“Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được xem là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử bởi vì nó vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hộ
Trang 1“TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN”
* *
*
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài:
“Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
và sự vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam hiện nay.”
Họ và tên sinh viên : Bùi Minh Ngọc
Mã sinh viên : 11219754
Lớp học phần : AEP(121)_01
0
Trang 2MỤC LỤC.
Trang
Lời nói đầu
2
Nội dung
3
I “Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội”
3
1 “Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội” 4 2 “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất”
6
3 “Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng”
9
4 “Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên”
10 II “Quá trình vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam”
13 Kết luận 16
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử được đánh giá là một trong ba phát kiến vĩ đại của
Mác cho nhân loại, đây là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử của nhân loại
“Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra những quy luật, những động lực phát triển của xã hội”
“Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được xem là một trong những nội
dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử bởi vì nó vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội và phương pháp luận khoa học để chúng ta nhận thức và cải tạo xã hội” Ta thấy rằng xã hội loài người vận động, phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao: từ xã hội Cộng sản nguyên thủy, lên cao hơn là chiếm hữu nô
lệ, cao hơn là phong kiến, cao hơn là tư bản chủ nghĩa và cao hơn nữa là cộng sản chủ nghĩa Mác đã cho thấy “động lực nội tại ( bên trong ) của sự phát triển xã hội cũng như bản chất của từng chế độ xã hội Từ đó, ta mới nghiên cứu được một cách khoa học và đúng đắn sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng như quá trình vận động lịch sử chung của xã hội loài người”
“Mặc dù ngày nay xã hội đã có những sự biến đổi nhất định nhưng lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác vẫn giữ nguyên giá trị của nó Đây chính là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học chỉ đạo cho các chính sách, chính đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa vận dụng sáng tạo trong việc xác định cương lĩnh cũng như chủ trương, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
đó có Việt Nam”
Thực tiễn cho thấy thế giới đang trong bối cảnh diễn biến rất phức tạp và khó lường, đất nước Việt Nam đang đứng trước cả những thời cơ đan xen những thử thách Thực trạng này đặt ra rất nhiều vấn đề cần các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau tập trung nghiên cứu, giải quyết Việc bám sát theo tư tưởng Mác – Lênin và vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào quá trình phát triển đất nước và tìm ra giải pháp thích hợp bảo đảm cho Việt Nam phát triển giàu mạnh, văn minh chính là một nhiệm vũ thực tiễn đang đặt ra
Vì những lí do trên mà em cho rằng đề tài “Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng của Đảng ta ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa rất thiết thực Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính mong thầy thông cảm và đóng góp để em hoàn thiện hơn
2
Trang 4NỘI DUNG.
I “HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI”.
“Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.”
Khi chủ nghĩa Mác chưa ra đời, việc giải thích lịch sử đã bị thống trị bởi chủ nghĩa duy tâm Ngay cả những nhà triết học tiên tiến trước Mác không theo trường phái duy tâm cũng đứng trên lập trường này để giải thích các hiện tượng xã hội
“Thay vì lấy sự phát triển điều kiện vật chất của xã hội, người ta lại đi từ ý thức con người, những tư tưởng lý luận để giải thích toàn bộ lịch sử xã hội Khác với họ, C.Mác đã lấy con người làm xuất phát điểm cho học thuyết của mình – con người hiện thực đang sống và hoạt động”
Mác và Ăngghen đã nghiên cứu gốc rễ của vấn đề, không xem thường tác dụng của cá nhân trong lịch sử, đồng thời không hạ thấp tác dụng của ý thức
“Chúng không phải những nguyên nhân xuất phát mà là những nguyên nhân phát sinh của quá trình lịch sử Bản thân chúng cuối cùng cũng cần được giải thích từ những điều kiện vật chất của đời sống.”
“Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những phát kiến lớn của triết học
Mác – Lênin, giúp cho con người có cái nhìn đúng đắn về xã hội, thế giới tự nhiên
và tư duy con người, là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại”
“Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những phát hiện vĩ đại nhất của chủ
nghĩa Mác bởi việc phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử hay vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật để xem xét những hiện tượng xã hội đã loại bỏ hai khuyết điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia Đồng thời chủ nghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế xã hội theo quan điểm duy vật”
“Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được xem là một nội dung cơ bản của
chủ nghĩa duy vật lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội” Với từng
Trang 5giai đoạn nhất định trong lịch sử thì sẽ tồn tại các quan hệ sản xuất, lực lượng lao động, sản xuất và sinh hoạt khác nhau Mỗi nước trên thế giới sẽ có phong tục tập quán, nền kinh tế và trình độ phát triển khác nhau Hình thái kinh tế - xã hội có tính lịch sử, một chế độ xã hội mất đi thì một chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế “Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp chứ không phải những
sự kiện rời rạc Tổng thế nó bao gồm nhiều mặt, mỗi mặt lại có thế mạnh riêng nên phải dựa vào đó để nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ hơn”
1 “Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển
xã hội”.
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Để hình thành nên ý thức thì cần có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Trong nguồn gốc xã hội, đặc biệt trong nguồn gốc xã hội, yếu tố quyết định trực tiếp chính là lao động
“Để tồn tại và phát triển được thì con người phải tiến hành sản xuất Sản xuất
là hoạt động không ngừng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần với mục đích là thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là sự sản xuất xã hội hay là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Sự sản xuất xã hội tức là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực đó bao gồm ba phương diện không tách dời nhau đó là: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người.” Trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng nhất
“Sản xuất tinh thần là hoạt động sáng tạo ra các giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người và xã hội.”
“Sản xuất ra chính bản thân con người, ở phạm vi cá nhân, gia đình chính là việc sinh con đẻ cái, duy trì nòi giống” Nên mới có câu nói “gia đình là tế bào của
xã hội” “Ở phạm vi xã hội, nó là sự tăng trưởng dân số, vấn đề về phát triển con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội.” Con người là nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội
“Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, khai thác hoặc cải biến các dạng vật chất của
tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.” Hành vi biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động đã phân biệt con người với con vật
4
Trang 6 “Sản xuất vật chất là hoạt động mang tính mục đích của con người nhằm tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho mình” Không có một quá trình sản xuất vật chất nào lại không có mục đích Ví dụ: Mục đích của quá trình sản xuất gạo là tạo ra gạo, mục đích của quá trình xây dựng là tạo ra những ngôi nhà
“Sản xuất vật chất gắn với việc chế tạo và sử dụng công cụ lao động” Chính trong quá trình sản xuất vật chất, con người chế tạo ra công cụ lao động để làm cho quá trình sản xuất vật chất đơn giản, hiệu quả hơn Cùng với đó, con người sử dụng công cụ lao động khoa học, hợp lí để tạo hiệu quả cao cho sản xuất vật chất
“Sản xuất vật chất gắn với việc biến đổi, cải tạo tự nhiên và xã hội” Có thể biến đổi theo một trong hai chiều hướng: tích cực hoặc tiêu cực Ví dụ: Trước đây ở một số tỉnh thành không có khu công nghiệp sau đó thì mới mở khu công nghiệp Khi có khu công nghiệp thì người dân ở đó có công ăn việc làm, đời sống được cải thiện, chất lượng cuộc sống nâng cao hơn, thu nhập bình quân đầu người tang Nhưng cũng đồng thời có các mặt tiêu cực như các tệ nạn xã hội nhiều hơn ví
dụ như trộm cắp, mại dâm, cờ bạc, ma túy… Cảnh quan có thể đẹp hơn nhưng môi trường có thể bị ô nhiễm
Quá trình sản xuất vật chất bao giờ cũng có ba yếu tố cơ bản hợp thành:
Sức lao động – có sự tham gia của con người Không có một quá trình sản xuất vật chất nào mà không có hình bóng con người ở trong đó
Đối tượng lao động
Tư liệu lao động
Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của con người
Là nhân tố quyết định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội
“Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thỏa mãn với những cái đã sẵn có trong tự nhiên mà luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao, ngày càng phong phú và đa dạng của con người Việc sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt là yêu cầu khách quan của đời sống xã hội, như vậy con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình, đồng thời cũng tạo ra các mặt khác của đời sống xã hội”
“Là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội của con người” Ví dụ: Việt Nam là một nước nông nghiệp nên phải hợp tác
Trang 7khoa học với các quốc gia khác, để hợp tác được thì cần có quan hệ về chính trị, từ
đó nảy sinh sự giao thoa quan hệ về văn hóa, tôn giáo…
Là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội loài người Chính nhờ công cuộc sản xuất mà con người không ngừng sáng tạo, đó chính là tiến bộ của xã hội loài người Ví dụ: Trước đây con người dệt bằng khung cửi, từ đó con người ta muốn năng suất lao động tăng lên thì khung cửi được thay bằng máy dệt
2 “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất”.
a “Phương thức sản xuất”.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử của nhân loại, loài người chúng ta tiến hành sản xuất theo một cách thức khác nhau Như vậy, “phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của
xã hội loài người.”
“Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong đó, lực lượng sản xuất thể hiện nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất thể hiện hình thức xã hội của phương thức sản xuất Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất là mối quan hệ song trùng của sản xuất vật chất xã hội, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất”
“Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất tạo
ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầu của con người.” Gồm hai bộ phận:
Người lao động: những người có trình độ, tri thức, kĩ năng lao động, kinh nghiệm lao động và năng lực sáng tạo trong quá trình sản xuất của xã hội
“Người lao động là chủ thể sáng tạo nhưng đồng thời cũng là chủ thể tiêu dung mọi của cải vật chất trong xã hội Người lao động tạo ra tư liệu sản xuất Trình độ của tư liệu sản xuất được quyết định bởi trình độ của người lao động Hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất do người lao động quyết định”
“Tư liệu sản xuất: là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất Nó bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động”
o “Đối tượng lao động là những thứ mà lao động của con người tác
động lên nhằm biến đổi chúng phù hợp với mục đích của con
6
Trang 8người Đối tượng lao động được chia làm hai loại là đối tượng tự nhiên và nhân tạo (qua chế biến)”. Ví dụ: người nông dân đi cấy thì tác động lên đất, đất là đối tượng lao động tự nhiên; người công
nhân muốn may một chiếc áo thì phải tác động lên vải, vải là đối
tượng đã qua chế biến
o “Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con
người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng như cầu của mình” Phân ra thành: Công cụ lao động và phương tiện lao động Trong đó, phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất Ví dụ như
hệ thống bình chứa, hệ thống kết cấu hạ tầng sản xuất “Công cụ
lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử
dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng tạo
ra của cải vật chất phục vụ cho mình Có thể xem công cụ lao
động là yếu tố vật chất trung gian, truyền dẫn giữa người lao động
và đối tượng lao động trong tiến hành sản xuất” Nhìn chung công
cụ lao động là yếu tố thường xuyên biến đổi nhất, điều này xuất
phát từ nhu cầu của con người không ngừng gia tăng, phát triển đa dạng và phong phú Vì vậy công cụ lao động không ngừng được
sáng tạo ra để thỏa mãn những nhu cầu đó của con người Công cụ
lao động cũng là yếu tố cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất,
nó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế, là thước đo trình độ cải biến tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế Chính vì vậy, C Mác đã từng nói: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái
gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”
Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
Đã trở thành nguyên nhân của mọi biến đổi trong lực lượng sản xuất
“Rút ngắn khoảng cách từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất, làm cho năng suất lao động, của cải xã hội tăng nhanh”
“Kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, yêu cầu sản xuất đặt ra”
Trang 9 “Thâm nhập vào các yếu tố, trở thành mắt khâu bên trong quá trình sản xuất”
“Kích thích sự phát triển năng lực làm chủ sản xuất của con người”
“Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế, vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất Đây chính là mối quan hệ vật chất quan trọng Quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, bao gồm sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dung” Được thể hiện trên ba khía cạnh:
Quan hệ giữa người với người về việc sở hữu đối với tư liệu sản xuất
Quan hệ giữa người với người trong tổ chức, quản lý sản xuất
Quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm
Các mặt trong quan hệ sản xuất luôn có tác động hữu cơ với nhau, tác động qua lại với nhau, nó chịu sự ảnh hưởng chi phối lẫn nhau Trong đó, quan hệ về sổ hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
b “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định “lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, lực lượng sản xuất quyết định quan
hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất”
“Lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất đó Khi lực lượng sản xuất thay đổi thì sớm muộn gì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo và nội dung của quan hệ sản xuất là do lực lượng sản xuất quy định”
“Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng”:
“Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển”
“Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ cản trở lực lượng sản xuất phát triển”
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trên những khía cạnh:
Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
8
Trang 10 Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất.
Sự kết hợp đúng đắn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
Tạo điều kiện tối ưu sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất
Tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất và hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao động
Trong một phương tiện sản xuất, quan hệ sản xuất bao giờ cũng phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng phát triển Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật quyết định sự vận động, phát triển nội tại của bản than phương thức sản xuất
và là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại
Ý nghĩa:
Muốn phát triển kinh tế phải phát triển lực lượng sản xuất trước
Muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới phải xuất phát từ trình độ của lực lượng sản xuất
Ở Việt Nam xây dựng kinh tế thị trường nhiều thành phần
Ở Việt Nam xác định công nghiệp hóa, hiện đại háo là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển lực lượng sản xuất
3 “Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội”.
a “Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng”.
“Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội và nó là toàn bộ các quan hệ sản xuất tồn tại trên thực tế mà trong quá trình vận động của nó hợp thành cơ cấu kinh
tế hiện thực Và các quan hệ sản xuất ở đây là các quan hệ cơ bản đầu tiên và chủ yếu quyết định mọi quan hệ xã hội khác”
Cơ sở hạ tầng có cấu trúc gồm: