1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn rèn kĩ năng làm bài ngị luận xã hội cho học sinh lớp 9 (1) (3)

13 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Nghị luận xã hội là kiểu bài quan trọng được biên soạn và giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa từ bậc THCS đến bậc THPT, song hiện nay hầu hết các em thích làm kiểu bài

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghị luận xã hội là kiểu bài quan trọng được biên soạn và giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa từ bậc THCS đến bậc THPT, song hiện nay hầu hết các em thích làm kiểu bài nghị luận văn học vì các em được tiếp cận với hình tượng văn học, sống với những hình tượng văn học được rung cảm vì lời giảng của thầy cô nên các em rất ngán và ngại gặp những đề kiểu bài nghị luận xã hội Nhưng kiểu bài này quan trọng trong chương trình tập làm văn lớp 9 và nó lại khó hơn kiểu bài nghị luận văn học vì phạm vi của nó rất rộng, đề tài phong phú đa dạng, học sinh đứng trước kiểu bài nghị luận xã hội các em vô cùng lúng túng và khó khăn để lập được dàn ý một cách đầy đủ và chính xác

Trong những năm qua, bản thân tôi luôn được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 9, tôi luôn có ý thức trong việc giảng dạy, đặc biệt đã chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận nói chung và bài văn nghị luận xã hội nói riêng Cũng như làm thế nào để các em nắm được các bước cơ bản của từng dạng bài nghị luận trong sách giáo khoa Ngữ Văn- Tập 2- Lớp 9 Làm thế nào để các em hứng thú, thích học Văn, say mê tìm tòi hứng thú trước một đề văn, đặc biệt là văn nghị luận xã hội Vì nhiều năm qua văn nghị luận xã hội được đưa vào trong cấu trúc đề thi tuyển vào lớp 10, là câu nghị luận ngắn (câu 2) Là giáo viên trực tiếp dạy lớp 9, trực tiếp hướng dẫn học sinh ôn thi vào lớp 10, tôi vô cùng trăn trở, luôn

đi tìm tòi cách thức tháo gỡ giúp các em học sinh hiểu cách làm bài nghị luận xã hội

Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng của việc làm bài nghị luận xã hội ở trường THCS hiện nay, để tạo tiền đề cho việc học và làm văn của các em trong các bài kiểm tra và các bài thi, tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9” Nhằm trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài kiểm tra, bài thi và kết quả học tập của các em

B NỘI DUNG

I Cở sở lí luận.

` Trong đề tài này tôi đã lựa chọn nội dung nghiên cứu là “Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội lớp 9” đây là vấn đề mà ít các thầy cô đưa ra và quan tâm đúng mức, giải pháp tôi đưa ra trong sáng kiến có tính mới giúp học sinh dễ nhận biết dễ hiểu, dễ nắm được quy cách làm kiểu dạng bài nghị luận xã hội Vì thực tế phần lí thuyết ở trong sách giáo khoa còn chung chung, tôi đã hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận rõ ràng hơn, cụ thể hơn rất nhiều

Khả năng áp dụng và triển khai rộng rãi ở tất cả các nhà trường THCS, đối

tượng lớp 9, có thể áp dụng cả cho lớp 7,8 (khi ôn đội tuyển học sinh giỏi)

Trang 2

Cách thức áp dụng: trong mỗi biện pháp tôi đã trình bày rất rõ ràng cụ thể: nghị luận xã hội là gì, các dạng và yêu cầu, các bước làm bài văn nghị luận xã hội

Bởi vì như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi cấp quận, cấp thành phố hay thi Tuyển sinh lớp 10 của môn Ngữ văn những năm gần đây đều có câu yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận

xã hội ngắn khoảng 300 từ (hoặc một trang giấy thi)

Có hai dạng bài cụ thể là:

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm bài kiểm tra, thi cho có hiệu quả Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) cho bản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội

Bài văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận

Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Vì những yêu cầu trên

mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết

II Thực trạng vấn đề.

- Thực trạng chung:

Thực trạng học và làm bài văn nghị luận nghị luận xã hội đang là một vấn đề được quan tâm trong các trường Trung học cơ sở nói chung và Trường THCS Trường Thạnh nói riêng Theo thống kê và theo dõi kết quả kiểm tra, thi học kì, thi học sinh giỏi, thi Tuyển sinh lớp 10 của mấy năm gần đây thì chất lượng làm bài môn Ngữ văn của học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên phần điểm bị trừ trong bài lại rơi vào phần văn nghị luận xã hội Nguyên nhân chính là do cách diễn đạt của các em chưa được tốt Các ý còn chung chung, chưa cụ thể và rõ ràng, kiểu nghị luận này yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức thực tế thì các em lại chưa

có Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt có em còn xác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luận chủ quan hoặc tái hiện quá máy móc rập khuôn trong tài liệu, thậm chí có chỗ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhầm nghị luận về tư tưởng đạo lí sang nghị luận về một sự việc hiện tượng đời

Trang 3

sống Bên cạnh thực trạng chung đó dẫn đến chất lượng phần văn nghị luận xã hội

có nhiều bài chưa đạt yêu cầu thì còn có thực trạng riêng

- Thực trạng riêng:

+ Về giáo viên:

Mặc dù trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã nắm chắc được cấu trúc của các đề thi học sinh giỏi, thi học kì và thi Tuyển sinh vào lớp 10, một phần không thể thiếu là câu hỏi liên quan đến kiểu bài nghị luận xã hội, thế nhưng một

số giáo viên vẫn cho rằng câu hỏi chỉ chiếm tỉ lệ điểm trong bài khoảng 30% số điểm nên chưa tập trung nhiều để hướng dẫn học sinh cách làm kiểu bài nghị luận này, khiến kiến thức cơ bản học sinh nắm chưa vững Tư tưởng học sinh làm bài lại chỉ chăm chú đến phần nghị luận văn học mà không nghĩ rằng đây là phần dễ đạt điểm tối đa Hơn nữa lâu nay có khá nhiều học sinh và ngay cả thầy cô cứ nghĩ rằng văn hay là câu chữ phải “bay bỗng”, phải “lung linh”, nghĩa là dùng cho nhiều phép tu từ, nhiều từ “sang”, nhiều thuật ngữ “oách” mà quên rằng văn hay là sự chân thực, sự giản dị, tức là nói những điều mình nghĩ và nói bằng ngôn ngữ bình thường, không cao giọng, không uốn éo làm duyên

+ Về học sinh:

Trong những năm gần đây, học sinh không có hứng thú học môn Ngữ văn, nhất là ngại làm những bài văn Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian, “công thức” làm văn cho các em lại không hình thành cụ thể Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng Kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh ở trường THCS Trường Thạnh còn hạn chế nhiều nên rất hiếm có những bài nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận chưa rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luận của đề bài Ví

dụ đề yêu cầu nghị luận về tư tưởng đạo lí các em lại làm sang nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Mặt khác đối với bài nghị luận xã hội dung lượng quy định (chỉ khoảng 300 đến 400 từ hoặc một trang giấy thi) nhiều học sinh vẫn chưa căn được thời gian, cứ thế phóng bút viết nên mất nhiều thời gian mà bài lại không

cô đọng, súc tích Một điều nữa mà ta dễ dàng nhận thấy khi dạy kiểu bài này các

em đều quan niệm là bài văn “khô khan” nên bài viết chưa có sức hút, chưa lay động được tâm hồn người đọc Ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấp hẫn là ở chất lượng Mà chất lượng một bài văn phụ thuộc vào cảm hứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩ năng như: Cách lập luận, dùng từ, câu

Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy như sau: Năm học 2017-2018

Lớp Sĩ

Số HS không biết cách làm bài (1->4điểm)

Số HS biết cách làm bài ở mức trung bình-khá (5->7điểm)

Số HS làm bài tốt (8->9 điểm)

Trang 4

số SL % SL % SL %

Kết quả trên đây cho thấy nguyên nhân mấu chốt là học sinh phần nhiều chưa biết làm bài văn nghị luận tốt

Vậy nên việc nâng cao, mở rộng, rèn thêm cho học sinh kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội là rất cần thiết

III Giải pháp và biện pháp thực hiện:

1 Hướng dẫn học sinh nắm được thế nào là nghị luận xã hội:

Nghị luận xã hội thực chất là trình bày quan điểm thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó được nêu ở phần đề bài bằng hình thức bình và bàn luận mở rộng Từ đó đưa ra bài học cho bản thân, nhận thức được điều gì đó sau khi bàn luận và tự nêu được hành động hoặc đề xuất biện pháp góp phần làm cho vấn đề bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống

2 Phân biệt dạng bài nghị luận:

Khi cầm đề trên tay học sinh cần ngay lập tức xác định đó là dạng đề nào, nó

là một sự việc hiện tượng hay là tư tưởng đạo lí, nhiều khi ranh giới để xác định rất mong manh thậm chí đan hòa với nhau Để học sinh xác định được đề thuộc dạng thứ nhất hay dạng thứ hai thì cần đi vào hiểu khái niệm của từng dạng bài như sau: 2.1 Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc hiện tượng trong đời sống xã hội có ý nghĩa đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ

Ví dụ về sự việc hiện tượng đáng khen như tấm gương học sinh nghèo vượt khó hay các cuộc vận động giúp đỡ đồng bào bão lụt….Sự việc hiện tượng đáng chê, đáng suy nghĩ như: bàn về việc học tập: học tủ học vẹt hay tiêu cực trong thi

cử, vấn đề ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông…

2.2 Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống…của con người

Các vấn đề thường gặp là:

Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống…

Tâm hồn tính cách: lòng yêu nước, tính trung thực, khiêm tốn…

Quan hệ gia đình như: tình mẫu tử, tình phụ tử…

Quan hệ xã hội: tình yêu, tình bạn

Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống

Trang 5

3 Hướng dẫn xác định yêu cầu của từng kiểu bài nghị luận xã hội.

3.1 Yêu cầu về nội dung:

- Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống yêu cầu là phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại chỉ ra nguyên nhân, bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết

- Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí phải làm sáng tỏ bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu để chỉ ra chỗ đúng, chỗ sai của một vấn đề tư tưởng nào đó

3.2 Yêu cầu về hình thức:

- Bài văn nghị luận xã hội mức độ yêu cầu của đề thi có dung lượng khoảng

1 trang giấy thi

- Bố cục đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) phần thân bài được tổ chức thành một số đoạn văn

- Lập luận rõ ràng, chặt chẽ, kết hợp các dẫn chứng thuyết phục, lời văn trong sáng, diễn đạt lưu loát, trình bày sáng sủa

4 Hướng dẫn học sinh các bước làm bài văn nghị luận xã hội.

Thao tác làm bài văn nghị luận trải qua 4 bước: Tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài; đọc và sửa bài

4.1 Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý:

a/ Tìm hiểu đề:

Đây là bước cực kì quan trọng trong khi làm bài văn song thực tế học sinh thường chủ quan ở bước này Bước tìm hiểu đề nếu các em xác định tốt thì bài làm đúng hướng, đủ ý còn ngược lại nhiều em vội vàng hấp tấp chưa chú ý cẩn trọng khi tìm hiểu đề nên dẫn đến làm bài thiếu ý hoặc làm lạc đề, không đúng yêu cầu của đề bài Để khắc phục tình trạng trên tôi đã hướng dẫn học sinh tự đặt câu hỏi

và tự trả lời

- Đề thuộc dạng đề gì? ( nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống hay nghị luận về tư tưởng, đạo lí)

- Yêu cầu về nội dung của đề: nêu suy nghĩ, bày tỏ quan điểm, thái độ

- Tri thức cần có là gì? ( những hiểu biết về vấn đề nghị luận, tri thức về đời sống)

b/ Tìm ý :

Bất kì bài văn nào cũng cần tìm ra các ý chính - tìm ra hệ thống luận điểm chính, khung sườn cho bài văn Vậy làm thế nào để tìm được ý? Sau khi các em xác định được kiểu dạng bài nghị luận thì các em bám vào từ khóa để lập ý, các từ khóa của từng kiểu bài nghị luận học sinh cần bám vào đó là:

Trang 6

Kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống: giải thích(nếu cần), thực trạng; nguyên nhân; hậu quả; biện pháp

Kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí: giải thích; phân tích; bác bỏ; đánh giá

Để thực hiện bước tìm ý học sinh bắt buộc tự đặt câu hỏi và lập ý cho bài văn

Ví dụ1: Cho đề bài: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

- Tai nạn giao thông là gì?

- Thực trạng tai nạn giao thông? Diễn ra ở đâu ? Nhờ đâu mà em biết được điều đó? Dẫn chứng bằng số liệu cụ thể về số vụ việc, số người mà em biết

- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan)

- Hậu quả xấu gây ra là gi? (ảnh hưởng đến bản thân, gia đình, xã hội như thế nào?)

- Biện pháp khắc phục (với cá nhân, với cộng đồng xã hội, đề nghị với cơ quan chức năng…)

4.2 Bước 2: Lập dàn ý

Làm bài văn giống như dựng một ngôi nhà trước hết phải đủ vật liệu cần thiết, vật liệu ở đây chính là các luận điểm, luận cứ, các ý lớn, ý nhỏ, các dẫn chứng Sau khi chuẩn bị để viết bài người viết tiến hành dựng khung cho ngôi nhà hay còn gọi làm đề cương, lập dàn ý cho bài viết Đây là bước quan trọng vì không thể viết bài

mà không lập dàn ý Ngay cả những cây bút chuyên nghiệp cũng phải có đề cương trước khi viết Đành rằng phải hiểu đề cương một cách linh hoạt dàn ý có thể viết

ra giấy nháp nhưng cũng có thể là ý ở trong đầu người viết Miễn là trước khi viết

mô hình bài viết cần được hình thành với những ý và sự sắp xếp các ý để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sáng tỏ Trong nhà trường học sinh đang ở giai đoạn học tập và rèn luyện vì thế bắt buộc phải lập dàn ý ra giấy Không thể làm tắt hoặc bắt chước một số cây bút chuyên nghiệp Thực chất mục đích của lập dàn ý ra giấy

là buộc người viết phải động não suy nghĩ trước khi viết

Dàn bài của bài văn nghị luận có ba phần, nhiệm vụ của từng phần rất rõ, tuy nhiên các phần nhiều khi rất linh hoạt sau đây giáo viên cung cấp dàn ý chỉ mang tính chất gợi ý tham khảo, học sinh có thể thay đổi thêm bớt, đảo vị trí sao cho phù hợp với yêu cầu nghị luận

a/ Dàn ý bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.

Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề

Thân bài:

- Luận điểm1: Giải thích sơ lược sự việc hiện tượng (nếu cần) tuy nhiên đây là ý không bắt buộc, không phải đề văn nào cũng cần giải thích

- Luận điểm 2: Thực trạng của vấn đề nghị luận, tức là biểu hiện sự việc hiện tượng trong thực tế diễn ra như thế nào

Trang 7

- Luận điểm 3: Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là gì, trong đó cần đưa ra những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

- Luận điểm 4: Hậu quả của vấn đề nghị luận, hậu quả xấu hoặc kết quả tốt

- Luận điểm 5: Biện pháp khắc phục hậu quả ( đưa ra từng biện pháp : với cá nhân, gia đình, xã hội

Kết bài: Nêu suy nghĩ bài học và lời khuyên rút ra đối với mọi người

* Lưu ý khi làm kiểu bài này các ý có thể linh hoạt đổi vị trí cho nhau hoặc có thể gộp ý cho dễ diễn đạt (chẳng hạn có thể gộp nguyên nhân và hậu quả luôn hoặc sau khi nêu thực trạng thì nêu luôn hậu quả của nó có ảnh hưởng tích cực, tiêu cực trong đời sống) chú ý liên hệ tình hình thực tế xã hội, địa phương nơi em sinh sống

để tăng tính thuyết phục

Ví dụ : Lập dàn ý cho đề bài sau: Bàn về học tập: học vẹt, học tủ.

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập dàn ý như sau:

1 Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng

2 Thân bài:

- Giải thích thế nào là học vẹt và học tủ Bản chất của học vẹt, học tủ khác nhau như thế nào ?

- Thực trạng : học vẹt, học tủ diễn ra ở đâu ? ở những bậc học nào? ( diễn ra

ở khắp các ngôi trường trên cả nước, trừ các trường mầm non Trường em lớp em cũng có các hiện tượng này, các bạn học không đều, học vẹt học tủ nên bài kiểm tra bài thì điểm rất cao, bài lại có điểm rất thấp

- Nguyên nhân là do đâu ? Do nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan (do bản thân ý thức việc học tập không tốt, do gia đình không đốc thúc, quan tâm đến việc học hành của con cái hoặc gia đình tạo áp lực học tập dẫn đến con cái phải học tập một cách gượng ép không thoải mái, chỉ biết học thuộc cho xong, do môi trường giáo dục chưa chú ý đến lực học của học sinh thúc giục quá học sinh đành phải học vẹt, học tủ cho qua

- Hậu quả của việc học tủ, học vẹt chỉ có lợi ngay trước mắt nhưng lại rất có hại cho bản thân, gia đình, và xã hội

- Từ hậu quả nêu trên cần bày tỏ quan điểm bác bỏ, phê phán lối học này, tuy nhiên không nên xa lánh họ mà cần gần gũi, giúp đỡ để họ hiểu và thực hiện tốt hơn

- Giải pháp : Cần làm gì để ngăn chặn hiện tượng này ? Đối với bản thân, với gia đình, dòng họ với xã hội

3 Kết bài : Bài học thấm thía sâu sắc và đưa ra lời khuyên

b Dàn ý bài văn nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí.

Trang 8

b1 Mở bài:

Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

Dẫn đề (nếu có)

b2 Thân bài:

- Luận điểm1: Giải thích rõ vấn đề cần nghị luận tùy theo đề bài mà giải thích có thể giải thích một từ hoặc một cụm từ (đối với đề nghị luận về nhận định) hoặc giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng ( nếu đề yêu cầu nghị luận

về câu tục ngữ) sau đó rút ra tư tưởng chung của cả câu

- Luận điểm 2: Phân tích cũng tùy vào đề để phân tích, nếu đề nghị luận về câu tục ngữ, ca dao, một nhận định, một câu thì người viết cần bày tỏ quan điểm của mình, khẳng định phần giải thích là đúng hay sai, lấy dẫn chứng để chứng minh

Nếu là đề nghị luận mảng tâm hồn, tính cách thì phần phân tích cần chỉ rõ biểu hiện như thế nào, vì sao phải như thế Dùng dẫn chứng lí lẽ để thuyết phục

- Luận điểm 3: Bác bỏ- phê phán những biểu hiện sai lệch, bác bỏ cái xấu, cái tiêu cực và bênh vực cái tốt, cái tích cực

- Luận điểm 4: Đánh giá vấn đề tư tưởng, đạo lí, làm gì để đạt được mục tiêu

đã bàn luận phân tích ở trên

b3 Kết bài: Khái quát khẳng định lại vấn đề

Bài học sâu sắc, lời khuyên và mong ước hướng tới điều tốt đẹp

4.3 Bước 3: Hướng dẫn học sinh viết bài.

Từ dàn ý có sẵn các em có thể viết thành đoạn văn, bài văn Giáo viên hướng dẫn các em viết thành đoạn văn tiêu biểu: đoạn mở bài, thân bài, kết bài

a Hướng dẫn viết mở bài:

Học sinh rất lúng túng khó khăn khi viết mở bài vì chưa biết cách để viết tốt phần mở bài nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết mở bài hãy chú ý

Mở bài là đoạn văn khởi đầu cần giới thiệu được vấn đề nghị luận đã được đặt ra ở phần đề bài để lát nữa phần thân bài sẽ đi giải quyết Vì thế mở bài không được lấn sâu vào phần thân bài như giải thích, nhận xét, đánh giá

Ví dụ viết phần mở bài cho đề sau: Suy nghĩ về đức hi sinh

Con người Việt Nam đã từ lâu có nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp như nhân nghĩa, thủy chung, cần cù, chăm chỉ, dũng cảm…Một trong những phẩm chất tốt đẹp ấy đó là đức hi sinh Vậy chúng ta nên hiểu thế nào về đức tính này tôi và các bạn cùng bàn luận nhé.

b Hướng dẫn viết thân bài:

Trang 9

Phần thân bài bao hàm nhiều ý để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận (nhiều luận điểm) mỗi luận điểm là một đoạn văn, đoạn văn ấy phải đúng quy cách:

Về hình thức của đoạn văn viết hoa đầu đoạn, hết đoạn có dấu chấm câu, các câu văn trong đoạn văn phải sắp xếp theo trình tự hợp lí Về nội dung các câu văn trong đoạn văn đều phải tập chung làm sáng rõ chủ để của đoạn văn, đoạn văn ấy

có câu mang luận điểm, các câu khác trong đoạn làm nhiệm vụ tập trung làm sáng

tỏ cho câu mang luận điểm Tương tự như vậy các đoạn văn trong bài văn cần tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài văn Mỗi đoạn văn có một nội dung độc lập

và diễn đạt lưu loát, hành văn trong sáng có sử dụng lí lẽ dẫn chứng để chứng minh thuyết phục người đọc người nghe

Giữa các đoạn văn (các luận điểm) cần có sự liên kết, chuyển ý, chuyển đoạn nhịp nhàng bằng các phép liên kết đã học để bài văn mượt mà, tránh gò bó, máy móc, công thức

Ví dụ viết đoạn văn giải thích đức hi sinh là gì?

Trước tiên ta cần hiểu thế nào là đức hi sinh? “đức”ở đây là nói đến một đạo

đức, đức tính tốt đẹp trong cuộc sống “Hi sinh”là chịu thiệt, nhận phần thiệt thòi

về mình để cho người khác hưởng những điều tốt đẹp Hi sinh mang ý nghĩa cao

cả, cống hiến những điều mà bản thân đang có cho người khác vì mục đích cao đẹp “Đức hi sinh” là sự cống hiến, hi sinh bản thân mình vì người khác, vì nghĩa lớn Người có đức hi sinh là người biết đặt lợi ích của người khác cũng như lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của chính mình, sẵn sàng đối đầu với mọi gian khổ khó khăn vì mục đích cao cả tốt đẹp mà mình hướng tới Có thể nói sự hi sinh vì lí tưởng cao đẹp là thứ vĩ đại, thiêng liêng và đẹp đẽ nhất trên thế giới này

c Hướng dẫn viết kết bài:

Phần kết bài cũng là phần quan trọng làm không chỉ làm nhiệm vụ khép lại bài văn mà còn khẳng định lại vấn đề đã nghị luận ở trên, bày tỏ quan điểm và nêu lời khuyên bổ ích của tư tưởng, đạo lí đã nêu

4.4 Hướng dẫn học sinh đọc và sửa bài.

Thực tế học sinh không hay thực hiện bước này Đây là bước tương đối quan trọng, sau khi hoàn thành bài viết cần đọc lại để sửa lỗi như lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi đánh dấu câu phải kiểm tra soát lỗi thật chính xác rồi mới nộp bài Vậy vì sao học sinh không hay thực hiện bước này, cũng có nhiều lí do có thể do các em thiếu giờ không đủ thời gian để đọc kiểm tra lại bài, nhưng một trong những lí do khác nữa là các em chủ quan hoặc một số em lười nhác Giáo viên cần lưu ý học sinh khắc phục lỗi này và yêu cầu các em khi viết bài cần lưu ý thời gian, viết phải đúng trúng ý tránh dài dòng, lan man mà thiếu thời gian đọc và sửa lỗi

IV Kết quả đạt được :

Trên đây là những biện pháp mà bản thân tôi đã áp dụng trong năm học 2018-2019 để hướng dẫn cho học sinh làm bài nghị luận xã hội Sau khi áp dụng

đề tài này vào thực tế giảng dạy, chất lượng làm bài văn nghị luận xã hội của học

Trang 10

sinh mà lớp 9 tôi trực tiếp giảng dạy đã nâng lên rõ rệt Giờ đây các em đã làm bài đúng hướng, bám sát vào thực tế đời sống cũng biết rút ra những bài học cho bản thân mình Các em đã hiểu bản chất của kiểu văn này, không thấy khó và viết văn không bị khô khan như trước nữa Biết lấy dẫn chứng từ thực tế cuộc sống đời thường để đưa vào bài; nhiều bài đã có sức hút và lay động được người đọc Đặc biệt các em đã biết phân biệt hai kiểu bài nghị luận xã hội: nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Bên canh đó tôi cũng áp dụng vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi Lương Thế Vinh lớp 8 cũng đạt kết quả tương đối tốt

Cũng nhờ áp dụng đề tài này mà trong năm học 2018-2019 chất lượng của các bài kiểm tra, thi về dạng bài này được nâng lên rõ rệt

Kết quả cụ thể là ở các lớp như sau:

Lớp

Sĩ số

Số HS không biết cách làm bài (1->4điểm)

Số HS biết cách làm bài ở mức trung bình-khá (5->7điểm)

Số HS làm bài tốt (8-9 điểm)

Từ kết quả trên tôi thấy có sự thay đổi đáng khích lệ, học sinh tiến bộ hơn

số lượng bài làm đạt điểm trung bình trở lên từ 76,00 % năm 2017 – 2018 đến năm 2018 – 2019 tăng lên 92,68 % trong đó bài giỏi, khá tăng còn tỉ lệ bài yếu giảm rõ rệt từ 24,00 % xuống còn 7,31 % , điều này chứng tỏ:

1 Về kiến thức: Học sinh đã hiểu và nắm được cách làm một bài nghị luận

xã hội, biết trình bày quan điểm thái độ của mình về một vấn đề xã hội bằng hình thức bình và bàn luận mở rộng Nêu được bài học cho bản thân, đề xuất biện pháp

cụ thể Biết cách tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết bài văn nghị luận Đa số bài viết đã đáp ứng được yêu cầu của đề giúp các em đạt kết quả cao trong bài kiểm tra ( viết tập làm văn) và trong kì thi Tuyển vào lớp 10 đã đạt kết quả cao hơn năm trước

2 Về kĩ năng: Trong quá trình làm bài rèn luyện được kĩ năng quan sát, khả

năng diễn đạt, khả năng lập luận, rèn kĩ năng dựng đoạn, viết bài

3 Về thái độ: Sau thời gian thực hiện sáng kiến tôi thấy thái độ của các em

học sinh khác hẳn, nếu trước đây các em rất sợ làm văn, ngại làm văn, lúng túng trước một đề văn thì nay các em không còn ngại và sợ làm văn như trước, các em

tỏ ra tích cực, hăng hái chủ động hứng thú khi giáo viên giao đề Các em bắt tay vào làm văn thực hiện và tuân thủ các bước tạo lập một văn bản: tìm hiểu đề tìm ý, lập dàn ý, viết bài sau đó đọc và sửa bài trước khi nộp bài Đặc biệt nhiều em còn

Ngày đăng: 19/10/2023, 00:37

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w