phương diện luật pháp quốc
tế nếu không trái với quy định của pháp luật quốc gia Nghĩa là, trừ khi pháp luật quốc gia nơi phát hành vận đơn có quy định không công nhận hoặc cấm việc ký điện tử trên vận đơn, thì chữ ký điện tử vẫn được xem là có giá trị pháp lý và được công nhận Mặc
dù phạm vi điều chỉnh của Công ước cũng chỉ xoay quanh vận đơn truyền thống, nhưng
đã đề cập đến một khía cạnh quan trọng, được xem là một phần tạo nên giá trị của vận đơn điện tử - chữ ký điện tử Có thể xem đây là một sự khởi đầu cho việc hướng pháp luật đến điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại điện tử trong tương lai
1.4.2 Quyền kiểm soát đối với vận đơn điện tử
Như đã trình bày ở phần 1.1.3, vận đơn truyền thống có ba chức năng chính: (i) là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển, (ii) là biên nhận hàng hóa, (iii) là chứng từ về quyền sở hữu hàng hóa Với hai chức năng (i) và (ii), các học giả đều nhận định vận đơn điện tử có thế kế thừa và phát huy hiệu quả như vận đơn truyền thống Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu luật học lo ngại liệu rằng vận đơn điện tử có thể thực hiện được chức năng là chứng từ về quyền sở hữu như vận đơn giấy Thách thức này bắt nguồn từ thực
tế là vận đơn điện tử không có sự tồn tại hữu hình như vận đơn giấy Bằng cách sở hữu một bản gốc, người nhận chứng minh rằng họ được phép nhận hàng Để thực hiện quá trình này trên một phương tiện kỹ thuật số phải có một cơ chế giúp người nhận có thể
Theo Dubovec, chứng từ quyền sở hữu có thể được phân loại theo ba thủ tục Các thủ tục lần lượt là chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên thứ ba, kiểm soát việc xác nhận quyền sở hữu và kiểm soát vật lý đối với hàng hóa, cuối cùng là bảo đảm cho các
21 Quentin Schiltz (2019), “Legal compliance of the electronic Bill of Lading”, Atlantis Highlights in Computer
Sciences, volume 1, International Conference on Digital Transformation in Logistics and Infrastructure, trang
441
22 M Dubovec, "The problems and possibilities for using electronic bills of lading as collateral," Ariz J Int'l &
Comp L., vol 23, 2005
Trang 34hợp pháp” đối với hàng hóa sau khi đến cảng dỡ Do đó, sở hữu hợp pháp đề cập đến quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hóa, khi người vận chuyển có quyền sở hữu vật
tính hữu hình Do đó, đối với vận đơn điện tử, quyền sở hữu không thể được thể hiện bằng việc cầm giữ vận đơn Thuật ngữ “quyền sở hữu hợp pháp” cũng cần được nhìn nhận và sửa đổi theo một cách khác Theo đó, hiện nay một số luật mẫu của Liên Hợp Quốc hay pháp luật Hoa Kỳ đã sử dụng thuật ngữ “quyền kiểm soát” để thay thế cho quyền sở hữu đối với vận đơn Với đặc tính về cách vận hành cũng như tính phi vật chất, thay vì cầm giữ như vận đơn truyền thống; các chủ sở hữu vận đơn sẽ kiểm soát vận đơn điện tử trên các hệ thống điện tử vận hành vận đơn, đồng thời các chủ sở hữu sẽ thông qua các công cụ bảo mật để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc sử dụng vận đơn điện tử Như vậy, thay vì sử dụng thuật ngữ quyền sở hữu để quy định các vấn đề liên quan đến cấp phát, xuất trình, chuyển nhượng thì thuật ngữ quyền kiểm soát được sử dụng để thay thế Sự thay đổi này được xem là phù hợp hơn với tính chất và phương thức vận hành của vận đơn điện tử
Thông thường, để xác định người có quyền sở hữu vận đơn giấy, người ta thường căn cứ vào tên người được cấp phát được thể hiện trên nội dung vận đơn hoặc căn cứ vào người cầm giữ vận đơn Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, vận đơn điện tử có tính phi vật chất, quyền sở hữu không thể biểu hiện thông qua việc cầm giữ vận đơn Một vấn đề phát sinh trong trường hợp này là làm thế nào để xác định người có quyền kiểm soát đối với vận đơn điện tử Tiếp đó, khi hàng đã cập bến, người nhận hàng thường sẽ cầm vận đơn đến và xuất trình tại cảng dỡ để nhận hàng Trường hợp này lại tiếp tục đặt ra một câu hỏi làm thế nào để người nhận có thể nhận hàng tại cảng đến khi sử dụng vận đơn điện tử Để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra ở trên, cần đưa ra các quy định cụ thể
23 Quentin Schiltz (2019), tlđd (21), trang 440
Trang 35trong việc định nghĩa về người có quyền kiểm soát vận đơn điện tử và thủ tục giao nhận hàng hóa đối với vận đơn điện tử
Nhìn chung, pháp luật liên quan đến vận đơn điện tử quy định người có quyền kiểm soát đối với vận đơn điện tử là người được cấp phát (chủ hàng) hoặc được chuyển nhượng Vì vậy, khi thực hiện các quyền liên quan đến việc kiểm soát vận đơn điện tử, chủ hàng hoặc bên thứ ba nhận chuyển nhượng vận đơn điện tử sẽ là người có quyền thực hiện Song, việc giao nhận hàng tại cảng đến thông thường cũng được thực hiện dựa trên lệnh và hướng dẫn giao hàng của chủ hàng hoặc người nhận chuyển nhượng Đồng thời, người có quyền kiểm soát cũng sẽ có thẩm quyền chỉ định cá nhân hoặc tổ chức được phép nhận hàng Bên vận chuyển sẽ căn cứ vào hướng dẫn của người đó để thực hiện việc giao hàng khi sử dụng vận đơn điện tử
1.4.3 Tính chuyển nhượng của vận đơn điện tử
Khả năng “có thể chuyển nhượng” của vận đơn được xem là một trong ba yếu tố cùng với vấn đề quyền chiếm hữu tạo thành chức năng “chứng từ sở hữu” của vận đơn Nói cách khác, ngoại trừ vận đơn đích danh, vận đơn được xem là chứng từ về quyền sở hữu có thể chuyển nhượng Như đã phân tích tại phần 1.1.3, chuyển nhượng vận đơn thực chất là chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa Do hàng hóa không thể được giao thực
tế trong khi vận chuyển nên việc chuyển giao vận đơn là việc chuyển giao hàng hóa một cách tượng trưng Hơn nữa, hàng hóa có thể được mua và bán trong khi đang quá cảnh
nhiên, khác với vận đơn giấy truyền thống, vận đơn điện tử không tồn tại dưới dạng vật chất nên việc chuyển nhượng không thể thực hiện bằng cách ký hậu hoặc trao tay thông thường Theo đó, việc chuyển nhượng vận đơn điện tử cũng là một vấn đề cần được pháp luật điều chỉnh
24 Torsten Schmitz (2011), "The bill of lading as a document of title," Journal of International Trade Law and
Policy, vol 10, no 3, pp 255-280, 2011
Trang 36Có hai vấn đề cần được giải quyết bởi quy định của pháp luật Thứ nhất, vận đơn điện tử được xem là có thể chuyển nhượng khi nào Cách xác định tính chuyển nhượng của vận đơn điện tử có tương tự với cách xác định đối với vận đơn giấy truyền thống hay không? Thứ hai, quy trình chuyển nhượng của vận đơn điện tử được thực hiện như thế nào? Thông thường, pháp luật quốc tế có hai cách quy định đối với vấn đề này Một mặt, bên cạnh việc công nhận giá trị pháp lý của vận đơn điện tử, văn bản pháp lý sẽ áp dụng nguyên tắc tương đương về chức năng để công nhận giá trị pháp lý của việc chuyển nhượng vận đơn điện tử Theo đó, thủ tục chuyển nhượng được quy định thực hiện tương
tự với quy trình chuyển nhượng vận đơn truyền thống Mặt khác, một số văn bản lại lựa chọn việc đưa ra những quy tắc riêng, quy định chi tiết những thủ tục cần thực hiện và các điều kiện cần đáp ứng khi chuyển nhượng vận đơn điện tử, ví dụ như Quy tắc CMI hoặc Bộ quy tắc Bolero
Tóm lại, để xác định người có quyền thực hiện chuyển nhượng vận đơn thì trước hết cần xác định người có quyền kiểm soát vận đơn điện tử Tiếp đó, đối với quy trình chuyển nhượng, cần căn cứ vào quy định tại mỗi quốc gia hoặc tập quán quốc tế mà các bên thỏa thuận áp dụng Dựa vào các quy định điều chỉnh vận đơn điện tử mà thủ tục chuyển nhượng vận đơn điện tử được thực hiện phù hợp với pháp luật
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Vận đơn điện tử vẫn chưa được định nghĩa một cách chính xác bởi các văn bản pháp lý tại quốc gia và quốc tế Do đó, vận đơn điện tử thường được định nghĩa dựa trên bản chất, hình thái của chúng Theo đó, vận đơn điện tử là một hình thức của vận đơn truyền thống, chứa đựng các thông tin như trên vận đơn giấy, được vận hành thông qua
hệ thống điện tử viễn thông; trong một số trường hợp, vận đơn điện tử cung cấp chức năng tương đương với vận đơn giấy
Vận đơn điện tử chỉ bắt đầu xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX nên chúng vượt xa phạm vi điều chỉnh của những công ước quốc tế lâu đời như Công ước Brussels
1924 (Quy tắc Hague) hay Quy tắc Hague Visby 1968 Do đó, hiện nay các công ước quốc tế về hàng hải, các quy tắc về vận đơn vẫn chưa có sự công nhận dành cho vận đơn điện tử
Bên cạnh đó, vận đơn điện tử cũng đặt ra một hướng quy định mới đối với vận đơn
Vì tính chất vô hình nên việc sở hữu, chuyển nhượng vận đơn điện tử cũng có những sự khác biệt nhất định Hiện nay, hầu hết các văn bản pháp luật quốc tế đều hướng đến việc
sử dụng thuật ngữ “quyền kiểm soát” để thay thế cho thuật ngữ “quyền sở hữu” vận đơn điện tử Đồng thời, một số những công cụ điện tử cũng được sáng tạo và áp dụng vào việc bảo mật vận đơn điện tử Bên cạnh chữ ký điện tử, một số nền tảng công nghệ như CMI, Bolero đã đưa Khóa riêng vào vận đơn điện tử để phục vụ cho việc chuyển nhượng cũng như giao nhận hàng hóa Người có quyền kiểm soát vận đơn điện tử cũng đã được thay đổi để phù hợp hơn với tính chất của vận đơn điện tử Cụ thể, người có quyền kiểm soát vận đơn điện tử sẽ là người được cấp phát hoặc được chuyển nhượng vận đơn điện
tử Người có quyền kiểm soát vận đơn cũng sẽ có quyền chuyển nhượng quyền kiểm soát hoặc chuyển nhượng vận đơn điện tử Hiện nay, tồn tại hai cách thức quy định việc chuyển nhượng vận đơn điện tử như sau: (i) thủ tục chuyển nhượng được quy định thực hiện tương tự với quy trình chuyển nhượng vận đơn truyền thống, (ii) đưa ra những quy
Trang 38tắc riêng, quy định chi tiết những thủ tục cần thực hiện và các điều kiện cần đáp ứng khi chuyển nhượng vận đơn điện tử
Trang 39CHƯƠNG 2: VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ THEO LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI - KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
2.1 Giá trị pháp lý của vận đơn điện tử theo một số Công ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia
2.2.1 Quy định của các Công ước và tập quán quốc tế
Năm 1990, Ủy ban Hàng hải Quốc tế (Comité Maritime International - CMI) ban hành Quy tắc về vận đơn điện tử (Rules for Electronic Bills of Lading) (sau đây gọi tắt
là Quy tắc CMI) tập hợp các điều khoản điều chỉnh những vấn đề liên quan đến vận đơn điện tử Theo đó vận đơn điện tử có thể được phát hành và chuyển giao bằng cách sử dụng “khóa bí mật” (Private Key) có hiệu lực thay thế vận đơn giấy Đây được coi là cơ
sở pháp lý đầu tiên điều chỉnh về vận đơn điện tử Tuy nhiên, trong phạm vi nội dung của Quy tắc, định nghĩa hay sự công nhận về giá trị pháp lý của vận đơn điện tử không được đề cập một cách rõ ràng Thay vào đó, Quy tắc CMI chỉ tập trung quy định các vấn
đề liên quan đến hình thức, nội dung và các thủ tục liên quan đến vận đơn Dù vậy, vẫn
có thể nhận định Ủy ban Hàng hải Quốc tế đã ngầm công nhận và cho phép sử dụng vận đơn điện tử thay thế cho vận đơn giấy Tuy nhiên, cần lưu ý rằng để sử dụng các quy tắc này, người gửi hàng và người vận chuyển không cần phải là thành viên của một câu lạc
bộ hoặc trả phí đăng ký mà chỉ cần có công nghệ cần thiết để truyền thông điệp cho nhau
Về mặt pháp lý, Quy tắc CMI chỉ áp dụng khi được đưa vào hợp đồng và không nhằm
Kế thừa và đổi mới những quy định của các Quy tắc trước đó, Công ước Liên hợp Quốc về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng đường biển (Quy tắc Rotterdam) được ra đời, cung cấp những giải pháp thay thế về mặt pháp lý phù
25 Dương Thị Thu Lan (2022), “Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Vận Đơn Đường Biển Điện Tử Và Giải Pháp Áp
Dụng Tại Việt Nam”, Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế số 149 (09/2022)
https://drive.google.com/file/d/1OfumTUnqY2-cFLvNo744fqf4v QeTY2/view, trang 51
Trang 40hợp hơn với thời đại công nghệ thông tin Thực tế, ngành hàng hải đã thực hiện số hóa
ở rất nhiều mặt mà không riêng về vấn đề vận đơn Do đó, xuyên suốt nội dung của Quy tắc Rotterdam, các nhà lập pháp đã tập trung nghiên cứu và đưa ra những khung pháp lý điều chỉnh các loại hồ sơ, giấy tờ điện tử và những vấn đề liên quan đến chúng Khoản
18 Điều 1 của Quy tắc quy định:
“Hồ sơ vận tải điện tử là thông tin trong một hoặc nhiều thông điệp được phát hành bằng phương tiện liên lạc điện tử theo hợp đồng vận chuyển của người chuyên chở, bao gồm thông tin được liên kết hợp lý với hồ sơ vận tải điện tử bằng các tệp đính kèm hoặc được liên kết theo cách khác với hồ sơ vận tải điện tử đồng thời hoặc sau khi người vận chuyển phát hành hồ sơ, để trở thành một phần của hồ sơ vận tải điện tử là :
(a) Bằng chứng về việc người vận chuyển hoặc bên thực hiện đã nhận hàng theo hợp đồng vận chuyển; Và
(b) Bằng chứng hoặc có hợp đồng vận chuyển.”
Rõ ràng, Quy tắc này không sử dụng thuật ngữ “vận đơn” hay “vận đơn điện tử”
để định nghĩa mà thay vào đó là “chứng từ vận tải” và “hồ sơ vận tải điện tử” Như đã phân tích tại phần 1.2.1, khái niệm mới này của công ước nhằm hướng tới sự mở rộng hơn phạm vi quy định và điều chỉnh đối với các loại hồ sơ vận tải Vậy câu hỏi đặt ra là giá trị của hồ sơ vận tải điện tử được quy định như thế nào trong phạm vi của Quy tắc? Điều 8(a) của Công ước ghi nhận hai vấn đề của hồ sơ vận tải điện tử: (1) nội dung của vận đơn điện tử và (2) điều kiện phát hành và sử dụng vận đơn điện tử Cụ thể, theo Công ước, những nội dung mà Công ước quy định đối với vận đơn truyền thống hoàn toàn có thể được đưa vào nội dung của vận đơn điện tử Nghĩa là, về mặt nội dung, người phát hành vận đơn có thể ghi nhận những thông tin liên quan đến hàng hóa tương tự với vận đơn truyền thống mà không có yêu cầu gì khác Đồng thời, việc phát hành và sử dụng vận đơn điện tử phải được sự đồng thuận giữa người chuyên chở và người gửi hàng Tương tự, Điều 8(b) của Công ước lại một lần nữa cho thấy sự tương đương về giá trị và