1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang,tỉnh hải dương

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang, tỉnh hải dương
Tác giả Bùi Văn Thịnh
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 577,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dự án phát triển giáo dục, những chương trình bồi dưỡng giáo viên của ngành giáo dục từ cấp bộ, tỉnh đến cấp huyện đã có rất nhiều nỗ lực trong lĩnh vực đổi mới PPDH theo hướng phát

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-*** -

Bùi Văn Thịnh

QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN NINH GIANG,

TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Mã số: 60.14.05

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cho đến nay, tất cả các quốc gia trên thế giới, dù ở mức độ khác nhau

đều nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của Giáo dục và Đào tạo đối với các lĩnh vực của xã hội và sự phát triển của đất nước

Ở nước ta, ngay từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng, quan tâm đến vị trí và tầm quan trọng của sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo với mức độ nâng cao dần qua từng giai đoạn phù hợp với điều kiện, yêu cầu của đất nước và tình hình thế giới, nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ Quốc Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 2 khoá VIII khẳng định:“Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”;

“GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển KT -XH, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Do đó yêu cầu đặt ra cho Giáo dục Việt Nam phải từng bước đổi mới theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, của sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển con người, phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay và giai đoạn tiếp theo

Để thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục trong thời kỳ mới, chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đã chỉ rõ phải tiến hành đồng bộ các giải pháp đổi mới để phát triển giáo dục: Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo; đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá, đổi mới công tác quản lý giáo dục

Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhiều thay đổi tiến bộ trong quản lý giáo dục nói chung, trong đó có quản lý đổi mới PPDH từ tầm vĩ mô đến cấp trường Những năm vừa qua do áp dụng chương trình phổ thông mới ở các cấp học nên đổi mới PPDH trở thành vấn đề cấp thiết, cơ bản và then chốt của đổi mới

Trang 3

giáo dục Các dự án phát triển giáo dục, những chương trình bồi dưỡng giáo viên của ngành giáo dục từ cấp bộ, tỉnh đến cấp huyện đã có rất nhiều nỗ lực trong lĩnh vực đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của người học, xây dựng môi trường học tập thân thiện và nhân văn, phát huy tính chủ động, sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sống, kỹ năng hợp tác của người học

Trong những năm qua, ngành GD-ĐT đã đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước.Tuy nhiên, những chuyển biến tích cực về đổi mới PPDH trong các nhà trường vẫn còn chậm, chưa đáp ứng tốt yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là một phần thuộc về năng lực, trình độ và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm về đổi mới PPDH; Phần khác do những hạn chế về cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH Một phần nguyên nhân khác là do công tác chỉ đạo và quản lý chuyên môn tại cấp trường chi phối và quyết định rất nhiều Các lý thuyết, cách tiếp cận, quan điểm hay mô hình PPDH chưa thực sự vào được nhà trường trong các hoạt động dạy và học tại các trường có phần quan trọng

do công tác chỉ đạo và quản lý chuyên môn của lãnh đạo và cán bộ quản lý nhà trường chưa có hiệu quả cao, chưa đủ hiệu lực tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và thực hiện đổi mới PPDH

Những khó khăn trong đổi mới PPDH ở TTGDTX nói chung trên cả nước và nói riêng ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương cũng không là ngoại

lệ, tức là chậm đổi mới và đôi khi còn thiếu phương hướng cụ thể.Trong quá trình đổi mới PPDH có thể thấy rõ sự lúng túng của cán bộ quản lý, nhận thức

về đổi mới giáo dục và đổi mới PPDH chưa thực sự sâu sắc, tư tưởng ngại đổi mới và kỹ năng sư phạm của giáo viên chưa phù hợp, cũng như nhiều bất cập khác về tổ chức dạy học, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, kiểm tra và đánh giá Vẫn còn xảy ra những biểu hiện dạy học thụ động một chiều, tiết

Trang 4

học nặng nề, học sinh không chủ động học tập mà có xu hướng đối phó, học tủ

Trước tình hình đó cho thấy vấn đề cấp thiết và cấp bách trong biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở cấp trường trong hoạt động quản lý trường học Nếu quản lý chuyên môn ở trường nói chung và quản lý quá trình đổi mới PPDH nói riêng có hiệu quả hơn thì chúng ta mới có thể đổi mới được PPDH, tạo ra được sự thay đổi căn bản trong hoạt động dạy học ở TTGDTX cấp huyện Vấn đề này ở nước ta còn ít được nghiên cứu, mặc dù có khá nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về đổi mới quản lý hoạt động dạy học, đổi mới quản lý nhân sự, phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới công tác kiểm tra đánh giá , chưa có công trình nghiên cứu quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Với những lý do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý quá

trình đổi mới PPDH ở TTGDTX huyện Ninh Giang,tỉnh Hải Dương”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý dạy học ở TTGDTX huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương, đề xuất biện pháp quản lý đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở TTGDTX của huyện

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lí hoạt động dạy học ở TTGDTX huyện

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở TTGDTX huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

4 Giả thuyết khoa học :

Việc đổi mới PPDH ở TTGDTX huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

đã được quan tâm chỉ đạo tích cực song quá trình chỉ đạo, quản lý và thực hiện đổi mới PPDH còn nhiều lúng túng, hình thức, chưa đồng bộ do đó chưa thật sự phát huy được tính tích cực chủ động học tập của học sinh và

Trang 5

nâng cao được chất lượng dạy học, trong đó có nguyên nhân từ phía quản lý Nếu đề xuất và triển khai các biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học ở TTGDTX huyện Ninh Giang, khắc phục những bất cập trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học của trung tâm,

đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở TTGDTX

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới PPDH và các biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Lí giải nguyên nhân thực trạng

5.3 Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lí đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học của TTGDTX Ninh Giang,tỉnh Hải Dương

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở các lớp trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên tại TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu từ góc độ phân tích lịch sử

- Phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu, hệ thống hoá các tài liệu… để làm rõ cơ sở lí luận của việc đổi mới PPDH và quản lí đổi mới PPDH ở các TTGDTX

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng phiếu hỏi:Thu thập thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lý

và đội ngũ giáo viên của trung tâm GDTX Ninh Giang về thực trạng các biện pháp quản lý đổi mớiĐPPH Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá các giải pháp được đề xuất

Trang 6

- Phương pháp quan sát: Thu thập thông tin về thực trạng hoạt động đổi mới PPDH và thực trạng quản lý đổi mới PPDH tại TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm quản lý đổi mới PPDH ở TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu luận văn chúng tôi thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đề xuất các phương pháp được xử dụng trong quá trình xử lý thông tin, xử lý các kết quả điều tra,kết quả khảo nghiệm

- Phương pháp khảo nghiệm: lấy ý kiến đánh giá của CBQL, giáo viên

về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp được đưa ra trong luận văn 7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng các phương pháp toán thống kê để:

- Phân tích xử lý các số liệu của đề tài và đánh giá kết quả nghiên cứu

- Trình bày các sơ đồ, bảng thống kê

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX cấp huyện

Chương 2 Thực trạng PPDH và quản lý đổi mới PPDH ở TTGDTX huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Chương 3 Một số biện pháp quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX

huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TTGDTX CẤP HUYỆN

1.1 Vài nét lịch sử về nghiên cứu vấn đề

Phương pháp dạy học là một thành tố trong quá trình dạy học, PPDH vừa

phải chịu sự chi phối của việc đổi mới mục tiêu và nội dung chương trình, đồng thời nếu cho rằng nó là “ một phương tiện” để cùng với các điều kiện giáo dục khác chuyển tải nội dung chương giáo dục tới người học thì việc đổi mới PPDH chính là “làm đổi mới phương tiện” làm cho “phương tiện hiện đại hơn, tiên tiến hơn” để chuyển tải tốt hơn nội dung chương trình dạy học, nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra Mặt khác đổi mới PPDH lại là động lực chính thúc đẩy các hoạt động dạy và học đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy học từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Do đó đổi mới PPDH là một trong những vấn đề được quan tâm trú trọng nhất trong quá trình đổi mới giáo dục.Việc quản lý đổi mới PPDH giữ vai trò then chốt để quá trình đổi mới PPDH trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, trong các TTGDTX cấp huyện nói riêng đạt được những kết quả mong muốn

Quản lý hoạt động dạy học, trong đó quản lý quá trình đổi mới PPDH ở trường học là nhiệm vụ trọng tâm của nhà quản lý các cơ sở giáo dục, đồng thời cũng là nội dung quan trọng nhất trong công tác quản lý trường học Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay quản lý quá trình đổi mới PPDH giữ vai trò then chốt trong công tác quản lý trường học Do đó đề tài này được nhiều nhà khoa học giáo dục, các nhà quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu và đã đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình giảng dạy ở các trường đại học, các luận văn chuyên ngành QLGD Ngoài các tài liệu, giáo trình đào tạo bồi dưỡng kiến thức: Quản lý chỉ đạo công tác chuyên môn trong nhà trường có đề cập đến việc chỉ đạo việc đổi mới PPDH; các bài báo, các bài tham luận tại các hội thảo về đổi mới PPDH và chỉ đạo

Trang 8

đổi mới PPDH trong nhà trường trung học còn có nhiều luận án, luận văn nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, những luận án, luận văn nghiên cứu về quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX chưa nhiều; cách tiếp cận nghiên cứu và giải quyết vấn đề cũng tương đối khác nhau Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc tìm ra các biện pháp quản lý quá trình đổi mới PPDH ở các TTGDTX thuộc tỉnh Hải Dương nói chung, huyện Ninh Giang nói riêng với những nét đặc trưng riêng: về địa lý, về tình hình kinh tế - xã hội, về truyền thống văn hoá, về truyền thống hiếu học, về điều kiện phát triển giáo dục, về thực tiễn đổi mới giáo dục và đổi mới PPDH do vậy việc nghiên cứu nhằm đề xuất những biện pháp quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương là một yêu cầu cần thiết hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục của TT của huyện Chính vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu

1.2 Quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên

1.2.1 Trung tâm giáo dục thường xuyên

1.2.1.1 Sự ra đời và phát triển của các TTGDTX

Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, nằm trong tổng thể những khó khăn chung về KT – XH, ngành học BTVH phải đứng trước những khó khăn thử thách, cần phải có những chủ trương và biện pháp lớn nhằm khắc phục vượt qua những khó khăn ,thách thức để duy trì, củng cố và phát triển ngành học Đặc biệt ở thời điểm chúng ta xoá bỏ nền kinh tế quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong hàng loạt vấn đề, nổi cộm lên là sự giảm sút nhanh về số lượng người học và sự thấp kém đáng

lo ngại về chất lượng Hàng loạt các trường BTVH tập trung, trường phổ thông lao động của Tỉnh, huyện, trường BTVH tại chức bị tan rã vì không có người học, đặc biệt khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Điều đó không

có nghĩa là GDBT đó hết chức năng, vai trò và nhiệm vụ giáo dục mà hệ thống giáo dục này bắt đầu nảy sinh một loạt vấn đề, những mâu thuẫn bên

Trang 9

trong cũng như bên ngoài cần phải được giải quyết, nổi bật là nhu cầu người học cần phải thay đổi nội dung, chương trình dạy học đơn điệu trước đó Trong những năm đất nước còn chiến tranh và sau hoà bình còn phải hàn gắn vết thương chiến tranh, nhiệm vụ chính ngành học là nhanh chóng cung cấp cho cán bộ, thanh niên những tri thức khoa học cần thiết, nội dung cô đọng sao cho trong một thời gian ngắn tiếp thu được vốn tri thức nhất định, hoàn thành chương trình để đảm nhiệm một công việc, một vị trí nào đó trong các tổ chức hoặc tiếp tục học lên cao Những người không có mục đích đào tạo cán bộ thì đi học bổ túc để nhận bằng cấp để được nâng lương, để được vào biên chế Vì vậy, đối tượng học BTVH ngày càng giảm đi, thậm chí có năm trường BTVH không có học sinh, các giáo viên chỉ làm công tác phong trào ở xã phường

Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì nhu cầu đầu tiên của mỗi người là kiếm sống, là nâng cao đời sống tối thiểu Do đó, việc học tập của họ

là để có trình độ, có khả năng cải thiện công việc và nâng cao mức sống của mỗi gia đình Mục đích học tập lúc này khác hẳn trước đây, có nhiều mục đích khác nhau:

+ Những người mới biết chữ, muốn có cơ hội học tập tiếp tục để được cung cấp các kiến thức kỹ năng hành động cần thiết cho cuộc sống cá nhân và gia đình

+ Những người không có điều kiện học các chương trình phổ thông chính qui, muốn có cơ hội học tập để đạt được trình độ tương đương nào đó + Những người chưa có nghề chưa có việc làm, muốn học nghề một cách nhanh chóng với các chi phí ít nhất để tìm việc làm

+ Những người đã có trong tay một nghề muốn được tiếp tục bồi dưỡng nâng cao hoặc đào tạo lại, học thêm mới được tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn

Trang 10

+ Những người đã có việc làm ổn định, những người lớn tuổi cũng muốn được cung cấp những kiến thức, kỹ năng theo sở thích để nâng cao chất lượng cuộc sống

Để đáp ứng những nhu cầu trên, ngành GDBT bắt buộc thay đổi mục đích, nội dung chương trình GD&ĐT, phát triển thành ngành GDTX Đi theo hướng này, hệ thống trường lớp của GDBT trước đây phải được sắp xếp lại

và phát triển thành các TTGDTX

Trong xu thế chung đó, nền giáo dục quốc dân cũng phải đổi mới cho phù hợp với sự phát triển KT – XH Để tồn tại, nội dung hoạt động của các loại trường này phải chuyển đổi vừa dạy BTVH theo cấp lớp vừa làm các nhiệm

vụ khác như dạy các chuyên đề khoa học cho người lao động, dạy nghề phổ thông, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, nghĩa là bắt đầu hình thành một loại trường mới - trường đa năng và dần dần từ đó loại trường này chuyển thành các Trung tâm GDTX

Quá trình đó được tiến hành theo sơ đồ sau:

Từ khi ra đời đến nay, mô hình TTGDTX ngày càng tỏ ra phù hợp với yêu cầu phát triển KT – XH và trở thành một loại hình cơ sở giáo dục chủ yếu của giáo dục không chính quy và đó được khẳng định trong luật Giáo dục

Hệ thống GDTX được xác định là hệ thống giáo dục nhằm tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời Nó tồn tại bên cạnh hệ thống trường lớp chính quy mà chủ yếu dành cho thanh thiếu niên ở độ tuổi nhất định, học tập trung, trong một thời gian nhất định Trong hệ thống GDTX, vấn đề lứa tuổi, thời gian học…không được đặt ra Hình thức học phong phú, đa dạng…Mục đích cơ bản của nó là tổ chức tốt việc học tập suốt đời, cho mọi người nhằm tiến tới một “ xã hội học tập”

TRƯỜNG ĐƠN

CHỨC NĂNG

TRUNG TÂM GDTX TRƯỜNG ĐA

CHỨC NĂNG

Trang 11

Đối tượng theo học GDTX phần lớn là người lớn tuổi đã đi làm; những thanh thiếu niên không có điều kiện học tập ở các nhà trường chính quy

Ngày 7 tháng 11 năm 1992, quy chế về tổ chức và hoạt động của TTGDTX được ban hành theo Quyết định số 2463/QĐ khẳng định những bước đi ban đầu đúng đắn và hướng phát triển của TTGDTX

Trước tình hình phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống các TTGDTX, ngày 20 tháng 5 năm 1997, Bộ Giáo dục Đào tạo đã ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của TTGDTX theo quyết định số 1660/QĐ - GD &

ĐT thay thế quy chế trước đó và kèm theo thông tư hướng dẫn thực hiện đã đánh dấu bước phát triển mới về mặt pháp lý và nhận các cấp quản lý giáo dục Điều quan trọng nhất của bản quy chế này là đã xác định được ví trí tương đương của TTGDTX với các trường trung học phổ thông, trong đó 3 yếu tố quan trọng:

- Về tài chính: TTGDTX được xác định là đơn vị dự toán và kế toán hành chính sự nghiệp cấp 3 như trường THPT

- Về biên chế nhân sự: TTGDTX do UBND tỉnh ra quyết định thành lập

và do Sở GD & ĐT quản lý nhân sự như các trường THPT

- Về chuyên môn: Do sở GD- ĐT trực tiếp chỉ đạo như các trường THPT Việc xác định vị trí tương đương đó chưa phải là phù hợp với các địa phương Tuy nhiên về cơ bản đã tháo gỡ những vướng mắc chủ yếu ở cơ sở

và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các TTGDTX

Để phát triển GDTX đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngày 25 tháng 9 năm

2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của TTGDTX theo quyết định số 43/2000 QĐ - BGD & ĐT thay thế quy chế trước đó đã nâng lên một bước phát triển mới về nhận thức của các cấp quản lý giáo dục Ngày 02/01/2007 Bộ GD &ĐT ra Quyết định số 01/2007/QĐ BGD&ĐT ban hành quy chế và hoạt động của TTGDTX thay thế các quy chế trước đây

Trang 12

Ngoài những điều qui định tại quyết định số 1660/QĐ được ban hành ngày 20 tháng 5 năm 1997, quyết định số 43/ 2000 QĐ - BGD & ĐT, ở quy chế 01/2007 /QĐ BGD &ĐT quy định về vị trí, tài chính như trường THPT thì trong bản quy chế mới này đã có những điểm mới và quan trọng như quy định về kiểm tra, đánh giá, xếp loại học tập của học viên Về nhiệm vụ và quyền lợi của giáo viên được quy định như giáo viên dạy ở các trường phổ thông cùng cấp Đặc biệt là cơ sở vật chất của TTGDTX phải có đủ phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành lao động sản xuất đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của giáo viên và yêu cầu học tập của học viên

Sự ra đời của TTGDTX là một tất yếu khách quan của xã hội, là sự đòi hỏi của sự phát triển KT – XH đối với giáo dục

- Hệ thống GDTX góp phần phát triển nguồn tài nguyên con người (nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài) phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 13

- Bổ sung, đem đến cho mọi người học các chuyên đề cập nhật hóa và

kỹ năng giúp học đuổi kịp những thành tựu mới trong quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tế nâng cao hơn chất lượng cuộc sống

- Hoàn chỉnh, tổ chức các chuyên đề giáo dục đào tạo rộng rãi hơn và phong phú hơn với khung nội dung giáo dục đào tạo trong trường chính qui

để học viên có thể lựa chọn theo sở thích, nhu cầu, khả năng và điều kiện của mình nhằm tự hoàn thiện quá trình phát triển nhân cách và năng lực cá nhân

* Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động:

- Đại chúng đáp ứng nhu cầu của mọi người, dành ưu tiên cho các đối tượng có khó khăn, quan tâm đến những người có vai trò tích cực trong sản xuất, lĩnh vực hoạt động xã hội

- Thiết thực, chú trọng việc cung ứng các kiến thức và kỹ năng dùng ngay trong cuộc sống

Trang 14

- Đa dạng, tổ chức nhiều loại hình học tập, các hình thức học tập ấy cung cấp nội dung học tập theo nhiều trình độ( từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp)

- Linh hoạt, phải được xây dựng theo một mô thức có khả năng thường xuyên tự điều chỉnh để thích nghi với những thay đổi liên tục của xã hội đồng thời tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ may lựa chọn chương trình học, nội dung học tập

* Nhiệm vụ cụ thể của TTGDTX:

- Hướng dẫn cách học

- Cung ứng các tài liệu học tập

- Hợp đồng với các trường hoặc cá nhân để tổ chức khóa học, lớp học

- Làm đầu mối liên kết các chương trình giáo dục và đào tạo ở địa phương

- TTGDTX cấp Huyện có thêm các vệ tinh đặt tại các cơ sở để phục vụ theo địa bàn dân cư

- Về mặt nhân sự, TTGDTX cấp Huyện không thể và không cần có một biên chế lớn

* Về tài chính: Nguồn kinh phí chính bao gồm ngân sách Nhà nước cấp,

các khoản đóng góp, học phí, lệ phí của học viên

1.2.1.3 TTGDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân

* Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của GDTX

- Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 thành công,Chủ Tịch Hồ Chí Minh

đã chỉ ra 3 loại giặc mà chúng ta phải chống, đó là: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Chỉ sau 6 ngày từ khi bản tuyên ngôn độc lập ra đời, Người đã ký sắc lệnh thành lập nha bình dân học vụ để lo chống giặc dốt cho đồng bào ta Bước đầu là xoá mù chữ, tiếp theo là công tác bổ túc văn hoá cho đảng viên, cán bộ, công nhân viên và người lớn nói chung Điều đó cho thấy rõ Đảng và Bác Hồ đã đánh giá rất cao vị trí, vai trò của văn hoá nói chung và Giáo dục

Trang 15

nói riêng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tri thức phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

- Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta hết sức coi trọng ngành học GDTX, chỉ thị 115 của Ban bí thư TW Đảng khóa V, chủ trương phổ cập cấp II cho cán bộ và nhanh chóng đạt trình độ cấp III cho một bộ phận được quan tâm trong chỉ đạo thực hiện và được các địa phương hưởng ứng khá sôi nổi với nhiều hình thức, nội dung phù hợp với từng loại đối tượng ( cán bộ trẻ, cán bộ đứng tuổi) và vị trí, hoàn cảnh công tác của họ Nghị quyết II của Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII lại khẳng định:“ Mở rộng các hình thức học thường xuyên, đặc biệt là hình thức học tập từ xa Quan tâm đào tạo lại cán bộ quản lý, kỹ thuật nghiệp vụ và công nhân các doanh nghiệp có hình thức trường lớp thích hợp nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công, nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách ” [29]

* Vai trò của GDTX trong hệ thống quốc dân

- GDTX là một hệ thống con trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTX là sự bổ sung về loại hình giáo dục để bên cạnh những qui trình đào tạo có hệ thống chặt chẽ còn có những hình thức đào tạo linh hoạt đáp ứng kịp thời những thay đổi thường xuyên trong qua trình phát triển

- GDTX có thể có những cơ sở GDTX chuyên trách đồng thời cũng

có những cơ sở chính qui kiêm nhiệm chức năng không chính qui hoặc hợp tác, liên kết chặt chẽ với cơ sở giáo dục không chính qui

* Cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân

Bao gồm 5 bậc giáo dục với các loại hình trường, lớp công lập, bán công, dân lập, tư thục dành cho các đối tượng phổ biến và các đối tượng đặc biệt

- Giáo dục Mầm non: Nhà trẻ, mẫu giáo

- Giáo dục phổ thông gồm: Tiểu học; THCS; THPT và THCN (TH chuyên ban chỉ là thí điểm)

Trang 16

- Giáo dục chuyên nghiệp: THCN; TH nghề, đào tạo nghề

- Giáo dục Đại học – Cao đẳng, sau đại học ( cao học, tiến sĩ)

- GDTX được thực hiện bằng nhiều hình thức: Không tập trung, không chính qui, tại chức, bổ túc, tự học, học từ xa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

1.2.2 Quản lý quá trình dạy học ở TTGDTX

1.2.2.1 Quản lý

*Khái niệm quản lý

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính lao động của xã hội

Quản lý được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, khi xã hội loài người phát triển qua các hình thái thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng được nâng cao.Trình độ quản lý là một trong ba yếu tố cơ bản của sự phát triển của xã hội: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý lại chính do con người tiến hành Nhà quản lý, đối tượng quản lý và sự cần thiết của quản lý đã được C.Mác khẳng định:

“Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà các hoạt động

cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cẩm riêng

lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [10, tr 35] Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hành động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm một tiêu chung

Trang 17

+ Khái niệm quản lý có nhiều cách hiểu, lý giải ở nhiều góc độ khác nhau Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động( nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”[31,tr.35]

Tác giả Trần Quốc Thành định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động

có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình

xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [15, tr.10]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý( người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý)- trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Một cách định nghĩa khác: “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng ) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [12, tr.1]

Như vậy có thể khái quát : Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội

*Chức năng quản lý:

- Chức năng lập kế hoạch : Kế hoạch là nền tảng của quản lý Lập kế

hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, đề ra những biện pháp cơ bản và các đều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó

- Chức năng tổ chức : Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công

việc, quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau

Trang 18

Nhờ tổ chức hợp lý mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực

- Chức năng chỉ đạo : Chỉ đạo là huy động lực lượng để thực hiện kế

hoạch, là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Nhà quản lý phải giám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ thống đúng tiến trình, đúng kế hoạch Khi cần phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục tiêu, hướng vận hành của hệ thống, nhằm giữ vững mục tiêu quản lý đã đề ra

- Chức năng kiểm tra - đánh giá:

Kiểm tra là khâu quan trọng trong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của kiểm tra - đánh giá là xem trạng thái của hệ thống so với mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt được mức độ nào Kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện ra những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra được những bài học kinh nghiệm Kiểm tra phải đi liền với đánh giá, kiểm tra mà không đánh giá coi như không có kiểm tra , không có kiểm tra thì cũng coi như không có quản lý

Trang 19

SƠ ĐỒ VỀ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÚNG

1.2.2.2 Quản lý giáo dục

*Khái niệm quản lý giáo dục

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm "Quản lý giáo dục", nhƣng nói chung đƣợc hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục Nói đầy đủ: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục Là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ

sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

Quản lý giáo dục chịu sự chi phối, tác động của quản lý xã hội, do vậy quản lý giáo dục mang những đặc điểm :

- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản

lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng nhƣ không đƣợc phép tạo ra phế phẩm

Lập kế hoạch

Tổ chức thực

hiện

Chỉ đạo Quản lý

Kiểm tra đánh giá

Trang 20

- Quản lý giáo dục phải chú ý đến sự khác biệt giữa lao động sư phạm

so với lao động xã hội nói chung

- Trong quản lý giáo dục các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động quản lý giáo dục thống nhất

- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất , tính liên tục, tính kế thừa và tính phát triển

- Quản lý giáo dục phải quán triệt quan điểm quần chúng vì giáo dục là

sự nghiệp của quần chúng

Sơ đồ quản lý giáo dục

1.2.2.3 Quản lý quá trình dạy học ở TTGDTX

*Khái niệm dạy học

Thông qua giáo dục,những kinh nghiệm của loài người được duy trì, bảo tồn, phát triển và truyền đạt từ thế hệ sang thế hệ khác Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, con đường quan trọng và hiệu quả nhất

là tổ chức dạy học Lê Nin đã khẳng định: Giáo dục là hiện tượng tất yếu và

Chủ thể

quản lý

Khách thể quản lý

Công cụ quản lý Mục tiêu

Trang 21

vĩnh hằng của xã hội loài người, ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục, nó sinh ra, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của lịch sử loài người Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trọng tâm trong các hoạt động của nhà trường

Tóm lại: Dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học, nhằm truyền và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học Dạy học là một khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học Dạy học bao gồm hai hoạt động đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của người học Hai hoạt động luôn gắn bó mật thiết với nhau, tác động tương hỗ với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau

Ngày nay, quan điểm dạy học hiện đại cho thấy tương tác dạy học thể hiện ở các mặt khác nhau giữa chủ thể dạy và chủ thể học, giữa mục tiêu dạy

và mục tiêu học, giữa PP dạy và PP học, giữa phương tiện dạy và phương tiện học Tương tác sẽ làm tăng động lực của hoạt động dạy và học, nó khắc phục tính chất thụ động của hoạt động dạy và học, đặc biệt là hoạt động dạy học và tính chất đơn điệu một chiều lâu nay của quan hệ dạy và học Trong quan hệ thầy và trò, tính chất hợp tác là xu thế nổi bật Giáo viên không hành động một chiều, tổ chức việc dạy cho được việc mình mà là đặt kế hoạch và tổ chức việc dạy sao cho đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra, tìm cách làm thế nào để việc dạy của mình được người học hưởng ứng, ủng hộ và chính nó có tác động tổ chức, động viên, hướng dẫn việc học Người thầy phải là người hướng dẫn, điều khiển người học, giúp người học chủ động tìm tòi chiếm lĩnh khoa học một cách sáng tạo, hình thành nhân cách

Dạy học hiện đại đặt ra những yêu cầu cao đối với giáo viên về năng lực chuẩn đoán tâm lý, vững chuyên môn, năng lực lập kế hoạch, năng lực đánh giá kết quả dạy học, năng lực tiếp thu, phân tích đánh giá thông tin ngược về

Trang 22

quá trình dạy học, điều chỉnh hoạt động dạy học Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực và phẩm chất của giáo viên có hiệu quả sẽ là nhân tố quyết định

sự thành công trong công tác giáo dục phổ thông

- Hoạt động dạy của giáo viên

Thầy truyền thụ kiến thức,tổ chức điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri

thức của học sinh, giúp học sinh nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái

độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và diều khiển nội dung học theo chương trình quy định Vai trò của người thầy là tổ chức, dẫn dắt, điều khiển và là người đồng hành cùng học sinh trên con đường chiếm lĩnh tri thức tạo nên sự gắn kết giữa người dạy và người học trong quá trình dạy học

- Hoạt động học của học sinh

Hoạt động học của học sinh là một quá trình lĩnh hội hệ thống tri

thức, hình thành hệ thống kỹ năng kỹ xảo, hình thành thái độ tích cực, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện nhân cách của bản thân mình Hoạt động học được coi là quá trình tự điều khiển bản thân của người học để chiếm lĩnh tri thức khoa học Hoạt động học cũng có chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển qua trình chiếm lĩnh tri thức khoa học Kết quả hoạt động học của học sinh không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của thầy và ngược lại Như vậy hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, chúng chi phối và bổ sung cho nhau

*Ý nghĩa của dạy học

Dạy học là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục

cho học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, giá trị quan

và những phẩm chất đạo đức con người mới

Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời

gian ngắn nhất có thể nắm vững một khối lượng tri thức với chất lượng cần thiết Quá trình dạy học được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch với nội dung được quy định gồm hệ thống những tri thức cơ bản hiện đại phù hợp

Trang 23

với thực tiễn của đất nước và hệ thống những kỹ năng kỹ xảo tương ứng, với các hình thức tổ chức dạy học đa dạng, với sự điều khiển linh hoạt của người thầy

Dạy học còn là con đường quan trọng bậc nhất giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống các kỹ năng, năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo Nhờ có sự gia công sư phạm trong quá trình dạy học của người thầy mà học sinh lĩnh hội nhanh chóng và có hiệu quả

hệ thống những tri thức khoa học cần thiết trên cơ sở tiến hành các thao tác trí tuệ đặc biệt là các thao tác tư duy, thông qua đó các thao tác trí tuệ lại được phát triển và hoàn thiện một bước

Hoạt động dạy học trên lớp có tính đặc trưng chuyên môn cao về dạy học theo môn học, vì thế nó có ưu thế tuyệt đối trong việc hình thành tri thức, phát triển năng lực thông qua việc dạy các môn học, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện Vì thế hoạt động dạy học được hiểu một cách đầy đủ bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của thầy, việc học tập, rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người làm chủ đất nước, có văn hoá , có kỹ thuật, có sức khoẻ, để đáp ứng xây dựng xã hội mới, phát triển đất nước

*Quản lý quá trình Dạy học

- Khái niệm quản lý quá trình dạy học

Quản lý quá trình dạy học chính là điều khiển quá trình dạy học làm cho quá trình đó được vận hành một cách có kế hoạch, có tổ chức và được chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm từng bước hướng về thực hiện mục đích nhiệm vụ dạy học đã đặt ra

- Những đặc điểm của quá trình dạy học

+ Quá trình dạy học mang tính chất quản lý hành chính sư phạm Tính hành chính : thể hiện ở chỗ, quản lý theo pháp luật và những nội quy, quy chế, quy định có tính chất bắt buộc trong hoạt động dạy học

Trang 24

Tính sư phạm : thể hiện là chịu sự quy định của các quy luật của quá trình dạy học, giáo dục diễn ra trong môi trường sư phạm lấy hoạt động

và quan hệ Dạy – Học của thầy và trò làm đối tượng quản lý

+ Có tính xã hội hóa cao :

Chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế – xã hội

Có mối quan hệ tương tác thường xuyên với đời sống xã hội

+ Hiệu quả của quản lý quá trình dạy học được tích hợp trong kết quả đào tạo, kết quả dạy học, học tập của học sinh theo từng ngành học, bậc học Kết quả đó thể hiện qua các chỉ số :

Số lượng học sinh đạt được mục đích học tập

Chất lượng dạy học

Hiệu quả dạy học (trong đó có hiệu quả trong và hiệu quả ngoài)

1.3 Quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX

1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học ở TTGDTX

1.3.1.1 Khái niệm PPDH

Phương pháp là một khái niệm trừu tượng nó mô tả phương hướng vận

động trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Phương pháp dạy học được chia thành hai nhóm: Phương pháp dạy học đại cương và Phương pháp dạy học bộ môn, ở đây ta chủ yếu nói về Phương pháp dạy học đại cương

*Khái niệm PPDH: PPDH là cách thức hoạt động, trình tự phối hợp tương tác với nhau của GV và HS nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

Có nhiều định nghĩa Phương pháp dạy học:

+ Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học

+ Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy của thầy và cách thức hoạt động học tập của học sinh

Trang 25

+ Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học

+ PPDH chịu sự chi phối của nội dung dạy học, việc sử dụng PPDH nào phải căn cứ vào nội dung dạy học cụ thể

+ Hiệu quả của PPDH phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của

GV Nắm vững nội dung dạy học và quy luật, đặc điểm nhận thức của học sinh là cơ sở quan trọng để lựa chọn sử dụng PPDH nào đó Mức độ thành công trên cùng một nội dung dạy học của các giáo viên khác nhau là khác nhau

Trang 26

thành kỹ năng, củng cố hệ thống hoá kiến thức Phương pháp thuyết trình bao

gồm các dạng: kể chuyện, giải thích, diễn giảng

+ Phương pháp vấn đáp (đàm thoại): Giáo viên tổ chức, thực hiện quá

trình hỏi và đáp giữa GV và HS nhằm làm sáng tỏ những tri thức mới, rút ra những kết luận cần thiết từ tài liệu đã học hay từ kinh nghiệm trong thực tiễn Phương pháp vấn đáp khi được sử dụng khéo léo có tác dụng điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, kích thích tính tích cực độc lập tư duy, bồi dưỡng khả năng trình bày miệng của học sinh, tạo không khí sôi nổi của tiết học, GV thu được tín hiệu ngược nhanh chóng và tương đối chính xác Tuy vậy, nếu sử dụng không khéo dễ làm hỏng kế hoạch dạy học dự kiến ban đầu

+ Phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu:

SGK và tài liệu giúp HS mở rộng, đào sâu kiến thức một cách có hệ thống, bồi dưỡng năng lực tự học, có kỹ năng đọc sách, óc kỹ năng ghi chép, tạo sự hứng thú học tập và khả năng làm việc độc lập Giáo viên phải xác định

rõ những nội dung cần nghiên cứu trong SGK hay tài liệu, hướng dẫn trình tự

sử dụng SGK, tài liệu hợp lý nhất cho học sinh

Nhóm 2 Các PPDH trực quan

+ Phương pháp quan sát:

Phương pháp quan sát là phương pháp tổ chức cho học sinh tri giác một cách có chủ định, có kế hoạch : tiến trình và sự biến đổi diễn ra ở đối tượng nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng, quan sát gắn với tư duy Khi sử dụng Phương pháp quan sát trong dạy học, đòi hỏi giáo viên phải tổ chức hoạt động nhận thức cảm tính cho học sinh qua đó hình thành biểu tượng, phát triển năng lực nhận thức cho họ

+ Phương pháp minh họa:

Phương pháp minh họa là phương pháp mà GV dùng các phương tiện

trực quan minh họa giúp học sinh hiểu rõ hơn những nội dung kiến thức của bài dạy Các phương tiện trực quan là vật thật, mô hình, tranh ảnh, băng hình cũng có khi là các ví dụ thực tiễn Phương pháp minh họa giúp học sinh

Trang 27

hiểu bài nhớ lâu và vận dụng được, phương pháp này cũng gây hứng thú học

tập và kích thích tư duy của học sinh

+ Phương pháp biểu diễn thí nghiệm:

Phương pháp biểu diễn thí nghiệm là phương pháp mà GV làm các thí

nghiệm theo nội dung bài học cần nghiên cứu, HS quan sát , tư duy và rút ra các kết luận khoa học cần thiết

Phương pháp biểu diễn thí nghiệm thường được sử dụng trong các môn khoa học tự nhiên, như vật lý, hoá học, sinh học

Nhóm 3 Các PPDH thực hành

+ Phương pháp luyện tập:

Phương pháp luyện tập trong dạy học là phương pháp học sinh lặp đi

lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau, dưới sự chỉ dẫn của giáo viên, nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo sau khi lĩnh hội kiến thức Việc luyện tập không chỉ hình thành và phát triển kỹ năng,

kỹ xảo trong từng môn học mà còn hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình

học tập nhận thức

+ Phương pháp thực hành thí nghiệm:

Phương pháp thực hành thí nghiệm là phương pháp mà giáo viên tổ

chức cho học sinh làm thí nghiệm trên lớp, trong phòng thí nghiệm hay vườn trường qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức mới hoặc củng cố, vận dụng kiến

thức đã học

Nhóm 4 Các phương pháp dạy học tích cực

+ Dạy học nêu và giải quyết vấn đề:

Bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là việc tạo nên một

chuỗi những tình huống có vấn đề và điều khiển học sinh giải quyết vấn đề học tập đó Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý xuất hiện khi con người gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết

"Tình huống có vấn đề" luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ và kết quả giải quyết

Trang 28

được "Tình huống có vấn đề" sẽ là những tri thức mới hay cách thức hành động mới đối với chủ thể

+ Phương pháp động não:

Phương pháp động não là phương pháp kích thích sự sáng tạo tập thể

để tìm được cách giải quyết tối ưu vấn đề Phương pháp này kích thích sự

sáng tạo thông qua việc nêu và giải quyết vấn đề

+ Phương pháp trò chơi:

Giáo viên có thể sử dụng việc tổ chức trò chơi nhằm mục đích dạy học, giúp gây hứng thú xúc cảm trong quá trình dạy học, tạo không khí vui tươi, tích cực trong lớp học, tạo sự thu hút đối với học sinh vào nội dung bài học

Phương pháp trò chơi có thể dùng để dạy kiến thức mới, củng cố hay

vận dụng kiến thức

+ Phương pháp đóng kịch:

Phương pháp đóng kịch là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ

chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập Phương pháp đóng kịch

hay được sử dụng trong giảng dạy các môn khoa học xã hội như văn, sử

+ Phương pháp tình huống:

Phương pháp tình huống là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng những tình huống thực tiễn có chứa đựng các vấn đề để học sinh giả quyết, tổ chức cho học sinh giải quyết các tình huống thực tiễn đó, qua đó giúp các em tìm ra kiến thức mới, củng cố hoặc vận dụng kiến thức

Trang 29

ĐT là: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nền nếp tư duy sáng tạo của người học”

Điều 24 – Luật giáo dục: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập của học sinh”

Đổi mới PPDH là quy luật phát triển tất yếu của thời đại và của mỗi quốc gia trên đường phát triển xã hội, của giáo dục, của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giáo viên và học sinh trong điều kiện mới Đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách, để thích ứng với đổi mới mục tiêu và đổi mới nội dung chương trình giáo dục, có tác dụng thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Đổi mới PPDH được hiểu là : đổi mới PPDH không phải là thay cái cũ

bằng cái mới, thay các PPDH truyền thống bằng PPDH mới, hiện đại Đổi mới PPDH là sự kế thừa và sử dụng có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp truyền thống hiện còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng, kinh nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị xã hội, kết hợp với các PPDH hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình nhận thức Đổi mới PPDH là sự kết hợp các PPDH truyền thống và hiện đại sao cho phù hợp với các điều kiện dạy học cụ thể và đạt hiệu quả cao

Đổi mới PPDH phải kiên quyết loại bỏ các PPDH lạc hậu truyền thụ một chiều, nhồi nhét làm cho học sinh thụ động, mất khả năng sáng tạo ( đặc biệt là lối dạy: đọc – chép), thay vào đó là dạy học sinh cách học và cách tự học, theo hướng kích thích tính tích cực, sự hứng thú, chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức của họ Làm cho học sinh tự suy nghĩ, tự tìm tòi, độc lập nhận thức, phát huy ý trí học tập, phát triển tư duy

Trang 30

Trong đổi mới PPDH phải tăng cường khai thác, ứng dụng, sử dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ, kỹ thuật (đặc biệt là công nghệ thông tin) vào quá trình dạy học để đảm bảo hiệu quả của quá trình đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Đổi mới PPDH phải được tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống, khoa học, đồng bộ, có điều kiện khả thi Trong quá trình đổi mới PPDH phải chủ động, mạnh dạn, không cầu toàn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm

Đổi mới PPDH phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự đổi mới các thành tố khác trong quá trình dạy học : mục tiêu(MT), nội dung(ND), phương pháp(PP), phương tiện(PT), hình thức tổ chức (HTTC) :

1.3.2.2 Quản lý quá trình đổi mới PPDH

Quản lý quá trình đổi mới PPDH là vấn đề quan trọng cốt lõi trong quản lý quá trình dạy học, nó là động lực để nâng cao chất lượng dạy học, tuy nhiên đây là vấn đề khó khăn, phức tạp Quản lý quá trình đổi mới PPDH có quy trình chặt chẽ, sát thực, phù hợp với điều kiện khách quan

Quản lý quá trình đổi mới PPDH được hiểu là hệ thống những tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục; là hệ thống điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục trong quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích đổi mới PPDH loại

bỏ PPDH một chiều, nhồi nhét làm cho học sinh thụ động, mất khả năng sáng tạo; thay vào đó là phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học

Quản lý quá trình đổi mới PPDH gồm các bước :

1/ Bước 1 Bước chuẩn bị gồm:

+ Tác động nhận thức, tạo tâm thế và điều kiện sẵn sàng tham gia đổi mới PPDH, thành lập ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch chương trình hành động

Trang 31

+ Nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên (đặc biệt là về năng lực chuyên môn nghiệp vụ và điều kiện bản thân để đổi mới PPDH)

+ Nghiên cứu những đặc điểm đối tượng người học

+ Phân tích các phân tích những mâu thuẫn thực tế trong hoạt động và quan hệ Dạy - Học, nguyên nhân tồn tại những PPDH lỗi thời, những nhân tố tích cực về cách dạy học theo tinh thần đổi mới đã có kết quả ban đầu

+ Dự thảo chương trình kế hoạch chỉ đạo, tổ chức hội thảo, tọa đàm trao đổi chương trình kế hoạch trong tập thể sư phạm để thống nhất ý trí và hành động

+ Tổ chức dạy thí điểm

+ Dự giờ, kiểm tra đánh giá, xác định kết quả

+ Sơ kết, rút ra bài học kinh nghiệm bước đầu để đưa ra đại trà

Trang 32

+ Tổng kết đánh giá từng học kỳ, hằng năm, có chế độ khen thưởng, trách phạt cụ thể

+ Tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cá nhân trong mỗi tổ bộ môn, trong Trung tâm

+ Tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục triển khai trong thời gian tiếp theo

Các nhà quản lý TTGDTX với nhiệm vụ trọng tâm là giữ ổn định và từng bước nâng cao dần chất lượng dạy học, từ đó nâng cao dần chất lượng giáo dục toàn diện thì công tác chỉ đạo đổi mới PPDH phải luôn được quan tâm đúng mức, coi đây là đòn bẩy để nâng cao chất lượng dạy học của Trung tâm

1.3.2.3 Quan điểm và định hướng đổi mới PPDH

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới PPDH, định hướng đổi mới PPDH trong chương trình giáo dục THPT, TTGDTX hiện nay

* Quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước về đổi mới PPDH

Trong bối cảnh đất nước đang trong tiến trình đổi mới mạnh mẽ, chúng

ta đang thực hiện công cuộc "Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá" đất nước, đưa nước ta từng bước hoà nhập với khu vực và thế giới, đưa nền kinh tế nước ta

từ tình trạng kém phát triển thành nước có nền kinh tế phát triển so với khu vực và thế giới (2020) Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho những mục tiêu trên, đòi hỏi nền giáo dục của chúng ta phải có sự đổi mới toàn diện

Nhằm chỉ đạo công cuộc đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới PPDH nói riêng Đảng, Nhà nước đã có những chỉ đạo cụ thể:

+ Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khoá VIII đã chỉ rõ : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nền nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học "

Trang 33

+ Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 09 - 12- 2000 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ghi rõ:

"Mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giáo dục phổ thông mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi của từng cấp học, bậc học; tiếp cận trình độ các nước trong khu vực và trên thế giới Việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo đổi mới từ PPDH, nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử đến chuẩn hoá trường sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục ".(1- Tr2)

+ Luật giáo dục quy định "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh"

+ Thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội, Chỉ thị số 14/2001/CT - TTg ngày 11-6-2001 của Thủ Tướng Chính Phủ về đổi mới Chương trình giáo dục, nêu rõ bốn mục tiêu đổi mới là: "Đổi mới phương pháp dạy và học, Phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh"

+ Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, ghi rõ: "Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập "

+ Bộ GD & ĐT cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH Trong các chỉ thị về nhiệm vụ mỗi năm học đều đề cập sâu đến vấn đề này, đặc biệt Bộ trưởng đã chỉ đạo

Trang 34

chủ đề năm học 2008 - 2009 là thực hiện cuộc vận động "Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực"

* Định hướng đổi mới PPDH trong chương trình giáo dục hiện nay

+ Đổi mới PPDH: Trên cơ sở chọn lọc, kế thừa các thế mạnh của các PPDH truyền thống, kết hợp với các PPDH hiện đại, vận dụng linh hoạt sáng tạo vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức

Đối với giáo viên: Thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều học sinh

thụ động sang cách dạy học sinh chủ động tu duy, chuyển dần việc dạy học sang dạy cách học

Đối với học sinh: Chuyển từ việc học tập thụ động sang học tập tích

cực, tăng tối đa phần tự học trong quá trình học tập của mình Đồng thời, học sinh có kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế

+ Đổi mới PPDH phải đồng bộ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, đổi mới cơ chế quản lý

+ Đổi mới PPDH phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị, từng địa phương và cả nước

+ Đổi mới PPDH phải tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho học sinh

+ Tăng cường vận dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào quá trình dạy học

+ Đổi mới PPDH là trách nhiệm của tất cả các cấp quản lý; của các ban ngành đoàn thể trong ng ành giáo dục, trong mỗi nhà trường; của mỗi giáo viên; của toàn xã hội nhằm nâng cao chất lương giáo dục

*Nội dung quản lý đổi mới PPDH ở TTGDTX cấp huyện

+ Quán triệt tinh thần đổi mới trong giáo dục nói chung và đổi mới PPDH nói riêng; chỉ đạo học tập các nghị quyết, các chỉ thị, các thông tư, các công văn hướng dẫn thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới công tác dạy học, đổi mới PPDH… của Đảng, Nhà nước, của các cấp quản lý giáo dục

Trang 35

+ Chỉ đạo “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó:

Giáo viên nhận thức đầy đủ về vai trò trách nhiệm của mình về chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học, nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc đổi mới PPDH, hình thành và phát triển nhu cầu đổi mới PPDH ở mỗi giáo viên

Học sinh nhận thức được ý nghĩa, tác dụng của việc đổi mới PPDH trong quá trình nhận thức, từ đó chủ động, tích cực học tập, tự giác đổi mới

PP học của mình Tổ chức các phong trào thi đua: thực hiện PPDH theo hướng đổi mới trong giáo viên, cải tiến phương pháp học tập trong học sinh

+ Chỉ đạo bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên Đồng thời chỉ đạo giáo viên tự học, tự nghiên cứu, trao đổi thảo luận với nhau trong tổ bộ môn hay trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong trường, tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm… để mỗi giáo viên nắm chắc các PPDH cơ bản (đặc biệt là các PPDH hiện đại), hiểu bản chất của việc đổi mới PPDH, có kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật mới, các thiết bị dạy học mới phục vụ cho đổi mới PPDH

+ Chỉ đạo tổ chuyên môn lập kế hoạch, triển khai tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc đổi mới PPDH trong tổ, nhóm chuyên môn và từng giáo viên Chỉ đạo các tổ nhóm chuyên môn xây dựng đội ngũ các giáo viên

có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, có năng lực … làm nòng cốt trong hoạt động chuyên môn cũng như trong việc áp dụng đổi mới PPDH và dùng lực lượng này thúc đẩy việc đổi mới PPDH trong toàn trường

+ Chỉ đạo xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học, mua sắm

đồ dùng thiết bị thí nghiệm – thực nghiệm, tổ chức chỉ đạo các phong trào giáo viên và học sinh tự làm đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập phục vụ cho giảng dạy và học tập theo hướng đổi mới

+ Kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong TT như: công đoàn, đoàn thanh niên, hội khuyến học… trong việc chỉ đạo và thúc đẩy đổi mới PPDH

Trang 36

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TT GDTX

Quản lý quá trình đổi mới PPDH ở TTGDTX phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó có những yếu tố cơ bản sau

1.4.1 Năng lực quản lý của CBQL Trung tâm

Trước hết những người đứng đầu TTGDTX: Phải có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, sự cần thiết của việc đổi mới PPDH trong TT, phải có sự am hiểu sâu về đổi mới PPDH, là người đi đầu gương mẫu trong thực hiện đổi mới PPDH ở những giờ dạy trên lớp và trong hoạt động quản lý của mình

Cán bộ quản lý của TT phải thật sự quan tâm đến việc đổi mới PPDH ở đơn vị mình, từ đó có kế hoạch cụ thể và tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đồng thời có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ

Ngoài ra, CBQL cũng phải biết xây dựng quy chế cụ thể về đánh giá, khen thưởng hay trách phạt đối với giáo viên những người trực tiếp thực thi việc đổi mới PPDH ở đơn vị mình

1.4.2 Năng lực của giáo viên

“GV là người quyết định chất lượng giáo dục”, do vậy GV cũng chính

là người quyết định sự thành – bại của quá trình đổi PPDH trong nhà trường

Các chỉ đạo của lãnh đạo TT mà giáo viên không quán triệt đầy đủ thì khó thực hiện được các nội dung đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá Giáo viên hiểu sâu sắc vai trò, ý nghĩa, tác dụng của việc đổi mới PPDH trong quá trình dạy học là nằm nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cơ sở sử dụng nguồn nhân lực và sự phát triển đất nước Đồng thời, giáo viên cũng phải hiểu

sự nghiệp giáo dục của mình gắn liền với việc thực hiện đổi mới PPGD nói chung và đổi mới PPDH nói riêng

Về năng lực: Giáo viên phải có hiểu biết đầy đủ về đổi mới PPDH, có khả năng nghiên cứu áp dụng các PPDH theo định hướng đổi mới, biết hướng

Trang 37

dẫn học sinh phương pháp học tập phù hợp thì mới thực hiện được các nội dung đổi mới PPDH

1.4.3 Chất lượng đầu vào của học sinh

Học sinh vào học hệ giáo dục thường xuyên ở TTGDTX cấp huyện thường có chất lượng đầu vào thấp Những em không được trúng tuyển vào các trường công lập hoặc dân lập học hệ chính quy thì mới vào học ở hệ giáo dục thường xuyên Vì thế, việc đổi mới PPDH đối với các em là khó khăn Quản lý việc đổi mới PPDH cũng có những vướng mắc nhất định Mục tiêu của đổi mới PPDH là giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức, đây cũng là điều kiện để tiến hành đổi mới PPDH Bởi vậy học sinh phải được giáo dục để có động cơ học tập đúng đắn, có ý thức tự giác, có trách nhiệm với quá trình học tập của mình

1.4.4 Chương trình và sách giáo khoa

Chương trình và sách giáo khoa thể hiện mục tiêu và nội dung dạy học,

nó chi phối phương pháp dạy học, do vậy việc đổi mới PPDH chịu sự ảnh hưởng lớn của chương trình và sách giáo khoa

Để giúp cho việc đổi mới PPDH thì chương trình và sách giáo khoa phải được biên soạn phù hợp , tạo điều kiện cho giáo viên có thể áp dụng các phương pháp dạy học một cách dễ dàng và sáng tạo Mặt khác, nội dung SGK cũng đòi hỏi GV phải sử dụng những PPDH linh hoạt và phù hợp mới hoàn thành nhiệm vụ dạy học của mình

1.4.5 Phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Cách kiểm tra, cách thi cử, cách đánh giá chất lượng học tập của học sinh cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh, “thi cử thế nào thì học thế ấy” Do vậy việc đổi mới PPDH cần phải đồng bộ với đổi mới cách tổ chức thi cử, đổi mới phương thức đánh giá học sinh chất lượng học sinh, đổi mới phương thức tuyển sinh…

Trang 38

Ngoài ra các yếu tố như : Sự phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể

trong TT, tập quán riêng của TT, tinh thần cộng tác của các cá nhân trong

TT… cũng có ảnh hưởng tới việc đổi mới PPDH cũng như công tác chỉ đạo

đổi mới PPDH

1.4.6 CSVC và trang thiết bị phục vụ dạy học

Trong đổi mới PPDH cần phải có sự hỗ trợ rất nhiều về trang thiết bị

dạy học tương ứng Trong thời đại ngày nay thì khoa học công nghệ (đặc biệt

là công nghệ thông tin) đã tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học Nếu thiếu

trang thiết bị dạy học tương ứng thì việc đổi mới PPDH sẽ gặp nhiều khó

khăn thậm chí không thực hiện được mà giáo viên phải quay về sử dụng các

phương pháp dạy học truyền thống

Về CSVC trường học, đây cũng là lĩnh vực ảnh hưởng nhiều đến quá

trình đổi mới PPDH Phòng thí nghiệm, phòng chức năng, phòng máy tính,

phòng học ngoại ngữ, vườn trường, sân tập… là những thứ hỗ trợ cần thiết

cho việc dạy học theo các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của

học sinh

Việc đầu tư CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học cần được quan tâm

thích đáng Trung tâm cần có kế hoạch chỉ đạo giáo viên và học sinh tự làm

đồ dùng dạy học đáp ứng yêu cầu từng môn học, bài học Mặt khác việc xã

hội hoá giáo dục, làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục trong việc tăng cường

CSVC, trang thiết bị cho Trung tâm cũng cần được tiến hành kịp thời

Trang 39

Kết luận chương 1

Đổi mới PPDH đã là một yêu cầu cấp thiết trong lộ trình đổi mới giáo dục nước ta TTGDTX là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân nên việc đổi mới PPDH cũng là một yêu cầu tất yếu

Đầu vào của HS tại TTGDTX có trình độ thấp, nhưng chương trình GDTX sử dụng SGK của THPT Do đó việc đổi mới PPDH ở TTGDTX là vô cùng cần thiết bởi nó giải quyết mâu thuẫn giữa trình độ đối tượng đầu vào và nội dung chương trình SGK của THPT Việc đổi mới PPDH ở TTGDTX là sự

kế thừa và sử dụng có chọn lọc hệ thống PP truyền thống hiện còn có giá trị tích cực, kết hợp với các PPDH hiện đại phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy học

Quản lý đổi mới PPDH ở TTGDTX được thực hiện thông qua công tác chỉ đạo của lãnh đạo TT về các nội dung sau:Quán triệt tinh thần đổi mới trong giáo dục nói chung và đổi mới PPDH nói riêng cho tất các CB và GV của TT Tích cực “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; hình thành và phát triển nhu cầu đổi mới PPDH ở mỗi GV;Tổ chức các phong trào thi đua: thực hiện PPDH theo hướng đổi mới trong GV, cải tiến PPHT trong HS;Tổ chức bồi dưỡng cho GV biết cách tự học, tự nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để họ nắm chắc các PPDH cơ bản, hiểu rõ bản chất của việc đổi mới PPDH, có kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học mới phục vụ cho đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá việc đổi mới PPDH trong tổ, nhóm chuyên môn và từng GV Chỉ đạo các tổ nhóm chuyên môn xây dựng đội ngũ GV có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, có năng lực…làm nòng cốt trong hoạt động chuyên môn cũng như trong việc áp dụng đổi mới PPDH, thúc đẩy việc đổi mới PPDH trong TT; tăng cường xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học, làm đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập phục vụ cho giảng dạy và học tập theo hướng đổi mới; Kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong Trung tâm trong việc thúc đẩy đổi mới PPDH

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TTGDTX

NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Vài nét về TTGDTX Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển TTGDTX Ninh Giang

Năm 1997 TTGDTX Ninh Giang được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2

trường BTVH Hồng Phong và Vĩnh Hoà trên địa bàn huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ và nhân dân lao động, nâng cao dân trí, phát triển hệ thống giáo dục huyện Ninh Giang.Vị trí của Trung tâm đặt tại xã Hồng Phong và một cơ sở tại xã Vĩnh Hoà huyện Ninh Giang

Khi Trung tâm mới thành lập, với 14 cán bộ giáo viên, 9 lớp bổ túc THPT Đến nay có 30 cán bộ giáo viên, 16 lớp

Vài nét về tình hình chung của TTTGDTX huyện Ninh Giang hiện nay:

- Tình hình đội ngũ cán bộ giáo ở Trung tâm: 27cán bộ giáo viên đạt trình độ chuẩn, 2 giáo viên và 1 nhân viên đạt trình độ cao đẳng Phần lớn các cán bộ giáo viên yên tâm công tác, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công tác được giao, đoàn kết nội bộ, cộng đồng trách nhiệm xây dựng Trung tâm

- Tình hình học sinh: Học sinh tham gia học tại Trung tâm phần lớn có học lực trung bình trở xuống, chỉ có khoảng 5-7% có học lực khá (theo mức

độ yêu cầu ở các TTGDTX); ý thức tổ chức kỷ luật rất thấp , tính chuyên cần không cao, chưa có động cơ ý thức học tập đúng đắn Đây là yếu tố cản trở rất lớn đến quá trình đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm Hàng năm cũng có một số học sinh thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng (đếm trên đầu ngón tay)

Trải qua 13 năm làm công tác GDTX, Trung tâm GDTX Ninh Giang

đã có bước phát triển và đạt được những thành quả nhất định Trước hết phải

Ngày đăng: 18/10/2023, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành trung ƣơng Đảng (1999) Chỉ thị về đổi mới PPDH trong ngành sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về đổi mới PPDH trong ngành sư phạm
Tác giả: Ban chấp hành trung ƣơng Đảng
Năm: 1999
2.Bùi Minh Bình (2005) , Biện pháp chỉ đạo của hiệu trưởng đối với việc đổi mới PPDH trong các trường THPT khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp chỉ đạo của hiệu trưởng đối với việc đổi mới PPDH trong các trường THPT khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Minh Bình
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2005
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương , Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học các năm từ 2000 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học các năm từ 2000 – 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương
Năm: 2000-2010
4. Bộ GD & ĐT và Sở GD&ĐT Hải Dương , Hướng dẫn Nhiệm vụ năm học các năm học từ 2005-2006 đến 2010-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Nhiệm vụ năm học các năm học từ 2005-2006 đến 2010-2011
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo Hải Dương
5. Bộ GD & ĐT (2006), Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và THPT số 7092/BGDĐT- GDTrH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và THPT số 7092/BGDĐT- GDTrH
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Năm: 2006
11. Trần Khánh Đức (2003) , Một số biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng để đổi mới PPDH bằng sử dụng công nghệ thông tin ở các trường THPT ven thành phố Hồ Chí Minh, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng để đổi mới PPDH bằng sử dụng công nghệ thông tin ở các trường THPT ven thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2003
12. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ(2002). Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ 21, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ 21
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Phan Văn Kha (2002). Phương pháp nghiên cứu khoa học. Giáo trình cao học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Viện chiến lược và chương trình giáo dục
Năm: 2002
14. Trần Kiều. (1999), Đổi mới PPDH ở trường THCS , Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH ở trường THCS
Tác giả: Trần Kiều
Nhà XB: Viện Khoa học giáo dục
Năm: 1999
15. Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
16. Huỳnh Công Minh (2006) , Biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học. Luận án Tiến sĩ. Viện Chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học
Tác giả: Huỳnh Công Minh
Nhà XB: Viện Chiến lược và chương trình giáo dục
Năm: 2006
17. Hà Thế Ngữ (2005). Giáo dục học – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Qui chế đánh giá xếp loại HS THCS và THPT số 40/2006/QĐ-BGDĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chế đánh giá xếp loại HS THCS và THPT số 40/2006/QĐ-BGDĐT
Năm: 2006
19. Thái Duy Tuyên (1998). Giáo dục học hiện đại. NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
20. Nguyễn Nhƣ Ý (1999). Đại từ điển tiếng Việt. NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1999
6. Bộ GD & ĐT, Kế hoạch thực hiện Nghị quyết NQ 40 / 2000/ QH 10 . 7. Chỉ thị triển khai thực hiện phân ban THPT-Số 25/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ VỀ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÚNG - “Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang,tỉnh hải dương
SƠ ĐỒ VỀ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÚNG (Trang 19)
Sơ đồ quản lý giáo dục - “Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang,tỉnh hải dương
Sơ đồ qu ản lý giáo dục (Trang 20)
Bảng 2.2 : Kết quả khảo sát việc sử dụng các PPDH của giáo viên - “Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang,tỉnh hải dương
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát việc sử dụng các PPDH của giáo viên (Trang 43)
Bảng 2.6 : Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quá - “Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện ninh giang,tỉnh hải dương
Bảng 2.6 Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quá (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w