BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài: “Quan điểm duy vật lịch sử về LLSX, vai trò của LLSX trong đời sống xã hội và sự vận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: “Quan điểm duy vật lịch sử về LLSX, vai trò của LLSX
trong đời sống xã hội và sự vận dụng quan điểm đó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
H và tên:ọ Nguyêễn Gia Bách
Mã sốố sinh viên: 11220776 - 09
L p TC: LLNLớ 1105(122)CLC_24
GV hướng dẫễn: TS Lê Th Hốồngị
Hà Nội, ngày 8, tháng 1, năm 2023
1
Trang 2UC LUC ;
MỞ ĐẦU………01
THÂN BÀI……….01
A) 1) Đ ịnh nghĩa về quan điểm duy vật lịch sử. 1.1) Chủ nghĩa duy vật lịch sử là……… 01
1.2) Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người……… 01
1.3) Chủ nghĩa DVLS không nghiên cứu những mặt riêng biệt của đời sống xã hội……….02
1.4) Sự ra đời của chủ ngjiax DVLS……….02
2) Vai trò của chủ nghĩa DVLS đến quá trình công nghiêph hoá, hiện đại hoá đất nước……….02
B) 1) Định nghĩa khái niệm lực lượng sản xuất. 1.1) Theo quan điểm của Các Mác thì LLSX là………04
1.2) Về cấu trúc LLSX là một hệ thống được xem xét trên hai mặt……… 04
1.3) Ví dụ về lực lượng sản xuất……… 04
1.4) Vai trò của lực lượng sản xuất………05
1.5) Yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất………05
2) Vai trò của LLSX trong đời sống xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước……….06
Trang 4MỞ ĐẦU:
Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức là có một cách sinh sống, cách sản xuất riêng của mình Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” Mác viết:…Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức của mình, do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình
Chủ nghĩa Mác-Lê nin khẳng định: Trong mỗi nấc thang lịch sử nhất định của xã hội, một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó sẽ phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và một kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Sau khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, Đảng cộng sản Việt
Nam đã lãnh đạo nhân dân ta lựa chọn con đường tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta trong thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vê Tổ quốc mà nhiệm vụ trung tâm là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tạo ra quá trình chuyển đổi một cách căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và khoa học công nghê, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
NỘI DUNG
1) Trước hết, ta đi phân tích định nghĩa về quan điểm duy vật lịch sử
1.1) Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự hệ thống quan điểm duy vật biện chứng
về xã hội, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống
xã hội và lịch sử nhân loại
1.2) Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng
sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến
Trang 5quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh
ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị
1.3) Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội khác với những khoa học xã hội
cụ thể, chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những quy luật cục bộ, riêng biệt, chi phối sự phát triển của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội
1.4) Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử với những khoa học xã hội cụ thể, chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những quy luật cục
bộ, riêng biệt, chi phối sự phát triển của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội
2) Vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đối với Việt Nam, khi chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xác định đầy
đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là một quá trình kinh tế, kỹ thuật - công nghệ và kinh tế - xã hội toàn diện, sâu rộng nhằm chuyển đổi nền sản xuất và xã hội Việt Nam từ trình độ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ công nghiệp với các trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại, văn minh
Trên cơ sở tổng kết công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay và bám sát bối cảnh, yêu cầu, nhiệm
vụ mới, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương: “Tiếp tục đẩy mạnh
2
Trang 6công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”
Lịch sử công nghiệp hóa trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm Vào giữa thế
kỷ XVII, một số nước phương Tây, mở đầu là nước Anh đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Đây là mốc đánh dấu sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới Tuy vậy, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm "công nghiệp hóa" mới được dùng để thay thế cho khái niệm "cách mạng công nghiệp", mặc dù sau cách mạng công nghiệp ở Anh, một thế hệ công nghiệp hóa đã diễn ra ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản Có thể khái quát, công nghiệp hóa là quá trình tạo sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với nền kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại, dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao Như vậy, công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành nước công nghiệp hiện đại với trình độ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân Hiện đại hóa là quá trình tận dụng mọi khả năng
để đạt trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại
Trong điều kiện của Việt Nam, Đảng ta xác định: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao"
Giúp đảm bảo và tạo điều kiện cho sự thay đổi về nền sản xuất xã hội, làm tăng năng suất lao động và tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên Từ đó sẽ góp phần phát triển kinh tế, cải thiện được đời sống của nhân dân và một phần quyết định tới sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo các điều kiện vật chất đối việc củng
cố và tăng cường vai trò của nền kinh tế Nhà nước Nhờ đó con người sẽ
Trang 7được phát triển một cách toàn diện nhất trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội
Giúp cho nền khoa học và công nghệ có điều kiện được phát triển nhanh chóng và đạt tới trình độ hiện đại, tiên tiến Tạo điều kiện bổ sung lực lượng vật chất và kỹ thuật cho hệ thống quốc phòng, an ninh, giúp đảm bảo
về đời sống kinh tế, chính trị và xã hội trong đất nước ngày càng phát triển hơn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
B)
1) Trước tiên, ta đi tìm hiểu về định nghĩa khái niệm lực lượng sản xuất 1.1) Theo quan điểm của Các Mác thì lực lượng sản xuất là khái niệm để chỉ
sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sức sản xuất vật chất nhất định Có thể hiểu, sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu của con người và xã hội trong các thời kỳ nhất định
1.2) Về cấu trúc, lực lượng sản xuất là một hệ thống được xem xét trên hai
mặt:
- Thứ nhất là Kinh tế – kỹ thuật còn được hiểu là tư liệu sản xuất
- Thứ hai là về kinh tế – xã hội, được hiểu là người lao động
Cũng theo Các Mác để cải biến giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất, người lao động cần phải có một sức mạnh tổng hợp Đó là sự kết hợp giữa sức mạnh của thể chất và trí tuệ – những yếu tố tạo nên khả năng lao động của con người và những yếu tố khác có thuộc tính cơ học, lý học, hóa học của các vật, để tùy theo mục đích của mình, dùng những yếu tố đó làm công cụ tác động vào các vật khác để quá trình sản xuất vật chất có thể thể diễn ra
Có thể hiểu tư liệu sản xuất là điều kiện cần của quá trình sản xuất vật chất và người lao động chính là chủ thể, đóng vai trò quyết định sự phát triển của sản xuất
4
Trang 8Như vậy, nếu không có con người biết chế tạo, sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên thì sẽ không có quá trình sản xuất vật chất
1.3) Ví dụ về lực lượng sản xuất.
Theo nội dung trên có thể hiểu được lực lượng ѕản хuất là gì? Lực lượng sản xuất gồm:
- Người lao động: con người có ѕức khỏe, có kỹ năng lao động
- Tư liệu ѕản хuất: đối tượng được con người ѕử dụng, khai thác trong quá trình ѕản хuất
Tư liệu sản xuất gồm:
+ Tư liệu lao động: đó là những công cụ lao động như máy kéo, máy cày, cuốc, máy dệt…
+ Đối tượng lao động: xi măng, sắt, thép, sợi vải, len…
Lực lượng ѕản хuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động.
- Bên cạnh đó, công cụ lao động là thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất
động đã đạt tới trình độ tin học hóa, ѕố hóa, tự động hóa…thì hiệu năng của nó được đánh giá là rất kỳ diệu
cao hơn, cao nhất của lực lượng ѕản хuất
những biến đổi ѕâu sắc cho toàn bộ tư liệu ѕản хuất
1.4) Vai trò của lực lượng sản xuất.
- Trong bất kỳ xã hội nào để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội phải có người lao động lẫn tư liệu sản xuất Vì nếu không có công cụ lao động phục vụ cho quá trình lao động thì con người sẽ không thể tác động để tạo ra của cải vật chất
Trang 9- Do đó, lực lượng sản xuất có vai trò là phương tiện để tiến hành sản xuất vật chất cho xã hội Để thỏa mãn được nhu cầu cơ bản của mình, con người phải chế tạo ra công cụ lao động, chính xác hơn đó là tư liệu lao động, tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất phát triển quyết định sự biến đổi, sự phát triển về mọi mặt của đời sống, quyết định sự phát triển của xã hội từ thấp đến cao
- lượng sản xuất còn là một bộ phận cấu thành của phương thức sản xuất và
là nền tảng, cơ sở, tiền đề của sản xuất Bởi nếu không có công cụ lao động, con người không thể sản xuất tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của mình
- Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự phân công lao động xã hội, năng xuất lao động xã hội từ đó cũng tăng lên, kết quả là sản phẩm sản xuất có sự
dư thừa Sự dư thừa sản phẩm là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và xuất hiện giai cấp trong xã hội Có thể thấy, sự phát triển của lực lượng sản xuất chính là nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện giai cấp trong xã hội
- Lực lượng sản xuất có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất xã hội cũng như quá trình phát triển của lịch sự loài người Phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề được coi trọng và đề cao trong mọi thời kỳ phát triển của
xã hội
1.5) Yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất.
- Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động
để tạo ra của cải vật chất để tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao
- Trong tư liệu lao động, là các yếu tố vật chất con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là một yếu tố quan trọng nhất
Và khi công cụ lao động đạt đến trình độ tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng
- Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Nói đúng hơn thì yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người
6
Trang 102) Vai trò của lực lượng sản xuất trong đời sống xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và mở rộng thị trường thế giới trong thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học-công nghệ
và toàn cầu hóa hiện nay đã tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại và đồ sộ hơn nhiều và do đó càng làm sáng tỏ nhận thức và đánh giá của Mác và Ăngghen Sau này, Lênin khi đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười ở nước Nga, cho rằng chỉ có lực lượng sản xuất hiện đại mới tạo
ra năng suất lao động cao “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới” CNXH chỉ có thể thắng lợi khi tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn CNTB “Đó là sự nghiệp rất khó khăn và rất lâu dài”
Từ năm 1928, Liên Xô đẩy mạnh công nghiệp hóa và trong một thời gian không dài đã có nền công nghiệp phát triển, quốc phòng mạnh, đủ sức đánh thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh vệ quốc và góp phần quyết định thắng lợi của phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ II, trở thành một trong hai siêu cường của thế kỷ XX
Ở Việt Nam, do điểm xuất phát rất thấp từ một nước nông nghiệp lạc hậu trong chế độ phong kiến hàng nghìn năm, bị chủ nghĩa thực dân cai trị hang trăm năm, nên yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa càng bức thiết Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước vừa giành được độc lập lại phải tiến hành kháng chiến lâu dài chống xâm lược nên chưa có điều kiện để chuyển lên con đường XHCN Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn xây dựng CNXH phải phát triển kỹ nghệ, tức là phát triển công nghiệp, khoa học, kỹ thuật
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng năm 1954 và bước vào thời kỳ
quá độ lên CNXH Đại hội III của Đảng (9-1960) xác định công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ, tiến hành cách mạng kỹ thuật xây dựng nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại,
văn hóa và khoa học tiên tiến Xác lập và củng cố quan hệ sản xuất XHCN Với đường hướng đó, mặc dù trong điều kiện phải tiến hành kháng chiến
Trang 11chống Mỹ, cứu nước, lực lượng sản xuất ở miền Bắc đã tăng gấp nhiều lần về
cơ sở vật chất-kỹ thuật Quan hệ sản xuất mới được xây dựng và củng cố với
ba yếu tố cơ bản: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với hai hình thức sở hữ
u toàn dân và tập thể; chế độ quản lý kế hoạch hóa, tập trung, hành chính mà Nhà nước là chủ thể; chế độ phân phối theo lao động, có tính đến một phần về đóng góp tư liệu sản xuất (ruộng 5%)
Sau khi miền Nam được giải phóng (1975), đất nước thống nhất và xây dựng CNXH trên cả nước Đại hội IV của Đảng (12-1976) tiếp tục đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN và coi cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Xây dựng quan hệ sản xuất mới ở miền Nam theo mô hình đã được xây dựng và củng cố ở miền Bắc, để nhanh chóng thống nhất về chế độ kinh tế Trong hơn 10 năm xây dựng CNXH trên cả nước, dù bị bao vây, cấm vận và chiến tranh biên giới với những tổn thất nặng nề, song lực lượng sản xuất vẫn phát triển đáng kể; “đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàng nghìn công trình vừa
và nhỏ, trong đó có một số cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, đường, thủy lợi, giao thông…” Xây dựng các công trình thủy điện Hòa Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, các nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, cầu lớn Thăng Long, Chương Dương, công trình thủy lợi Dầu Tiếng,
Kẻ Gỗ, kênh Hồng Ngự thật sự có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội
Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối CNH, HĐH đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) nêu rõ:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” Đó là một quá trình lâu dài, “Mục tiêu lâu(6) dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, 8