1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn
Tác giả Lê Kiều Oanh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, quan điểm chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước chủ nghĩa Mác đã bộc lộ những hạn chế nhất định qua việc tuyệt đối hóa vai trò của vật chất hay ý thức, thể hiện cái nhì

Trang 1

Trường Đại học K inh t ế Quốc d ân

- -

TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài số 3: “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa

vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên

hệ với thực tiễn.”

Họ và tên : Lê Kiều Oanh MSV : 11219111 Khóa : 63 Lớp : EBBA 13.1 Giai đoạn : 2021-2022

Hà Nội – 12/2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

N ỘI DUN G……… 4

1 Khái quát vật chất và ý thức 2

1.1 Khái quát về vật chất 2

1.2 Khái quát về ý thức 4

2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 5

2.1 Vật chất quyết định ý thức 5

2.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất 6

3 Ý nghĩa phương pháp luận 8

3.1 Quan điểm khách quan 8

3.2 Phát huy tính năng động chủ quan của ý thức 9

3.3 Phòng chống, khắc phục bệnh trì trệ, thụ động đồng thời khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí 9

4 Liên hệ thực tiễn 9

KẾT LUẬN………14

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử triết học từ thời kì cổ đại đến nay luôn là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa các trường phái triết học Đó là cuộc đấu tranh giữa các hệ

tư tưởng, các khuynh hướng khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học Đây cũng là cơ ở s để hình thành hai trường phái triết học khác nhau : chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước, sinh ra và quyết đ h vật chất Chủ nghĩa duy vật ịn lại cho rằng vật chất là cái có trước, sinh ra và quyết định ý thức Tuy nhiên, quan điểm chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước chủ nghĩa Mác đã bộc lộ những hạn chế nhất định qua việc tuyệt đối hóa vai trò của vật chất hay ý thức, thể hiện cái nhìn phiến diện, một chiều và không thấy được mặt toàn diện của vấn đề Những hạn chế này đã được các nhà triết học kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khắc phục bằng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của mình ừ nghiT ên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ta thấy được sự tác động qua lại không ngừng nghỉ, trong

đó vật chất sinh ra và quyết định ý thức, còn ý thức cũng tồn tại tương đối độc lập và có tác động trở lại vật chất Quan điểm này đã thể hiện tính toàn diện hơn, đúng đắn hơn và giúp ta phần nào giải quyết được vấn đề cơ bản trong triết học Và trên cở sở giải quyết vấn đề cơ bản đó mới có thể giải quyết được các vấn đề khác

Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề cơ bản trong triết học, em quyết định chọn đề t “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan ài

hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung

và liên hệ với thực tiễn” để nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn

Trang 4

NỘI DUNG

1 Khái quát v ật chất và ý th ức

1.1 Khái át v v qu ề ật chất

1.1.1 Khái niệm vật chất

- Quan ni ệm trước Mác: Là một vấn đề trọng tâm của triết học, quan niệm về vật chất ra đời từ rất sớm và nó nhanh chóng trở thành tâm điểm của cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nếu như chủ nghĩa duy tâm, ngay từ Platôn thời cổ đại Hy Lạp đến Hêghen sau này đã xem “vật chất” như là tính thứ hai, là cái có sau, bị quyết định bởi tính thứ nhất, hai cái có trước là ý niệm và ý niệm tuyệt đối thì các nhà duy vật, cũng ngay từ thời cổ đại, đã khẳng định dứt khoát “vật chất” là cái có trước, luôn vận động để từ đó sinh ra mọi vật

- Quan niệm của C.Mác và Ph Ăngghen: C.Mác và Ph.Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng về vật chất Dù ở thời k ủa mì c ình, C.Mác và Ph.Ăngghen

chưa xây dựng được một khái niệm hoàn ỉnh ề vật chất nhưng những ch v quan niệm của các ông về vậ chất lt à vô cùng quan trọng, trở thành tiền

đề chỉ dẫn để sau này V.I.Lênin khái quát ra phạm trù vật chất:

+ Thứ nhất, vật chất tồn tại khách quan, không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu di ệt

+ Thứ hai, vật chất là một phạm trù của triết học, một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực Bởi vì “vật chất với tính cách là vật chất, một sáng tạo thuần tuý của tư duy, và là một trừu tượng thuần tuý Do đó, khác với những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất với tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính”

+ Thứ ba, vật chất khác với vật thể, vật chất là tổng số các vật thể + Thứ tư, vật chất l ất cả những g ác động theo một cà t ì t ách nào đó đến các giác quan của con người

- Quan niệm về vật chất của V.I.Lênin:

Theo V.I Lênin, vật chất thuộc loại khái niệm rộng nhất, rộng đến cùng cực, cho nên không thể có một khái niệm nào rộng hơn nữa Do đó,

chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật ất trong quan hệ với ch ý thức – phạm trù đối lập ới nv ó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là

Trang 5

tính th hai Bứ ằng phương pháp định nghĩa đặc biệt đó – định nghĩa vật chất thông qua ý thức, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa về vật chất trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại” như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để ch ỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại

không lệ thuộc vào cảm giác”

1.1.2 Các phương thức tồn tại của vật chất

- V ận động: Là thuộc tính cố hữu của vật chất, gắn liền với vật chất, không thể có vật chất mà không có vận động, ngược lại, mọi vận động đều là vận động của vật chất, thông qua vận động mà vật chất biểu hiện

sự tồn tại của mình Vì vậy, con người chỉ nhận thức được sâu sắc sự vật, hiện tượng bằng cách xem xét chúng trong quá trình vận động Nhận thức sự vận động của một sự vật hiện tượng chính là nhận thức bản thân ,

sự vật hiện tượng đó, Ph.Ăngghen khẳng định rằng, vật chất không vận động sẽ tiêu tan, biến mất; rằng không thể quan niệm được vật chất mà lại không vận động Vận động của vật chất là tự thân vận động – nguồn gốc của vận động nằm trong bản thân cấu trúc nội tại của vật chất

- Không gian và thời gian: Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở

một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định và tồn tạ trong những i mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian ặt khác, hời gian là M t hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất vận động, được con người khái quát khi nhận thức về thế giới Không có không gian và thời gian thuần tuý tách rời vật chất vận động V.I.Lênin viết: “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động

và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian

và thời gian”

1.1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới

Ch ủ nghĩa duy tâm coi ý thức có trước, quyết định vật chất nên tính thống nhất của thế giới là ở ý thức, ở các lực lượng tinh thần siêu nhiên

Trang 6

Chủ nghĩa duy vật coi vật chất có trước, ý thức có sau, ý thức là sự phản ánh của thế giới vật chất nên sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất

Bằng sự phát triển lâu dài của triết học và sự phát triển khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh rằng thế giới xung quanh chúng ta dù đa dạng và phong phú đến đâu thì bản chất của nó vẫn là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Bởi vì:

- Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người

- Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không

được sinh ra và không bị mất đi

- Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất

1.2 Khái quát v ý thức

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc về vấn đề cơ bản của triết học,

là trọng tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Nó được hiểu là sự phản ánh thế giới khách quan lên trí óc của con người thông qua việc lấy các hoạt động thực tiễn làm cơ sở và cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Trên lập trường duy vật, ngay từ thời cổ đại, các triết gia đã có cách lý giải vô cùng thô sơ, mộc mạc, chẳng hạn, ý thức linh hồn con người cũng là do lừa (theo Hêraclit), hay do - nguyên tử đặc biệt cấu tạo thành (quan niệm của Đêmôcrit) Chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt từ thời cổ đại đến cận, hiện đại đều “ki n định” một quan ê niệm về ý thức có trước con người, về ý thức bẩm sinh trong đầu óc (như Platôn, Cantơ ), về linh hồn lý tính do Thượng đế ban cho con người

1.2.1 Bản chất của ý thức

Dựa trên lý luận phản ánh của mình, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giải quyết một cách khoa học vấn đề bản chất của ý thức Đó chính là sự

Trang 7

phản ánh hiện thực khách quan một cách năng động sáng tạo bởi bộ óc người Bản chất của ý thức được thể hiện qua các ý sau:

- Thứ nhất, ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu

óc con người hay là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Thứ hai, ý thức là sự phản ánh khách quan một cách chủ động và

tích cực

- Thứ ba, ý thức mang bản chất xã hội

1.2.2 Kết cấu của ý thức

- Kết cấu của ý thức theo chiều ngang: Ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí… mà trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, là cốt lõi

- Kết cấu của tri thức theo chiều dọc: Là “lát cắt” theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức…

2 Mối quan hệ biện chứng gi ữa vật chất v ý thức à

2.1 Vật chất quyết định ý thức

Theo quan điểm triết học Mác Lênin, vật chất và ý thức có mối quan -

hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, được xem là nguyên tắc xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên mấy khía cạnh sau:

- Một là, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Ý thức là sản phẩm của bộ óc, một dạng vật chất có tổ chức cao nhất Không có bộ

óc người thì không thể có ý thức Mặt khác, nếu không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ óc thì cũng không thể ra đời ý thức Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người Tóm lại, nếu không có tất

cả những yếu tố như vừa nêu (bộ óc người, thế giới khách quan tác động vào bộ óc người, hoạt động lao động, cơ chế phản ánh, ngôn ngữ) thì ý thức không được hình thành

Trang 8

Ví dụ: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người Nhưng khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng bị rối loạn

- Hai là, vật chất quyết định nội dung ản ch, b ất của ý thức Ý thức : dưới bất kỳ hình thức nào đều phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Vì thế điều kiện vật chất, hoàn cảnh sinh sống, các mối quan hệ xã hội của con người đều được phản ánh, được chép lại, chụp lại trong ý thức Hay nói cách khác, việc thế giới hiện thực vận động và phát triển theo những quy luật khách quan của nó được phản ánh vào ý thức; từ đó mới có nội dung hay bản chất của ý thức riết gia cổ điển Đức L Phoiơbắc từng cho rằng khi T sống trong túp lều tranh, người ta suy nghĩ khác với khi ở trong cung điện Rõ ràng, trong thực tế, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, ý chí, của con người bị quy định bởi hoàn cảnh trong đó họ sinh sống

- Ba là, vật chất không chỉ quy định nội dung mà còn quy định cả

hình thức biểu hiện cũng như sự thay đổi, biến đổi, phát triển của

ý thức: Ý thức luôn là cái phản ánh do cái bị phản ánh quy định Việc cái b hản ị p ánh thay đổi đương nhiên kéo theo sự thay đổi của cái phản ánh Bên cạnh đó, trong sự phát triển của xã hội, ở mỗi giai đoạn lịch sử ứng với tính chất của phương t ức sản xuất vật chất, h tính chất của các quan hệ kinh t à nhế l ững sự phát triển với những đặc trưng khác nhau của lĩnh vực ý thức, tinh thần Ví dụ, theo dòng chảy thời gian qua bao lần chuyển mình của xã hội thì ý thức cũng thay đổi Những tư tưởng lạc hậu nh ư “Trọng nam khinh n hay ữ”

“ ạC o đầu bôi vôi” đến nay đã dần bị xóa bỏ

Như vậy, vật chất quyết định ý thức, làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ý thức Một câu hỏi đặt ra là vậy ngược lại, ý thức có tác động trở lại vật chất hay không? Câu trả lời là có Ý thức cũng có những tác động to lớn đối với vật chất

2.2 S ự tác động trở lại của ý thức đối với ật chv ất

Mặc dù vật chất sinh ra ý thức nhưng ý thức không thụ động mà sẽ tác động trở lại ật chất thông qua các hoạt động thực tiễn của con người.v Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Trang 9

- Thứ nhất, ý thức có th àm biể l ến đổi hiện thực vật chất khách quan

để phục vụ nhu cầu của con người nhưng khi nói tới vai trò của ý thức, ta cần hiểu rằng về thực chất, đó là vai trò của con người + C.Mác đã ừng khẳng định: “Tư tưởng căn bản không thực hiện t được gì hết, muốn thực hiện được tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn Bản thân ý thức tự nó không thể ” thay đổi được thực tại khách quan, nhưng ý thức có thể làm cơ sở cho những hoạt động sáng tạo trong việc cải biến xã hội Ví dụ, khi con người không còn thỏa mãn với thiên nhiên vốn có, bằng ý thức của mình, thông qua hoạt động thực tiễn, con người đ ải tạo, chinh ã c phục giới tự nhiên và tạo ra một thiên nhiên thứ hai, thứ ba… để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của mình Như vậy, ý thức có th ác ể t động trở lại ật chv ất nhưng ự ts ác động đó ph thông qua hoải ạt động thực tiễn của con người

+ Ý thức cho con người ta tri thức, sự hiểu biết về những quy luật trong xã hội như quy luật chính trị, quy luật kinh tế và các quy luật khác (tức cung cấp thế giới quan) để trên cơ sở đó con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng ựa chọn phương, l pháp để thực hiện mục tiêu đó và cải biến hiện ực khth ách quan

- Thứ hai, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất là vô cùng to lớn nhưng có thể diễn ra theo hai khả năng:

+ Ý thức, tư tưởng tiên tiến, phản ánh đúng quy luật khách quan sẽ thúc đẩy sự phát triển của hiện thực vật chất

+ Ngược lại, nếu ý thức, tư tưởng lạc hậu, lỗi thời có th à lể l ực cản phá vỡ sự vận động và ph triát ển của vật chất

Ví dụ: Khi hiểu được tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở nhiệt độ hơn 10000 độ C, người ta tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất thép đủ kích cỡ thay vì dùng phương pháp thủ công cổ xưa

Qua đó, ta nhận thấy rằng, trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, hoạt động thực tiễn đóng vai trò vô cùng quan trọng Vật chất phản ánh vào đầu óc con người để hình thành ý thức bao giờ cũng diễn ra cùng với hoạt động thực tiễn, ngược lại, ý thức muốn cải biến được điều kiện vật chất cũng phải thông qua hoạt động thực tiễn Hoạt động ực tiễn lth à cầu nối, là khâu trung gian giữa vật chất và ý thức

Trang 10

3 Ý ngh ĩa phương ph áp lu ận

Từ nghiên cứu về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, ta rút ra những bài học có tính chất phương pháp luận có vai trò vô cùng quan trọng cho con người trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của họ

3.1 Quan điểm khách quan

Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải đảm bảo nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan, lấy thực tế khách quan làm gốc, làm cơ sở

Quan điểm khách quan yêu cầu:

- Thứ nhất, khi xem xét, nhận thức sự vật phải xuất phát từ chính ản b thân sự vậ đó, phải phản ánh sự vật trung thành như nó vốn có, phải t tôn trọng sự thật, không được lấy ý chí chủ quan áp đặt cho sự vật Nếu ý thức phản ánh không đúng hay đi xa rời khỏi thực tế khách quan sẽ dẫn tới những sai lầm, hậu quả khôn lường Bởi vậy, ta phải nhận thức sự vật hiện tượng một cách chân thực, đúng đắn, tránh tô hồng hay bôi đen đối tượng hay gán cho đối tượng cái mà nó không

- Thứ hai, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Mọi mục đích, kế hoạch, chủ trương hay biện pháp hành động của con người

đều phải dựa trên việc phân tích cặn kẽ, thấu áo hoàn cảnh thực tế đ khách quan Các chủ trương chính sách của con người phải phản ánh được những nhu cầu đã chín mu cồi ủa ều k ện thực tếđi i , có như vậy chủ trương, chính sách mới đạt được thành công Như V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn ạnh, khm ông được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược cách mạng Nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung, phải xuất phát từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó Điều bức thiết phải tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủ quan duy ý chí chủ là , nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa khách quan

Ngày đăng: 23/10/2023, 06:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w