Những năng lựcđó là năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác,năng lực, năng lực quản lý, năng lực giao tiếp tiếng Việt; năng lực cảm thụ vănhọc; năng lực
Trang 14 III Đối tượng nghiên cứu
5 IV Phương pháp nghiên cứu
9 III Nội dung các giải pháp
10 IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
14 II Một vài kiến nghị
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA GIỜ HỌC NÓI VÀ NGHE TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 6”
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài
Trong chương trình môn Ngữ văn lớp 6, 7 - GDPT Mới, tiết dạy nói và
Trang 2nghe là một tiết học vô cùng quan trọng đối với học sinh Qua tiết dạy nói vànghe giáo viên giúp cho học sinh mở rộng vốn từ, biết cách vận dụng từ ngừ,ngữ pháp để diễn đạt ý tưởng chính xác, rõ ràng, trong sáng Hơn nữa giáo viêncòn rèn luyện cho học sinh các mặt cụ thể về lời nói (phải rõ nghĩa, rõ ý), giọngnói (phải vừa nghe, vừa cố gắng truyền cảm) và tư thế nói (phải mạnh dạn, tựtin giúp cho lời nói có sức thuyết phục hơn) Đồng thời qua dạy nói và nghe gópphần củng cố các kiến thức (về phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyếtminh, nghị luận); kĩ năng (tìm hiểu đề, làm dàn ý, liên kết câu, liên kết đoạn )
đã và đang học trong chương trình Nói và nghe tốt có ý nghĩa hết sức quantrọng đối với các em không chỉ trong thời gian học tập ở trường mà còn trongsuốt thời gian sống và làm việc sau này
Rèn luyện kĩ năng nói và nghe cho học sinh là một việc khó, nhưng dù khóthế nào, yêu cầu của 2 kĩ năng này phải luôn luôn được coi trọng Nếu như đọc
và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói vànghe là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cầnđược rèn luyện và phát triển trong nhà trường Luyện nói và nghe trong nhàtrường là giúp cho học sinh có thói quen nói trong những môi trường giao tiếpkhác nhau Nó được thực hiện một cách hệ thống, theo những chủ đề nhất định,gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày
II Mục đích nghiên cứu
Trao đổi kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn 6 theophương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm tạo cho học sinh có tâm thế nhẹnhàng, thoải mái khi tiếp nhận kiến thức Góp phần tích cực vào đổi mớiphương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đây cũng là cách để giáo viên chúngtôi tiếp cận những phương pháp, những mô hình dạy học mới, đáp ứng yêu cầuđổi mới căn bản, toàn diện trong dạy học, đáp ứng Chương trình GDPT 2018,thực hiện tốt cho việc giảng dạy SGK mới năm học 2021-2022 và những nămtiếp theo
Trang 3Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trong giờhọc Nói và nghe nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường THCS,nhằm tạo ra sự hứng thú, niềm say mê yêu thích môn học và rèn kĩ năng nói –nghe tốt nhất của học sinh Qua giờ học Nói nghe phát triển năng lực cốt lõi củahọc sinh bao gồm cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt Những năng lực
đó là năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác,năng lực, năng lực quản lý, năng lực giao tiếp tiếng Việt; năng lực cảm thụ vănhọc; năng lực sử dụng công nghệ thông tin…
Chính vì vậy, áp dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực củahọc sinh trong giờ Nói – nghe để cả lớp tích cực tham gia và được thể hiện nănglực, làm thế nào cho tiếng Việt vang lên tất cả sự giàu đẹp và nhạc điệu của nótrong giờ học Ngữ văn Từ đó giúp các em thêm yêu tiếng Việt cũng như nângcao năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực trình bày trước tập thể
III Đối tượng nghiên cứu
- Giáo viên và học sinh lớp 6 trường THCS …
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu xoay quanh chủ đề “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA GIỜ HỌC NÓI VÀ NGHE TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 6”
- Đề tài này áp dụng cho năm học 2022 -2023
IV Phương pháp nghiên cứu
- Để đề tài có hiệu quả cao, chúng ta cần có phương pháp đúng đắn
- Trước tiên phải có sự quan sát đánh giá tình hình của học sinh, chất lượnghọc tập, ý thức học tập của các em học sinh
- Khi đánh giá được tình hình học tập của học sinh, tôi lựa chọn nội dungnghiên cứu, từ đó tôi quyết định tìm tòi tài liệu phù hợp phục vụ cho đề tài, tiếptheo tôi tìm hiểu, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp
- Cùng với tài liệu đã thu thập được, tôi viết đề cương sau đó đưa ra tổchuyên môn cùng thảo luận
Trang 4- Được sự đóng góp ý kiến của tổ chuyên môn, tôi thực hiện viết đề tài.
- Qua quá trình nghiên cứu đề tài trên lý thuyết kết hợp với thực tế họcsinh, tôi kết hợp điều chỉnh các thiếu sót, bất cập nảy sinh
- Nói chung phương pháp cơ bản để tôi chọn đề tài này đó là phương pháp:+ Điều tra: Lấy ý kiến của đồng nghiệp, ý kiến của học sinh
+ Tổng hợp: tổng hợp từ kết quả thực hành trên lớp của HS, tổng hợp từ ýkiến của đồng nghiệp
Nhưng điều quan trọng là phải đảm các nguyên tắc sau:
+ Trước tiên phải đảm bảo mục tiêu bài học
+ Không làm quá tải chương trình, quá tải nội dung bài học
+ Không phá vỡ nội dung môn học
+ Không đưa những nội dung nói quá xa lạ đối với bài học
+ Tiết luyện nói và nghe phải tự nhiên, không gò ép
+ Có sự liên kết, gần gũi với cuộc sống đời thường của HS
Trong 4 kỹ năng cơ bản đọc, viết, nói và nghe thì kỹ năng nói và nghe làmột trong những điểm sáng, điểm mới trong chương trình Tuy nhiên, thực tếgiảng dạy các tiết nói và nghe này (trước đây còn gọi là tiết Luyện nói) còn
Trang 5nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Kỹ năng nói và khả năng lắng nghe,phản hồi của học sinh chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Vì vậy, trongquá trình tham gia giảng dạy cho học sinh, tôi rất chú trọng tới các tiết học này.
Sử dụng kinh nghiệm giảng dạy trong các tiết Luyện nói trước đây, áp dụng vàđiều chỉnh trong các tiết Nói và nghe của chương trình mới hiện nay, tôi đã tổchức được một số tiết học Nói và nghe thực sự có hiệu quả Vì vậy, tôi mạnh
dạn chia sẻ tới quý đồng nghiệp sáng kiến: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ HỌC NÓI VÀ NGHE TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 6”
II Cơ sở thực tiễn
Với CT Ngữ văn 2018, số tiết dành cho kĩ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10%tổng số thời lượng (khoảng trên 10 tiết/ năm) Tuy nhiên cần lưu ý việc rèn luyện kĩnăng nói và nghe được thực hiện ở nhiều hình thức khác nhau: kiểm tra bài cũ, phátbiểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận, sinh hoạt lớp Có thể coi đó là nộidung rèn luyện nói và nghe tự do với kĩ năng giao tiếp thông thường Số tiết 10%
mà CT quy định được hiểu là dạy nói nghe có nội dung theo đề tài, chủ đề bắtbuộc Cụ thể đề tài, chủ đề nói nghe ấy phụ thuộc vào nội dung đọc và viết trongmỗi bài học Đọc hiểu và viết nội dung gì thì nói nghe sẽ tổ chức để HS rèn luyệntheo nội dung ấy Điều này vừa thực hiện tích hợp nội dung các kĩ năng, vừa gópphần củng cố nội dung đã học ở đọc và viết
* Thuận lợi:
- Thứ 1: Chương trình mới của sách giáo khoa hiện nay đặc biệt chú trọng
và nhấn mạnh “Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ Văn cho học sinh làlàm cho học sinh có kĩ năng đọc, viết, nói và nghe tiếng Việt khá thành thạotheokiểu loại văn bản Trong chương trình Sách giáo khoa, mỗi bài học phần nói
và nghe đều được tách riêng ra thành một bộ phận không thể thiếu sau mỗi bàihọc (Cấu trúc Sách giáo khoa bao gồm các phần: Đọc hiểu văn bản (Đọc vănbản, thực hành Tiếng Việt), Viết, Nói và nghe) Thời lượng dành cho các tiết
Trang 6Nói và nghe thường là từ 1-2 tiết, nhưng có thể điều chỉnh linh hoạt tuỳ theo đốitượng học sinh.
- Thứ 2: Việc tổ chức các tiết Nói và nghe đã được hỗ trợ rất nhiều bởi công
nghệ thông tin, bởi các trang Web hướng dẫn học sinh (Các em có thể xemhướng dẫn, có thể tự luyện nói ở nhà và quay video lại để nhận thấy những ưuđiểm và hạn chế của mình)
- Thứ 3: Các tiết nói và nghe khiến học sinh được thực hành giao tiếp, lắng
nghe và phản hồi, được thể hiện cá tính, phong cách, ngôn ngữ, giọng điệu, cáchsắp xếp tri thức logic, khoa học, cách kết nối các nội dung theo cách riêng củatừng cá nhân nên các em rất hào hứng tham gia học tập Phạm Minh – Thái N
* Khó khăn
- Thứ 1: Trong quá trình giảng dạy các tiết nói và nghe, giáo viên còn nặng
hướng dẫn lý thuyết, chưa dành nhiều thời gian cho học sinh luyện nói, lắngnghe và phản hồi Chưa chú trọng chỉ ra ưu điểm, hạn chế của từng học sinh đểtìm cách khắc phục
- Thứ 2: Các em học sinh lớp 6 còn khá nhút nhát, chưa thực sự mạnh dạn
trước đám đông, chưa tự tin thể hiện mình trước tập thể Tâm lý sợ sai, e ngại đãkhiến các tiết Nói và nghe trở nên trầm hơn Bên cạnh đó, việc chuẩn bị bài tạinhà chưa tốt, các em chưa có khả năng kết nối nội dung với nhau nên còn khókhăn Vì vậy, hiệu quả các tiết Nói và nghe còn chưa cao, chưa phát huy đượctính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình nói và nghe
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, tiết luyện nói và nghe (cả chương trìnhsách giáo khoa cũ và hiện hành) dường như chưa được chú trọng, đôi khi giáoviên bỏ qua tiết này thay bằng tiết khác hoặc dạy qua loa cho xong
Về phía giáo viên:
+ GV và HS chưa nhận thấy vai trò quan trọng của việc luyện nói trongdạy, học văn
Trang 7+ GV lúng túng khi thực hiện tiến trình một tiết luyện nói (có GV đưa cảviệc lập dàn ý, dựng đoạn vào tiết luyện nói nên không còn thời gian cho HSluyện nói).
+ Kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh chưa nhiều so với rènluyện kĩ năng viết
+ GV không hướng dẫn cặn kẽ HS khâu chuẩn bị nội dung bài nói và cáchthức nói
- Về phía học sinh:
+ HS không quen diễn đạt theo ngôn ngừ nói nên tiết nói chủ yếu là HSđọc (cầm bài đọc hoặc đọc thuộc lòng) làm cho việc nói, trình bày thiếu tựnhiên, gượng ép
+ HS nói thường thiếu mạch lạc, không theo một bố cục hợp lí; khi nóithiếu tự tin, lúng túng, ấp úng nói không thành lời
+ Học sinh chuẩn bị bài nói chưa kĩ khiến các em không chủ động trongviệc trình bày bài nói
Từ đó, tiết luyện nói và nghe trở thành “chán” nhất đối với giáo viên vàhọc sinh Chính vì vậy, tôi nhận thấy vấn đề đặt ra là phải tạo cho học sinh tính
tự tin, mạnh dạn, tinh thần chủ động; bồi dưỡng cho học sinh thêm vốn từ, rènluyện kĩ năng nói và hình thành những chuẩn mực trong bài nói, nhằm nâng caochất lượng tiết luyện nói đạt hiệu quả
Tiến hành khảo sát thực trạng về kỹ năng nói và nghe cho học sinh lớp 6 tạitrường THCS… vào đầu năm học (2022 – 2023) và cho kết quả như sau:
thường
Còn đuối
1 Phần chuẩn bị bài ở nhà trước
tiết Nói và nghe
2 Em tự tin thuyết trình trước
các bạn
3 Khả năng diễn đạt ngôn ngữ
Trang 8của em.
4 Em tích cực tham gia nhận
xét, chia sẻ trước bài nói của
bạn
III Nội dung giải pháp
1 Giải pháp 1 Giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị tại nhà.
Đây là khâu rất quan trọng tạo nên thành công cho tiết Nói và nghe, giáoviên cần giao cho học sinh chuẩn bị trước tại nhà.Vì vậy, tôi rất chú trọng tớikhâu này đối với học sinh Thông thường, tôi giao nhiệm vụ cho học sinh vềnhà như sau:
1.1 Nhiệm vụ cần thực hiện tại nhà.
- Thứ nhất: Đọc kỹ yêu cầu của để, lựa chọn nội dung mà mình dự kiến sẽluyện nói trước lớp
- Thứ hai: Tìm ý và lập dàn ý cho bài nói
- Thứ ba: Chuẩn bị các tư liệu, tranh ảnh hỗ trợ cho bài nói (nếu có)
- Thứ tư: Nêu lên những cảm xúc, suy nghĩ, bài học rút ra từ bài nói Lựachọn cách thức thể hiện sao cho phù hợp với bài nói
1.2 Cách thức giao nhiệm vụ cho học sinh.
Cách 1: Giao nhiệm vụ cá nhân thông qua phiếu học tập.
Cụ thể trong Tiết Nói và nghe trình bày ý kiến của em về một vấn đề trong gia đình
Đề bài: Chia sẻ vai trò của sự cảm thông, chia sẻ, yêu thương đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình
* Mẫu phiếu học tập hướng dẫn học sinh bước tìm ý:
Trang 9PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Đề bài: Chia sẻ vai trò của sự cảm thông, chia sẻ, yêu thương đoàn kết giữa
các thành viên trong gia đình BƯỚC TÌM Ý CHO ĐỀ BÀI
Nội dung bài nói
1 Giải thích gia đình là gì?
2 Vai trò của gia đình đối với mỗi người
3 Chúng ta cần phải cảm thông, chia sẻ, yêu
thương đoàn kết trong gia đình
BƯỚC LẬP DÀN Ý CHI TIẾT
Mở đầu bài nói
1 Lời chào và lời giới thiệu lí do bài nói
Nội dung bài nói
2 Giải thích gia đình là gì?
3 Vai trò của gia đình đối với mỗi người
4 Chúng ta cần phải cảm thông, chia sẻ, yêu
thương đoàn kết trong gia đình
5 Bàn bạc mở rộng; vẫn có những người không
quý trọng gia đình
6 Bài học nhận thức, bài học hành động
Kết thúc bài nói:
7 Lời chào, lời cảm ơn
Cách 2 Giao nhiệm vụ cho nhóm thông qua phương pháp dự án hoặc hoàn tất một nhiệm vụ.
Trang 10Hay giáo viên cũng có thể giao nhiệm vụ cho học sinh các nhóm thống nhất dàn
ý chung trong bài Nói và nghe “Chia sẻ vai trò của sự cảm thông, chia sẻ, yêu
thương đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình”với 3 nội dung cơ bản
như: Xác định yêu cầu, tìm ý, lập dàn ý Sau đó, mỗi nhóm học sinh sẽ lựa chọnhình thức trình bày để chia sẻ bài nói của mình trước lớp
2 Giải pháp 2: Đảm bảo cấu trúc cơ bản của một bài nói.
Một bài nói hoàn thiện sẽ bao gồm có 3 phần cơ bản:
- Phần thứ nhất: Phần mở đầu bài nói.
+ Cần phải có lời chào hỏi trước khi nói (Chào cô giáo, chào các bạn, giới
thiệu về bản thân Ví dụ: Em xin kính chào cô giáo, tôi xin chào tất cả các bạn.
Tôi xin tự giới thiệu, tôi tên là … học sinh lớp…)
+ Giới thiệu về nội dung nói và nghe mình định trình bày
- Phần thứ 2: Phần nội dung chính của bài nói (trình bày và sắp xếp các ý
Trang 11Ví dụ: Xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe những chia sẻ của tôi.Rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của thầy cô và các bạn về bài nói củatôi để lần sau tôi sẽ trình bày bài nói tốt hơn!
* Hoạt động tổ chức cho HS nói
Bước 1: Nói trong nhóm
Bước 2: Nói trước tập thể
HS dựa trên dàn ý đã xây dựng, HS luyện nói với nhau trong nhóm Các bạntrong nhóm sẽ nhận xét, góp ý về nội dung bài nói
GV gọi một số HS lên trình bày bài nói của mình trước lớp
HS trong lớp theo dõi và nhận xét
GV theo dõi, nhận xét cụ thể, nêu hướng khắc phục và cho điểm đối với những
HS có bài nói tốt
- Để cho bài nói của học sinh thêm phần sinh động, hấp dẫn ta có thể lựa chọnthêm nhiều hình thức khác để huy động được nhiều đối tượng học sinh nói đạthiệu quả:
+ Thi nói tiếp sức
+ Thi nói, thi kể chuyện sáng tạo có vật dụng trực quan, hình ảnh minh họa.+ Thi nói đóng vai, tập làm biên tập viên
*Tổ chức cho học sinh “ nghe” – Trao đổi sau khi nói
- Sau khi thực hiện bước nói – cần tổ chức cho học sinh thực hiện bước trao đổisau khi nói với 2 nội dung cơ bản:
+ Người nghe trao đổi với người nói về nội dung và cách trình bày bài nói
+ Nhận xét về bài nói, đề xuất cách giải quyết theo hướng của mình
3 Giải pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện trực quan trong bài nói để thu hút người nghe.
Để bài nói của mình trở nên hấp dẫn hơn, tôi đã hướng dẫn các em có thểứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện bài nói để thu hút ngườinghe hơn Vậy, ứng dụng công nghệ bằng cách nào?
Trang 12- Hướng dẫn học sinh sử dụng trang Google hoặc Youtobe để tải và nghecác bài nói mới Từ đó học sinh có thể học cách thức điều chỉnh giọng nói, tácphong, nét mặt, cử chỉ của bản thân khi tham gia nói.
- Hướng dẫn học sinh cách sử dụng âm nhạc phù hợp với bài nói mà mìnhlựa chọn để tăng thêm tính hấp dẫn cho bài nói (nên lựa chọn âm thanh ở mứcvừa phải, nhạc điệu lựa chọn cần phù hợp với chủ đề trong bài nói)
+ Có thể hướng dẫn học sinh sử dụng phần mềm cắt và ghép nhạc trựctuyến để có những đoạn nhạc phù hợp
+ Sử dụng các phần mềm ticktok trên điện thoại để có được những đoạnnhạc phù hợp ( cách sử dụng nhạc này, học sinh lớp 6 khá thành thạo)
- Sử dụng phương tiện trực quan như hình ảnh, đồ dùng để thu hút ngườinghe
4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh cách tập luyện trước khi trình bày trước lớp.
Việc hướng dẫn học sinh cách tập luyện trước khi trình bày trước lớp rấtquan trọng Bởi khi các em được tập luyện, các em sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn
và hiệu quả phần nói sẽ tốt hơn
- Tập luyện cách điều chỉnh giọng nói và tốc độ nói.
+ Âm lượng giọng nói: thay đổi phù hợp lúc to, lúc nhỏ
+ Tốc độ nói: Có thể nhanh hay chậm phù hợp với từng chi tiết, sự việctrong bài
+ Cách thể hiện: Giọng nói cần thay đổi phù hợp với giọng kể, giọng nhânvật, giọng vui hay buồn, sôi nổi hay suy tư
+ Cao độ: Cách lên xuống giọng
- Sử dụng ngôn ngữ cơ thể hiệu quả.