1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Báo cáo biện pháp nâng cao ý thức bvmt chỉnh sữa

13 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kĩ năng nói thông qua tiết nói và nghe : Suy nghĩ về vấn đề đời sống gợi ra từ tác phẩm văn học - Ngữ văn 7 ở trường THCS và THPT Nghi Sơn
Trường học Trường THCS & THPT Nghi Sơn
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Nghi Sơn
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trương trình phát triển Giáo dục trung học Tr56,57 Phần lớn học sinh trong lớp, trong các tiết luyện nói, còn phát âm theo tiếng địa phương, sai với tiếng phổ thông, trình bày hời hợt,

Trang 1

1 LÍ DO CHỌN BIỆN PHÁP

Như chúng ta đã biết, giao tiếp là một yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống hằng ngày, là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe để nhằm đạt được một mục đích nào đó Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: Sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết vào tình huống cụ thể để đạt được mục đích giao tiếp “Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù môn học Thông qua bài học, học sinh có thể vận dụng những hiểu biết của mình vận dụng vào việc luyện nói trong giờ thực hành Đó chính là khả năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống”

( Trương trình phát triển Giáo dục trung học Tr56,57)

Phần lớn học sinh trong lớp, trong các tiết luyện nói, còn phát âm theo tiếng địa phương, sai với tiếng phổ thông, trình bày hời hợt, chiếu lệ, không gây được thiện cảm với người nghe Để giúp học sinh có kĩ năng nói tốt, thì người giáo viên bộ môn Ngữ văn phải giúp các em nắm vững yêu cầu của bài nói, phát âm chuẩn, diễn đạt đúng ý, truyền cảm, có sức hấp dẫn người nghe và mạnh dạn trước tập thể lớp, trước mọi người xung quanh và điều quan trọng hơn hết là tạo được hứng thú học tập cho tiết học

Hiện tại tổ chuyên môn cũng như mỗi cá nhân đều chưa có kinh nghiệm trong việc tạo hứng thú cho học sinh trong tiết nói- nghe, dẫn đến vẫn còn tình trạng học sinh chưa hào hứng với các tiết học này Từ đó tôi nhận thấy lí do mình chọn đề tài này là

cấp thiết Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng nói thông qua tiết nói và nghe : Suy nghĩ về vấn đề đời sống gợi ra từ tác phẩm văn học - Ngữ văn 7 ở trường THCS và THPT Nghi Sơn”.

2 NỘI DUNG BIỆN PHÁP.

2.1.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.

M.Gooc-ki từng nói: “ Văn học là nhân học”, bởi văn học luôn phản ánh hiện thực của đời sống Nhưng thực trạng chung hiện nay của các em học sinh là thờ ơ với môn Ngữ văn, hoặc học mang tính đối phó, không chuyên sâu Phần lớn học sinh

Trang 2

tiếp bởi vậy đa số các em còn mãi chạy theo xu thế của thời thượng Điều này đã tạo nên lỗ hổng rất lớn về kiến thức môn Ngữ văn, cụ thể hơn là kĩ năng nói còn rất yếu Bản thân tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn7 ( KNTT và cuộc sống) Trong môn Ngữ văn tích hợp ba phân môn Văn Tiếng Việt, Tập làm văn Nhưng riêng phân môn tập làm văn đặc biệt là dạng nghị luận một vấn đề đời sống được gợi

ra từ tác phẩm văn học là một dạng khó trong chương trình văn 7 Học sinh phải thông qua tiết luyện nói – nghe để trình bày khía cạnh của vấn đề Bởi vậy trong các tiết luyện nói, hầu như học sinh không có hứng thú, hoặc không biết bắt đầu từ đâu, xác định vấn đề trọng tâm là gì ? hay phải nói như thế nào?

Trong tiết nói – nghe, học sinh hoạt động không đồng đều, trong lớp chỉ có một

số học sinh học tốt tham gia tích cực, còn lại đa số các học sinh khác đều hoạt động chiếu lệ, đặc biệt là đối tượng học sinh trung bình và yếu đều không tham gia trong tiết luyện nói

Thực trạng này khiến bản thân tôi rất trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để định hướng cho các em phương pháp học tốt nhất thông qua tiết nói – nghe, để các em rèn luyện được kĩ năng nói đạt hiệu quả cao nhất và đồng đều nhất

Trước khi thực hiện biện pháp tôi đã tiến hành khảo sát thực tế các em với những số liệu cụ thể như sau:

*.Bảng khảo sát kết quả khi chưa áp dụng biện pháp.

Lớp , sĩ số HS có hứng thú

với tiết nói và nghe

HS ít hứng thú với tiết nói và nghe

HS không hứng thú với tiết nói và nghe

Lớp Sĩ số Số

lượng

% Số

lượng

lượng

%

Từ thực tế đó, với hi vọng góp phần giúp học sinh lớp 7C1 ở Trường THCS & THPT Nghi Sơn, năm học 2022-2023 nắm vững phương pháp học môn ngữ văn, đặc biệt là phân môn tập làm văn, với dạng văn nghị luận một vấn đề đời sống gợi ra

từ tác phẩm văn học Tôi đã tiến hành các biện pháp cụ thể như sau:

2.2 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.2.1.Biện pháp 1:Trước hết giáo viên phải nắm vững khung phân phối chương trình các tiết nói và nghe từ học kì 1 đến học kì 2 ( Trong chương trình Ngữ văn 7)

Trang 3

Qua việc nắm vững phân phối chương trình các tiết luyện nói, giáo viên có thể chủ động giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị ở nhà, để tiết luyện nói đạt kết quả cao Cụ thể:

Học kì I ( Gồm 5 tiết)

- Tiết 13: Nói và nghe ( Trao đổi một vấn đề mà em quan tâm )

- Tiết 25: Nói và nghe ( Trình bày suy nghĩ của em về một vấn đề đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học đã học)

- Tiết 43: Nói và nghe ( trình bày ý kiến về vấn đề đời sống gợi ra từ một nhân vật văn học)

- Tiết 55: Nói và nghe ( trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng)

- Tiết 67: Nói và nghe ( trình bày ý kiến về vấn đề văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại)

Học kì II ( Gồm 6 tiết)

- Tiết 84: Nói và nghe ( kể lại một truyện ngụ ngôn)

- Tiết 96: Nói và nghe ( Thảo luận về vai trò của công nghệ đối với đời sống con người)

- Tiết 114: Nói và nghe ( Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống)

- Tiết 127: Nói và nghe ( Giải thích quy tắc hoặc luật lệ trong một trò chơi hay hoạt động )

- Tiết 134: Nói và nghe ( Về đích – ngày hội đọc sách: Giới thiệu sản phẩm sáng tạo từ sách)

- Tiết 135: Nói và nghe ( Về đích – ngày hội đọc sách: Giới thiệu sản phẩm sáng tạo từ sách)

2.2.2 Biện pháp thứ 2:Hướng dẫn học sinh lập dàn ý ở nhà.

VD: Cho đề bài: Trình bày suy nghĩ về hình ảnh người lính trong văn bản

“Đồng dao mùa xuân” Của Nguyễn Khoa Điềm

Lập dàn ý

1.Mở đầu:

- Giới thiệu tên, lớp

Trang 4

- Giới thiệu vấn đề đời sống gợi ra từ tác phẩm “ Đồng dao mùa xuân” của tác giả

Nguyễn Khoa Điềm đó là suy nghĩ của em về hình ảnh người lính trong thời

chiến.

2 Nội dung chính:

- Nêu vấn đề cần nghị luận: Hình ảnh người lính trong thời chiến là một hình ảnh

đẹp, xứng đáng để thế hệ trẻ noi theo

- Giải thích :Người lính là gì? Là người phục vụ cho Tổ quốc với mục đích đem lại

hoà bình cho dân tộc

- Biểu hiện của người lính trong bài thơ đồng dao mùa xuân

+ Ra chiến trường với mục đích chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước

+ Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, còn mê thả diều, ca phê chưa uống, chưa một lần yêu

+ Họ đã hi sinh trên đường hành quân khi tuổi đời còn rất trẻ

- Chứng minh: Không chỉ người lính trong bài thơ đồng dao mùa xuân, của tác giả

Nguyễn Khoa Điềm, ngoài ra ta còn gặp người lính trong bài thơ “ Đồng chí” của Chính Hữu, Người lính trong “ Bài thơ tiểu độ xe không kính” Của Phạm Tiến Duật

Họ đều có chung tinh thần yêu Tổ quốc

- Phản đề:Trong thời bình hiện nay, một số thanh thiếu niên chưa xác định đúng mục

đích lí tưởng, ham chơi, đua đòi, trốn tránh nghĩa vụ quân sự

- Nhận thức hành động.

Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải cố gắng học tập để góp phần xây dụng quê hương đất nước, xứng đáng với công lao của thế hệ đi trước

3 Kết thúc:

- Khái quát lại ấn tượng và cảm xúc về hình ảnh người lính trong bài thơ “ Đồng dao mùa xuân”

- Phần trình bày của em đã hết, xin mời ý kiến nhận xét của các bạn và của cô giáo,

em xin chân thành cảm ơn sự lắng nghe của cô và các bạn

2.2.3 Biện pháp 3: Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh qua việc phân nhóm đối tượng học sinh:

- Với biện pháp này, Giáo viên có thể rèn cho học sinh kĩ năng nói đồng bộ qua tiết Nói và nghe, phân nhóm đối tượng cụ thể trong lớp phù hợp với nhận thức của từng học sinh, giúp các em được tham gia tích cực trong tiết luyện nói

- Mục đích cuối cùng của tiết luyện nói là giúp các em:

Trang 5

+ Trình bày được suy nghĩ vấn đề nghị luận gợi ra từ tác phẩm văn học

+ Trình bày đầy đủ nội dung, không quá dài, không quá ngắn

+ Phát âm đúng chính tả

+ Tương tác với người nghe

* Nhóm thứ nhất: Nhóm học sinh giỏi, là nhóm phải thực hiện yêu cầu cao nhất.

- Về hình thức trình bày:

+ Tốc độ nói vừa phải

+ Âm lượng vừa đủ

+ Giọng nói truyền cảm

+ Cử chỉ, dáng điệu đúng mực

+ Tương tác với người nghe

+ Khuyến khích sử dụng công nghệ thông tin để minh hoạ hình ảnh

- Về nội dung:

+ Nêu được vấn đề cần nghị luận

+ Biểu hiện

+ Chứng minh

+ Phản đề

+ Nhận thức hành động

* Nhóm thứ hai: Nhóm học sinh khá.

- Về hình thức trình bày:

+ Tốc độ nói vừa phải

+ Âm lượng vừa đủ

+ Giọng nói truyền cảm

+ Cử chỉ, dáng điệu đúng mực

+ Tương tác với người nghe

- Về nội dung:

+ Nêu được vấn đề cần nghị luận

+ Biểu hiện

+ Chứng minh

+ Phản đề

Trang 6

+ Nhận thức hành động.

* Nhóm thứ 3: Nhóm học sinh trung bình.

- Về hình thức trình bày:

+ Tốc độ nói vừa phải

+ Âm lượng vừa đủ

+ Tương tác với người nghe

- Về nội dung:

+ Nêu được vấn đề cần nghị luận

+ Biểu hiện

+ Phản đề

+ Nhận thức hành động

* Nhóm thứ 4: Nhóm học sinh yếu.

- Về hình thức trình bày:

+ Tốc độ nói vừa phải

+ Tương tác với người nghe

- Về nội dung:

+ Nêu được vấn đề cần nghị luận

+ Biểu hiện

+ Phản đề

+ Nhận thức hành động

Qua việc phân nhóm đối tượng từ trên lớp, học sinh thuộc các nhóm trên sẽ chuẩn bị kĩ dàn ý bài nói của mình ở nhà thật tốt để chuẩn bị cho tiết luyện nói và nghe

2.2.4 Biện pháp thứ 4: Nêu yêu cầu của tiết nói và nghe.

Để thành công cho tiết nói và nghe, học sinh phải đảm bảo được những yêu cầu giữa người giữa người nói và người nghe Giáo viên giúp học sinh hiểu được giữa người nói và người nghe phải có mối quan hệ chặt chẽ để bài nói được hoàn chỉnh hơn

a Đối với người nói

- Chuẩn bị kĩ dàn ý ở nhà

- Viết thành bài trình bày hoàn chỉnh

Trang 7

- Đọc lại nhiều lần cho lưu loát.

- Học cách trình bày trước gương

b Đối với người nghe.

- Sử dụng bảng kiểm theo nhóm

- Nhận xét các mặt đạt, chưa đạt, bổ sung cho bài nói

c Đối với giáo viên.

Sau khi nghe học sinh trình bày phần nói, phần nghe, Giáo viên đưa ra nhận xét và chốt ý

2.2.5 Biện pháp thứ 5: Sử dụng công nghệ thông tin vào bài nói.

- Đối với những học sinh gia đình có máy tính, giáo viên khuyến khích học sinh sử dụng công nghệ thông tin vào bài nói bằng các gửi mail cho giáo viên những nội dung cần trình bày đã được giáo viên giao về nhà

- Sử dụng những hình ảnh minh hoạ trên máy tính, Ti vi cho bài nói thêm phong phú

2.2.6 Biện pháp thứ 6: Tuyên dương, động viên, cho điểm kịp thời tới học sinh.

- Tuyên dương và cộng điểm đối với những bài nói có sử dụng công nghệ thông tin

- Tuyên dương sự tiến bộ của các nhóm ( đặc biệt là nhóm học sinh yếu, nhóm trung bình, có thể cộng thêm điểm để các em nhóm yếu có thêm hứng thú trong học tập)

2.2.7 Biện pháp thứ 7: Thiết kế giáo án minh hoạ tiết nói và nghe: Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học - Ngữ văn 7

* Ví dụ minh hoạ phần trình bày bài nói và nghe.

1 TIẾN TRÌNH BÀI NÓI:

a Mục tiêu: Biết được kĩ năng khi trình bày bài nói:

b Nội dung: Học sinh sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức đã tiến hành để trả lời câu

hỏi

c Sản phẩm học tập: Học sinh tiếp thu kiến thức và câu hỏi trả lời của học sinh.

d Tổ chức thực hiện.

* Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

- Giáo viên nêu đề bài

VD: Hình ảnh người lính trong thời chiến

qua bài thơ “ Đồng dao mùa xuân”

* Bước 2: Học sinh trao đổi, thảo luận,

II TIẾN TRÌNH BÀI NÓI.

1.Mở đầu.

- Lời chào, giới thiệu đề tài, vấn đề trình bày và tầm quan trong của vấn đề trình

Trang 8

thực hiện nhiệm vụ.

- Học sinh thực hiện nhiệm vụ

* Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và

thảo luận

* Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện

nhiệm vụ

- Học sinh có thể sử dụng công nghệ thông tin về hình ảnh người lính, vi deo

tư liệu để minh hoạ cho bài nói của mình

HÌNH ẢNH HỌC SINH SỬ DỤNG CNTT VÀO BÀI NÓI CỦA MÌNH.

2.Nội dung chính.

- Về hình thức trình bày:

+ Tốc độ nói vừa phải + Âm lượng vừa đủ + Giọng nói truyền cảm + Cử chỉ, dáng điệu đúng mực + Tương tác với người nghe + Khuyến khích sử dụng công nghệ thông tin để minh hoạ hình ảnh

- Về nội dung:

+ Nêu được vấn đề cần nghị luận

+ Biểu hiện + Chứng minh + Phản đề + Nhận thức hành động

2 SAU KHI NÓI

Trang 9

a Mục tiêu:

Học sinh biết trao đổi, nhận xét về nội dung của bài nói

b Nội dung:Học sinh sử dụng sách giáo khoa, chắt lọc kiến thức để tến hành trả lời câu hỏi

c Sản phẩm học tập

Học sinh tiếp thu kiến thức và câu trả lời của học sinh

d.Tổ chức thực hiện

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN,

HS

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

* Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

- Hướng dẫn học sinh trao đổi sau

khi nói

- HS tiếp nhận nhiệm vụ

* Bước 2: Học sinh trao đổi, thảo

luận, thực hiện nhiệm vụ

- Học sinh thực hiện nhiệm vụ

* Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt

động và thảo luận

* Bước 4: Đánh giá kết quả thực

hiện nhiệm vụ

III SAU KHI NÓI.

* Người nghe:

-Trao đổi về bài nói với tinh thần xây dựng

và tôn trọng Có thể sử dụng bằng hệ thống bảng kiểm để trao đổi một số nội dung sau:

* Người nói:

- Lắng nghe, phản hồi những ý kiến của người nghe với tinh thần cầu thị

- Giải thích thêm những chỗ người nghe chưa rõ

- tiếp thu những ý kiến đóng góp ý mà em cho là xác đáng

- Bổ sung lí lẽ, bằng chứng để bảo vệ ý kiến của mình nếu nhận thấy ý kiến đó đúng

HÌNH ẢNH MINH HOẠ CỦA NGƯỜI NÓI VÀ NGƯỜI NGHE

Trang 10

HÌNH ẢNH MINH HOẠ NGƯỜI NGHE HÌNH ẢNH MINH HOẠ PHẢN HỒI

SỬ DỤNG BẢNG KIỂM ĐỂ NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI NÓI VÀ NGƯỜI NGHE

2.3 Hiệu quả của biện pháp đối với yêu cầu nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn nhà trường tại địa phương Với việc áp dụng giải pháp “ Rèn luyện kĩ năng nói thông qua tiết Nói và nghe: Suy nghĩ về vấn đề đời sống gợi ra từ tác phẩm văn học – Ngữ văn 7 ở Trường THCS & THPT Nghi Sơn ” Tôi cảm thấy học sinh đã bỏ được rào cản rụt

rè, e thẹn, lười vận động hoặc ỷ lại Thay vào đó, đa số học sinh đều hào hứng để chuẩn bị cho tiết luyện nói và nghe Có thể nhận thấy rất rõ việc học sinh chú tâm để ghi chép đầy đủ nội dung khi giáo viên giao nhiệm vụ để chuẩn bị bài ở nhà cho tiết

nó và nghe

Đối với các tiết luyện nói và nghe, học sinh đã có sự hứng thú rõ rệt, đa số các đối tượng đều tham gia tích cực Tuy nhiên thời gian cho tiết nói và nghe chỉ trong 45 phút, vì vậy số lượng cá nhân tham gia không được nhiều mà chủ yếu là đại diện nhóm Bởi vậy giáo viên cần phải quan sát, ghi nhớ để gọi các em trình bày ở các tiết nói và nghe tiếp theo, để tất cả học sinh đều được tham gia

2.4: Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng biện pháp

*.Bảng kết quả khảo sát sau khi áp dụng biện pháp.

Lớp , sĩ số HS có hứng thú

với tiết nói và nghe

HS ít hứng thú với tiết nói và nghe

HS không hứng thú với tiết nói và nghe

Trang 11

Lớp Sĩ số Số

lượng

% Số

lượng

lượng

%

So sánh kết quả trước khi áp dụng và sau khi áp dụng biện pháp trên, tôi nhận thấy tiết nói và nghe có sự chuyển biến tích cực So sánh giữa các tiết nói và nghe thì

tỉ lệ hứng thú học tập cũng tăng lên rõ rệt cụ thể như sau:

Bảng so sánh kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp.

Lớp , sĩ số Kết quả trước khi

thực hiện giải pháp

Kết quả sau khi thực hiện giải pháp Lớp

7C1

- HS có hứng thú với tiết nói

và nghe

Sĩ số:

42

- HS ít hứng thú với tiết nói và nghe

-Học sinh không hứng thú với tiết nói và nghe

3 KẾT LUẬN

Nói tóm lại, trong việc giảng dạy môn Ngữ văn, bên cạnh việc giáo viên giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội tri thức xã hội thì giáo viên còn phải chắt lọc và cần có những kĩ năng cần thiết để tổ chức dạy ba phân môn trong môn Ngữ văn đều đạt hiệu quả cao Bởi vậy việc lựa chọn một khía cạnh nhỏ trong tiết Nói và nghe ( suy nghĩ

về vấn đề đời sống gợi ra từ tác phẩm văn học) phần nào giúp các em có sự tự tin trong giao tiếp, đáp ứng được chuẩn kĩ năng trong chương trình 2018 của Bộ giáo dục hiện nay

Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm chủ quan của cá nhân tôi Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu, Hội đồng khoa học các cấp, bạn bè đồng nghiệp, để từ đó tôi có thể rút ra nhiều kinh nghiệm cho bản thân, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn THCS

4 CAM KẾT:

Ngày đăng: 19/10/2023, 00:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp. - Báo cáo biện pháp nâng cao ý thức bvmt  chỉnh sữa
Bảng so sánh kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w