1. Về kiến thức: Củng cố tri thức ngữ văn về vấn đề xã hội trong bài văn nghị luận và trả lời câu hỏi phần Đọc trong đề Luyện tập. Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. 2. Về năng lực: Năng lực chung: tự tin, sáng tạo, tư duy tốt. Năng lực đặc thù: đọc văn bản, viết bài văn nghị luận. 3. Về phẩm chất: Chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
Trang 1KHDTHT - Tuần 09, 10
Tiết: 13 – 14 – 15 - 16
LUYỆN TẬP VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VỀ
MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI
I MỤC TIÊU
1 Về kiến thức:
- Củng cố tri thức ngữ văn về vấn đề xã hội trong bài văn nghị luận và trả lời câu hỏi phần Đọc trong đề Luyện tập
- Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao
2 Về năng lực:
- Năng lực chung: tự tin, sáng tạo, tư duy tốt
- Năng lực đặc thù: đọc văn bản, viết bài văn nghị luận
3 Về phẩm chất: Chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Máy chiếu, bảng, phấn
- Tư liệu TPNT, KHDH
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động 1: Khởi động – Ôn tập
a Mục tiêu: Củng cố các kiến thức nền; giúp HS có tâm thế chủ động khi tiếp cận
kiến thức
b Nội dung: HS thực hiện theo nhóm, nhận biết, thông hiểu các vấn đề XH
c Sản phẩm: Cách nhìn nhận các vấn đề XH
d Tổ chức thực hiện:
* Chuyển giao nhiệm vụ học tập: GV yêu cầu
HS thảo luận nhóm đôi và chia sẻ nhanh các
vấn đề xã hội mà em nhận biết qua các đoạn
clip:
1
https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/benh-vo-cam-
len-loi-trong-gioi-tre-thoi-dai-so-2022111912174103.htm
2
https://tuoitre.vn/video/hinh-anh-canh-sat-
dam-mua-nhan-vien-y-te-cuu-nguoi-vu-chay-
chung-cu-o-ha-noi-lam-nhieu-nguoi-cam-dong-148632.htm
* Thực hiện nhiệm vụ HT: Các nhóm thảo
luận để hoàn thành nhiệm vụ
* Báo cáo, thảo luận: GV mời 1 – 2 nhóm
trình bày Các nhóm khác nhận xét, bổ sung
(nếu có)
1 Trong cuộc sống, bên cạnh những con người biết đồng cảm, chia sẻ, luôn nghĩ đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân Những suy nghĩ như "mặc kệ nó",
"mạnh ai nấy sống" hay "chuyện thường ngày ở huyện" đôi khi khiến đâu đó, lòng trắc ẩn trước nỗi đau người khác, sự phẫn nộ trước cái xấu trở nên hiếm hoi Căn bệnh vô cảm đang len lỏi vào một
bộ phận xã hội, đặc biệt là giới trẻ trong thời đại số
2 Hình ảnh cảnh sát dầm mưa, nhân viên y tế nỗ lực giành giật từng phút giây để cứu nạn nhân bị mắc kẹt trong đám cháy chung cư mini ở Hà Nội làm
Trang 2* Kết luận, nhận định: GV nhận xét quá trình
thảo luận các nhóm, hướng dẫn HS chốt lại
vấn đề
nhiều người xem cảm động về tình người trong lúc hoạn nạn, sự hết mình với trách nhiệm, công việc được giao
Hoạt động 2: Luyện tập viết văn bản nghị luận
a Mục tiêu: HS nắm được các bước viết bài văn NL về một vấn đề XH để vận dụng viết
b Nội dung: Các bước quan trọng khi viết bài văn nghị luận về một vấn đề XH
c Sản phẩm: Bài làm của HS
d Tổ chức thực hiện:
Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
Gọi 02 - 03 HS đọc bài báo và xác định nhiệm
vụ phải thực hiện
https://vietnamnet.vn/lan-toa-su-tu-te-2102223.html
Trong bất cứ hoàn cảnh gian khó nào, lòng
tốt và những điều tử tế luôn có thật nhiều cách
để hiện hữu xung quanh chúng ta Vậy chúng
ta có bao giờ tự hỏi, tử tế đáng giá bao nhiêu?
35 năm 1 người mẹ và gần 100 đứa con
Người phụ nữ "không chồng nhưng vẫn trăm
con" – chị Giáp Thị Sông Hương, đã vun đắp
cho mái ấm Hồng Hoa từ khi chỉ mới là một
cô gái nhặt ve chai 17 tuổi
Căn nhà đầy ắp tiếng trẻ con ríu rít Có bé bị
để lại ở bãi rác, ở cống hay ngoài đường, có
khi là ở bờ sông, bờ ruộng hay là cả trong
bệnh viện Có nhiều bé bị khuyết tật, bị ốm
nặng Yếu ớt, non nớt và chơ vơ Nhưng cũng
thật may mắn cho các em vì ở giây phút tăm
tối nhất, người mẹ mà các em cần đã xuất hiện
như một tia sáng cuối đường hầm Ở mái ấm
Hoa Hồng, các em được chăm sóc, được yêu
thương bởi những người không cùng máu
thịt
Khi phát tâm cứu vớt những đứa trẻ đầu tiên,
"nàng Âu Cơ thời hiện đại" chẳng có gì trong
tay, không có tiền cũng chẳng có ai cầu cạnh
Có người hay nghĩ rằng, mình chưa thể giúp
HS có thể viết bài nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm
Đồng thời xác định những vấn đề xã hội
mà bản thân nhận ra:
- Giá trị của lòng tử tế
- Quan niệm “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
…
Trang 3đỡ hay làm từ thiện được cho ai là vì chưa có
điều kiện Thế nhưng có lẽ lòng tốt không đợi
thời điểm ai đó có tất cả mới chớm nở Nó
luôn ở sẵn trong mỗi người, chỉ cần ta dũng
cảm, chịu mở lòng, cảm thông và lan tỏa
những gì mình có thể Điều đó thật đúng với
chị Hương, người mẹ đã cống hiến cả tuổi
xuân của đời người để làm mẹ những đứa trẻ
chẳng phải do mình sinh ra
Trong suốt 3 năm, hành trình đi tìm và lan tỏa
những điều tử tế của Báo VietNamNet đã
được thể hiện qua hàng nghìn bài viết với
những nhân vật ở khắp mọi miền, với đủ mọi
lứa tuổi, ngành nghề Điều đó cho thấy, sự tử
tế không phụ thuộc vào việc bạn là ai, bạn ở
đâu, bạn giàu hay nghèo Sự tử tế cũng không
phải là bản năng, mà là sự lựa chọn Những
nhân vật truyền cảm hứng được biết đến, được
tôn vinh đều xuất phát từ một điểm chung Họ
lựa chọn con đường đi khó khăn hơn cho bản
thân, để lan tỏa những điều tốt, những niềm
vui và hi vọng tới nhiều người Với họ, đó
cũng là cách để mang lại niềm vui và hạnh
phúc cho chính mình Và cuộc đời dẫu khó
khăn đến mấy cũng trở nên tốt đẹp hơn, nhờ
những điều tử tế, dù nhỏ bé hay lớn lao
Không phải ngẫu nhiên, những câu chuyện về
lòng tử tế bỗng được tôn vinh, lan tỏa và
truyền cảm hứng mạnh mẽ đến vậy Sức mạnh
chia sẻ từ cộng đồng đã cho thấy, giữa những
lo toan bộn bề, giữa những thông tin tiêu cực,
con người vẫn luôn hướng tới, luôn khát khao
về những điều tốt đẹp, về tình thương và sự sẻ
chia, sự hi sinh giữa người với người
Điều giá trị nhất để báo VietNamNet vẫn luôn
kiên trì, miệt mài trên hành trình lan tỏa điều
tử tế ấy, là bởi một niềm tin Niềm tin “Không
hành động tử tế nào sẽ dừng lại chỉ với chính
nó Một hành động tốt đẹp dẫn tới một hành
Trang 4động khác Những tấm gương được noi theo
Một hành động tử tế đơn giản vươn rễ về mọi
hướng, và rễ vươn lên mọc thành cây cối” Từ
một mầm cây, chúng ta sẽ có cả một rừng
xanh Và đó là nhiệm vụ của báo chí tử tế, để
không phụ lòng của những người tử tế
Một năm mới lại đến, và dù có thể sẽ có nhiều
khó khăn phía trước, nhưng những điều tử tế
hiện hữu sẽ giúp chúng ta vững tin vào tương
lai Từng nhân vật truyền cảm hứng vẫn đang
ngày đêm miệt mài đóng góp trái ngọt cho
đời Và hành trình khơi nguồn cảm hứng ở
người khác của VietNamNet sẽ vẫn được tiếp
tục nối dài với một sức sống bền bỉ Bởi sự tử
tế và thiện lương, là những điều vô giá
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận
xã hội về một vấn đề xã hội: Giá trị của sự
tử tế
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ
HS thực hiện nhiệm vụ lập dàn ý và hoàn
thành bài văn
Bước 3 Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ kết quả đã thực hiện
Bước 4 Kết luận, nhận định
GV nhận xét chung, chọn bài hay để chia sẻ
với cả lớp
Có thể theo hướng sau:
* Giải thích:
“Sự tử tế”: tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác
* Bàn luận: Trong xã hội có rất nhiều
mảnh đời chịu bất hạnh, đau thương, khổ cực, việc chúng ta yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ những người đó làm xoa dịu, giảm bớt nỗi đau của họ, xã hội cũng sẽ phát triển đẹp đẽ, vững mạnh hơn
Khi giúp đỡ người khác, ta sẽ nhận lại sự kính trọng, niềm tin yêu của người khác và
cả sự sẵn sàng giúp đỡ lại mình lúc mình gặp khó khăn
Mỗi người biết chia sẻ, yêu thương, giúp
đỡ người khác sẽ góp phần làm cho xã hội này giàu tình cảm hơn, phát triển văn minh hơn
* Chứng minh: Học sinh tự lấy dẫn
chứng về nhân vật, sự việc yêu thương, chia sẻ làm minh chứng cho bài làm văn của mình
Trang 5Lưu ý: dẫn chứng phải tiêu biểu, nổi bật, xác thực được nhiều người biết đến
* Phản biện: Trong xã hội vẫn có không
ít người có tính ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không cần suy nghĩ cho người khác, lại có những người vô cảm mặc kệ nỗi đau của đồng loại,… → những người này cần bị phê phán, chỉ trích
* Bài học nhận thức và hành động
- Sự tử tế là điều cần thiết và cần có trong
xã hội hiện nay, nhất là giới trẻ
- Biết lan tỏa, chia sẻ lối sống tử tế, tích cực, có ý nghĩa tới cộng đồng…
Hoạt động 3: Vận dụng
a Mục tiêu: HS nắm được cách viết bài văn nghị luận về một vấn đề XH
b Nội dung: Các bước quan trọng khi làm bài Đọc
c Sản phẩm: Bài làm của HS
d Tổ chức thực hiện:
GV cho HS tham khảo một số vấn đề xã hội qua các bài báo, tranh ảnh, video, v.v… Từ
đó xây dựng dàn ý và thực hành viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
+ Đề bài: Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận xã hội về Vấn đề kì thị người đồng tính trong xã hội ngày nay
+ Gợi ý:
1 Mở bài:
– Giới thiệu nội dung chính của bài luận: Vần đề kì thị người đồng tính trong xã hội ngày nay
2 Thân bài:
Đưa ra khái niệm người đồng tính: người đồng tính là những người có xu hướng bị hấp dẫn bởi những người có cùng giới tính với mình
Nguyên nhân dẫn đến tư tưởng kì thị người đồng tính:
– Do người đồng tính là bộ phận thiếu số
– Do tư tưởng còn cổ hủ, lạc hậu, mang những định kiến tiêu cực
– Do sự thiếu hiểu biết từ người kì thị: cho rằng đồng tính là trái với tự nhiên, là bất bình thường
– Thiếu sự đồng cảm, yêu thương giữa con người với con người
Biểu hiện của tư tưởng kì thị người đồng tính:
– Có lời lẽ không đúng chuẩn mực, xúc phạm người đồng tính
– Chửi bới người đồng tính
– Bịa đặt, phát ngôn sai sự thật về những người đồng tính
– Cư xử bất lịch sự, thường xuyên đánh giá xấu về những người đồng tính
Trang 6Tác hại của tư tưởng kì thị người đồng tính:
– Tình cảm giữa người với người xa cách, thiếu sự gắn bó
– Những người bị kì thị sẽ trở nên mặc cảm
– Những người đồng tính bị kì thị nặng hơn thậm chí có thể tổn thương về tâm lí, trầm cảm
– Nảy sinh những mâu thuẫn trong xã hội
Lợi ích khi từ bỏ tư tưởng kì thị người đồng tính:
– Tạo điều kiện để những người đồng tính được hòa nhập vào cuộc sống
– Giúp những người đồng tính có cơ hội và điều kiện phát triển
– Từ đó xây dựng được một cộng đồng, một xã hội văn minh, tiến bộ
Giải pháp để xóa bỏ tư tưởng kì thị người đồng tính:
– Nâng cao nhận thức, hiểu biết hơn về với đối với mọi người
– Khẳng định đồng tính không phải là bệnh
– Giáo dục, tuyên truyền giúp những người kì thị biết và hiểu được lợi ích khi không còn
tư tưởng kì thị người đồng tính
– Mỗi người cần có cái nhìn bao dung, đồng cảm hơn đối với những người đồng tính
3 Kết bài:
Khẳng định lại rằng kỳ thị đồng tính là điều không nên xảy ra trong xã hội hiện đại; cần phải bỏ tư tưởng kì thị người đồng tính để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, tôn trong giá trị và quyền sống của mỗi con người
- HS làm ở nhà: tìm đọc thêm nhiều bài viết khác, video clip, bài hát, tranh ảnh… thể hiện vấn đề XH
- Vào lớp: trao đổi với các bạn và có thể nhờ GV góp ý, chỉnh sửa
* RÚT KINH NGHIỆM:
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7KHDTHT - Tuần 11
Tiết: 17 - 18
LUYỆN TẬP VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT BÀI THƠ
I MỤC TIÊU
1 Về kiến thức:
- Củng cố tri thức ngữ văn về phân tích, đánh giá một bài thơ trong bài văn nghị luận
- Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao
2 Về năng lực:
- Năng lực chung: hợp tác, tự tin, sáng tạo, tư duy tốt
- Năng lực đặc thù: đọc văn bản, viết bài văn nghị luận
3 Về phẩm chất: Chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Máy chiếu, bảng, phấn
- Tư liệu TPNT, KHDH
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động 1: Khởi động – Ôn tập
a Mục tiêu: Củng cố các kiến thức nền; giúp HS có tâm thế chủ động khi tiếp cận
kiến thức
b Nội dung: HS thực hiện theo nhóm, nhận biết, thông hiểu các vấn đề khi phân
tích, đánh giá 1 bài thơ
c Sản phẩm: Cách nhìn nhận cách tiếp cận, phân tích đánh giá 1 bài thơ
d Tổ chức thực hiện:
* Chuyển giao nhiệm vụ học tập: GV yêu cầu
HS thảo luận nhóm đôi và chia sẻ nhanh cảm
nghĩ, tên tác giả qua các áng thơ trữ tình bất
hủ về tình yêu trong thi ca Việt Nam:
1 Nằm đêm anh cứ thương em (trích)
Nằm đêm anh cứ thương em
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm
Thế này cho hết trăm năm
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em
2. Em Lấy Chồng (trích)
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ
Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng
Ngồi lên để thả cái hồn thơ
Tình yêu là chủ đề muôn thuở trong thi
ca và chúng là một phần không thể thiếu tạo nên sắc màu của phong trào thơ mới
Việt Nam Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh là những
nhà thơ nổi bậc viết về tình yêu
Trang 83 Ghen (trích)
Cô nhân tình bé của tôi ơi!
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
4 Tự Hát (trích)
Chả dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay
* Thực hiện nhiệm vụ HT: Các nhóm thảo
luận để hoàn thành nhiệm vụ
* Báo cáo, thảo luận: GV mời 1 – 2 nhóm
trình bày Các nhóm khác nhận xét, bổ sung
(nếu có)
* Kết luận, nhận định: GV nhận xét quá trình
thảo luận các nhóm, hướng dẫn HS chốt lại
vấn đề
Hoạt động 2: Luyện tập viết văn bản nghị luận
a Mục tiêu: HS nắm được các bước viết bài văn NL về một bài thơ
b Nội dung: Các bước quan trọng khi viết bài văn nghị luận về một bài thơ
c Sản phẩm: Bài làm của HS
d Tổ chức thực hiện:
Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
Gọi 01 - 02 HS đọc bài và xác định nhiệm vụ
phải thực hiện:
Có một nghề như thế - Đinh Văn Nhã *
Có một nghề bụi phấn bám đầy tay
Người ta bảo đó là nghề trong sạch nhất
Có một nghề không trồng cây vào đất
Mà mang lại cho Đời đầy “trái ngọt hoa
tươi”!
Có một nghề rèn luyện cả đời người
Để mang lại sự tốt tươi cho thiên hạ
Có một nghề thật đớn đau nghiệt ngã
Để mang tặng cho Đời những Tài tử Giai
nhân
Lặn lội cả đời nhả kén tơ ươm
Cho loài Người được khoác lụa vàng óng ả!
Bài phân tích của HS
Gợi ý:
1 Mở bài: Giới thiệu TP, TG, VĐNL
2 Thân bài:
- Chủ đề: Nghề giáo và nỗi lòng của người làm nghề giáo dục
- Phân tích, đánh giá:
+ Bốn câu thơ đầu: Giá trị, phẩm chất của nghề giáo và sự trân trọng sứ mệnh cao cả thiêng liêng của nghề giáo
+ Bốn câu sau: Sự cống hiến và những những hy sinh thầm lặng của nghề giáo + Đặc sắc nghệ thuật: Lối thơ tự do hiện đại mà thi vị, tình cảm, biện pháp điệp cấu trúc, ẩn dụ,…; cách gieo vần chân, vần lưng; giọng da diết, thiết tha
Trang 9Có một nghề vượt bao khó khăn cao cả
Để rèn luyện cho Đời những nguồn lực vô
biên
Có một nghề luôn đào tạo những “Tài,
Hiền”
Cho đất nước được bình yên thịnh vượng!
Có một nghề luôn tạo niềm vui sướng
Cho bao người đạt sự nghiệp thăng hoa
Có một nghề từ sáng đến chiều tà
Dạy dỗ học trò miệt mài không ngơi nghỉ
Có một nghề ngay từ trong suy nghĩ
Nhận trách nhiệm với Đời,
Làm Thầy của cả những bậc Vĩ nhân!
Có một nghề cũng có lúc quên thân
Mang con chữ gieo vần nơi heo hút
Có một nghề bỏ tiền lương mua giấy bút
Dạy các em thơ xứ Mèo Vạc vùng cao
Xua nắng Hè Thu, cõng gió Đông vào
Thổi mát rượi những ngày Hè oi bức!
Có một nghề cứ mỗi khi thức giấc
Đã nghĩ nặng tình về thế hệ mai sau
Nguyên khí Quốc Gia sẽ trôi dạt về đâu?
Khi Hiền Tài không được nuôi trồng chăm
bón!
Ôi Trời Đất giao cho ngành ta trọng trách
lớn
Nghiệp mênh mang mà chức sắc lại cỏn con!
Ta luôn ước mơ cho Đất nước được vuông
tròn
Thoát địch họa và tai ương rình rập
Phải gắng xây một lâu đài vững chắc
Cho Tổ Quốc được yên vui, Thế giới được
thái bình
Cho Quê hương ta trong đó có mình
Được hưởng trọn quang vinh ấm no hạnh
phúc!
Nghề Nhà Giáo được vinh danh tiến bước
Cùng mọi nghề xây mực thước cho đời
Cho Thiên hạ mãi mãi xanh tươi
Cho cuộc sống được đổi đời oanh liệt
Cho thế gian ai ai cũng nhận biết
Nghề Giáo là Thầy giúp đất nước được
thăng hoa!
3 Kết bài: Đánh giá lại giá trị của đoạn
thơ + Suy nghĩ, cảm nhận, tác động/bài học mà bản thân rút ra
Trang 10* Tác giả bài thơ chính là Giáo sư – Viện sĩ,
TSKH, Nhà giáo Ưu tú Đinh Văn Nhã - một nhà
khoa học lớn có ảnh hưởng không chỉ trong nước
mà với quốc tế với nhiều giải thưởng, nhiều công
trình khoa học được vinh danh Ông cũng là người
rất tâm huyết, đóng góp nhiều cho sự nghiệp giáo
dục và viết văn, làm thơ Bài thơ Có một nghề như
thế được Giáo sư Đinh Văn Nhã sáng tác vào ngày
6/1/2017, nhằm vinh danh những người làm nghề
giáo – những người thầy, người cô không ngại
khó khăn, vất vả vẫn miệt mài sự nghiệp “trồng
người”
xã hội phân tích, đánh giá đặc sắc nghệ thuật
của 8 câu thơ đầu tiên trong bài thơ trên
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ
HS thực hiện nhiệm vụ lập dàn ý và hoàn
thành bài văn
Bước 3 Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ kết quả đã thực hiện
Bước 4 Kết luận, nhận định
GV nhận xét chung, chọn bài hay để chia sẻ
với cả lớp
Hoạt động 3: Vận dụng
a Mục tiêu: HS nắm được cách viết bài văn nghị luận về một bài thơ
b Nội dung: Các bước quan trọng khi làm bài Đọc
c Sản phẩm: Bài làm của HS
d Tổ chức thực hiện:
- HS làm ở nhà: tìm đọc thêm nhiều bài thơ khác
- Vào lớp: trao đổi với các bạn và có thể nhờ GV góp ý, chỉnh sửa
* RÚT KINH NGHIỆM:
………
………
………
………
………
………
………