Cũng như các trường có đào tạo hệ TCCN trong cả nước, trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, Trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên đứng trước nhiều khó khăn, trướ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG ĐIỀM
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG ĐIỀM
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS BÙI VĂN QUÂN
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế kỷ 21 là thế kỷ của tri thức, thông tin và truyền thông Sự toàn cầu hoá và cuộc cải cách trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã làm dấy lên nhu cầu về mô hình phát triển mới, trong đó có con người được xem là trọng tâm Giáo dục chuyên nghiệp là một phần không thể thiếu, không thể tách rời của quá trình học tập suốt đời, góp phần vào việc khám phá nền văn hoá hoà bình, duy trì sự phát triển, kết nối xã hội Từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế và xã hội Trong đó Đảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo, coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, phát triển giáo dục gắn liền với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố trung tâm đảm bảo
sự phát triển lâu dài và bên vững
Sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) ở nước ta trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, song chất lượng đào tạo cần phải được nâng cao hơn nữa để tương xứng với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện CNH-HĐH đất nước đòi hỏi các trường trung cấp chuyên nghiệp các trường có giáo dục chuyên nghiệp cung cấp nguồn lao động có trình độ cao cho đất nước đủ về
số lượng và đảm bảo chất lượng thì hệ thống các trường TCCN phải chú trọng đến vấn đề chất lượng đào tạo
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục TCCN nói riêng được xem như một trong những yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Sản phẩm đào tạo của các trường TCCN chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng số nhân lực đang tham gia lao động nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của hệ thống kinh tế-xã hội
Cũng như các trường có đào tạo hệ TCCN trong cả nước, trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, Trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên đứng trước nhiều khó khăn, trước hết là: hệ thống chính sách về giáo dục - đào tạo vẫn chưa thật đồng bộ, chưa hoàn chỉnh; nhiều chế
độ chính sách được ban hành đã quá lạc hậu, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn cũng như xu thế phát triển hiện nay, chẳng hạn về chế độ công tác của giáo viên, quy định về khung học phí, về trách nhiệm và mối quan hệ giữa cơ
sở đào tạo và người sử dụng lao động
Do nhu cầu học tập trong xã hội càng lớn, trong khi đó nguồn kinh phí của Nhà trường chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp, các nguồn thu từ dịch vụ đào tạo, lao động sản xuất còn thấp, chưa đủ để đầu tư tăng cường thêm cho
cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo, thiết bị thực tập, thực hành nghề còn thiếu
và lạc hậu, chưa thực sự phù hợp với tốc độ phát triển công nghệ mới trong sản xuất hiện nay
Trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên hiện có 02 cơ sở đóng trên 02 tỉnh, thành khác nhau (tỉnh Hưng Yên và tỉnh Bắc Ninh), đặc điểm này bên cạnh những thuận lợi có được, Nhà trường cũng gặp phải không ít khó khăn
về công tác tổ chức chỉ đạo, về công tác đầu tư, quy hoạch mở rộng phát triển trường
Bên cạnh những khó khăn nêu trên, những tác động của các hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội, vấn đề tiền lương thu nhập, vấn đề việc làm và thất nghiệp cũng phần nào ảnh hưởng đến công tác đào tạo của Nhà trường nói chung, hệ TCCN nói riêng
Trang 6Những khó khăn này chi phối quá trình đào tạo và có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của nhà trường Vì lẽ đó, cần có những nghiên cứu để xác định các biện pháp phù hợp, khả thi để nâng cao chất lượng đào tạo của trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên trong bối cảnh phát triển hiện nay.
Những phân tích nêu trên là lý do của việc nghiên cứu đề tài luận văn
“Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp của
trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên”
2 MỤC ĐÍCH
Trên cơ sở đánh giá chất lượng đào tạo của hệ trung cấp chuyên nghiệp hiện nay đề xuất một số biện pháp quản lý chất lượng đào tạo của hệ trung cấp chuyên nghiệp của Trường Cao đẳng công nghiệp Hưng Yên
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp của Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo hệ TCCN của trường Cao đẳng
Công nghiệp Hưng Yên
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ có liên quan đến đào tạo, chất lượng đào tạo TCCN
4.2 Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo hiện nay tại trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
4.3 Xây dựng một số biện pháp nhằm quản lý chất lượng đào tạo hệ TCCN của Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên là trường đào tạo đa hệ: Hệ cao đẳng, hệ trung cấp chuyên nghiệp và hệ trung cấp nghề Luận văn chỉ đi
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sâu nghiên cứu đánh giá và xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo
hệ trung cấp chuyên nghiệp Vì vậy, đề tài chủ yếu khảo sát học sinh đang học năm cuối của Trường Ngoài ra, đề tài còn khảo sát một số doanh nghiệp có học sinh của Trường đang công tác
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định được thực trạng chất lượng đào tạo hệ TCCN trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của hệ TCCN thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo của hệ TCCN trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong việc nghiên cứu tài liệu để xác định các khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
Nguồn tài liệu bao gồm các văn kiện, nghị quyết, chính sách, chỉ thị của Đảng, của Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác GDĐT, các báo cáo của Trường Cao đẳng công nghiệp Hưng Yên
Nghiên cứu tài liệu, tạp chí của các tác giả về đánh giá chất lượng đào tạo của các trường đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Bằng các phiếu thăm dò đối với người học, tìm hiểu các khía cạnh học sinh quan tâm trong học tập, các kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh trong quá trình học tập, khảo sát các cán bộ quản lý, giáo viên và các doanh nghiệp có sử dụng lao động qua đào tạo tại Trường
7.2.2 Phương pháp chuyên gia
Trang 8Tham khảo các ý kiến của các nhà quản lý, giáo viên, các chuyên gia về
GD - ĐT, các báo cáo khoa học về nâng cao chất lượng đào tạo để xây dựng
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
7.3.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo theo mô hình quản lý chất lượng của nhà trường
7.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra, khảo sát
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp quản lý chất lượng đào tạo
trong đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp
Chương 2: Đánh giá chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp
của Trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
Chương 3: Một số biện pháp quản lý chất lượng đào tạo hệ trung cấp
chuyên nghiệp của Trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRONG ĐÀO TẠO TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ một cơ sở hoạt động nào Vậy chất lượng là gì, với thuật ngữ “chất lượng “ có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo “Từ điển tiếng Việt” thì chất lượng là: “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”; Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác”
Như vậy, định nghĩa nêu trong từ điển trên chưa nói đến “khả năng thoả mãn nhu cầu” một điều cực kỳ quan trọng mà các nhà quản lý rất quan tâm
Trang 10Theo Philip B Grosby: “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định”
Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50- 109)
Theo ISO 8402 (1994): “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thoả mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn”[11, tr 22]
Theo Kaoru Ishikawa (Nhật): “Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu với chi phí thấp nhất”
Theo W Edwards Deming (Mỹ): “Chất lượng là mức độ dự báo được
về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường”
Chất lượng đạt được cần thiết phải có sự tham gia của toàn thể nhân viên Nhưng lãnh đạo chịu trách nhiệm về 90% các vấn đề về chất lượng
Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và
do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra định nghĩa trong ISO 8402:1984:
“Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo
cho nó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm
ẩn.” là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện nay
Nó phát huy được những mặt tích cực và khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trước đó, ở đây chất lượng được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn
1.1.2 Chất lƣợng đào tạo
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở
có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng Trong giáo dục đào tạo nói
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chung và đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng, chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường
Dưới đây là một số quan điểm khác nhau về chất lượng đào tạo
1.1.2.1 Chất lượng được đánh giá bằng "Đầu vào"
Một số nước phương tây có quan điểm cho rằng " Chất lượng một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó" Quan điểm này được gọi là " quan điểm nguồn lực" có nghĩa là:
Nguồn lực = chất lượng
Theo quam điểm này, một trường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất
đa dạng và liên tục trong một thời gian dài trong trường Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đã có nguồn lực "đầu vào" dồi dào nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế, hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình hiệu quả
1.1.2.2 Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra"
Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo cho rằng "đầu ra" của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với "đầu vào", "đầu ra" chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó
Có hai vấn đề quan trọng liên quan đến cách tiếp cận này Một là, mối liên hệ giữa "đầu ra" và "đầu vào" không được xem xét đúng mức Trong thực
tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá "đầu ra" của các trường rất khác nhau
1.1.2.3 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị gia tăng"
Trang 12Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên " Giá trị gia tăng" được xác định bằng giá trị của "Đầu ra" trừ đi giá trị của "đầu vào" kết quả thu được là " Giá trị gia tăng" mà trường đã đem lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường
Nếu theo quan điểm này về chất lượng trong đào tạo, hàng loạt vấn đề
về phương pháp luận nan giải sẽ nẩy sinh: Khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng "đầu vào" và "đầu ra" để tìm ra được hiệu
số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa, các trường trong hệ thống các trường TCCN lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công
cụ đo duy nhất cho tất cả các trường
1.1.2.4 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị học thuật"
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao
Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng
1.1.2.5 Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng"
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được " Văn hoá tổ chức riêng" hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được "Văn hoá tổ chức
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
riêng"với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
1.1.2.6 Chất lượng được đánh giá bằng " Kiểm toán"
Quan điểm này về chất lượng trong đào tạo được xem trong quá trình bên trong của một trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý hay không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định
về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không
Quan điểm này cho rằng, nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì
có thể có được các quyết định chính xác, và chất lượng giáo dục được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn "đầu vào" và "đầu ra" chỉ là các yếu tố phụ
Tóm lại, ngày nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng đào tạo, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi Từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
Trang 14Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản
xuất đề ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”
Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi
của người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Tại mỗi nhà trường đào tạo, hàng năm trên cơ sở nhiệm vụ được cơ quan chủ quản quy định, nhà trường xác định các mục tiêu và chiến lược đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được
“chất lượng bên ngoài”, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”
Hình 1.1 Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo
(Nguồn: Giáo trình quản lý chất lượng đào tạo )
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
“con người lao động” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu xã hội
Kết quả đào tạo
Kết quả đào tạo phù hợp nhu cầu
sử dụng > Đạt chất lƣợng ngoài
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo > Đạt chất lƣợng trong
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo
Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của qúa trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: Cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất - dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai
Vì vậy, cần nhấn mạnh rằng: chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc các yếu tố của thị trường, như quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước và người sử dụng lao động
[ơ
1.1.3 Quản lý chất lƣợng
Cũng giống như quan điểm về chất lượng sản phẩm, trên thế giới đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng, song tất cả đều có những đóng góp trong việc thúc đẩy khoa học quản trị chất lượng không
ngừng hoàn thiện và phát triển
- Theo quan điểm của nhà quản lý người Anh AG Robertson: “Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng dụng các biện pháp, thủ tục, kiến thức kinh tế, kỹ thuật đảm bảo cho sản phẩm đang hoặc sẽ được sản xuất phù hợp với thiết kế, các yêu cầu trong hoạt động kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất”
- Theo quan điểm của nhà khoa học Mỹ A.V.Feigenbaun: “Quản lý chất lượng sản phẩm đó là một hoạt động thống nhất, có hiệu quả của các bộ phận khác nhau trong một tổ chức, một đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để
Trang 16đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh tế nhất, thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng”
- Theo quan điểm của chuyên gia chất lượng Nhật Bản K.Ishikawa: “Quản
lý chất lượng sản phẩm có ý nghĩa là nghiên cứu, thiết kế, triển khai sản xuất, bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có ích nhất và bao giờ cũng có thoả mãn nhu cầu của khách hàng”
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả do sự tác động của hàng loạt nhân tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các nhân tố đó
Một khái niệm quản lý chất lượng đầy đủ phải trả lời 4 câu hỏi sau:
- Mục tiêu quản lý chất lượng là đạt cái gì?
- Phạm vi và đối tượng quản lý chất lượng?
- Chức năng, nhiệm vụ quản lý chất lượng?
- Thực hiện quản lý chất lượng bằng phương pháp, biện pháp, phương tiện nào?
Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá cho rằng: “Quản lý chất lượng
là tập hợp các hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, điều chỉnh chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến
chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”
Theo TCVN 5914 – 1994: “Quản lý chất lượng toàn diện là cách quản
lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên của nó, nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho
xã hội"
Như vậy, mỗi định nghĩa về quản lý chất lượng ở trên đều dựa vào những mục đích xem xét khác nhau, nhưng tựu chung đều thể hiện quản lý chất lượng là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao nhất Quản lý
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chất lượng có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược dài hạn và ngắn hạn, làm tốt công tác quản lý chất lượng là tiền đề và điều kiện để quản
lý các hoạt động nhịp nhàng, không chồng chéo, tránh lãng phí về nguồn vốn, nhân lực, nguyên vật liệu nhờ vậy chất lượng sản phẩm được đảm bảo và nâng cao
1.2 QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.2.1 Chất lƣợng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp
Đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Về bản chất, chất lượng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chính là chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo TCCN
Chất lượng giáo dục là miền giao thoa giữa 3 yếu tố hoạch định mục tiêu, tổ chức quá trình đào tạo và sử dụng Trong đó miền giao thoa càng lớn chứng tỏ cơ sở đào tạo đã tổ chức tốt quá trình đào tạo phù hợp với mục tiêu thiết kế ban đầu, đạt hiệu quả và có khả năng cạnh tranh với các cơ sở đào tạo khác
Hình 1.2 Miền chất lượng đào tạo
Hoạch định mục tiêu
Trang 18Nhiều người, nhất trí với quan niệm cho rằng chất lượng giáo dục là mức độ đáp ứng (đạt được) các mục tiêu giáo dục đề ra, bao gồm mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách song có thể xem xét và hiểu chất lượng giáo dục bao gồm các thành tố như sau:
- Đầu vào: Đối tượng tuyển bao gồm trình độ văn hóa của học sinh được tuyển, thể chất, phẩm chất chính trị, nhân cách đạo đức Ngoài ra cách thức tuyển sinh (thi tuyển, xét tuyển, tuyển thẳng) cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Quá trình đào tạo: Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, thời gian, hình thức tổ chức, phương pháp, kiểm tra đánh giá
- Đầu ra: Sản phẩm, người tốt nghiệp được xác định theo mức độ đạt được các tiêu chí đã đề ra trong mục tiêu đào tạo
Với tư cách một hệ thống con trong hệ thống giáo dục quốc dân, dạy nghề cũng có hai mục tiêu và ba thành tố như chất lượng giáo dục Tuy nhiên, trong khi thực hiện mục tiêu hệ thống của giáo dục là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” thì dạy nghề đặt trọng tâm mục tiêu là đào tạo nhân lực, còn đối với mục tiêu nhân cách được thể hiện ở hệ thống các năng lực thực hiện, bao gồm: Kiến thức, kĩ năng và thái độ đạt được theo các tiêu chuẩn đặt ra Chất lượng dạy nghề được hiểu theo nội hàm của chất lượng đào tạo Tuy nhiên, chất lượng dạy nghề mang những đặc trưng riêng
Hiện nay có một số quan niệm về chất lượng dạy nghề như sau:
- Theo quan điểm các khách hàng: 1/ Chất lượng dạy nghề được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo; 2/ Chất lượng dạy nghề là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể; 3/ Chất lượng dạy nghề bao gồm chất lượng trong và chất lượng ngoài (xem Hình 1.3)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 1.3 Quan niệm chất lượng trong và chất lượng ngoài
- Chất lượng dạy nghề có hai phần: Phần cứng và phần mềm Trong đó: phần cứng là bộ ba kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học tiếp thu trong quá trình đào tạo còn phần mềm là năng lực sáng tạo và thích ứng Chất lượng dạy nghề được đảm bảo thông qua các điều kiện như: Chương trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất trang thiết bị và công tác quản lý
- Về các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng dạy nghề
+ Theo mô hình ILO 500, Bộ tiêu chí bao gồm: 9 tiêu chuẩn với 78 tiêu chí có tổng số điểm đánh giá là 500 điểm Tuy nhiên, trong đó 3 tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động dạy và học (tiêu chuẩn 3, 4 và 8) gồm: Chương trình đào tạo hoạt động dạy - học, Đội ngũ giáo viên và Xưởng thực hành, trang thiết bị chiếm đến 270 điểm (mỗi tiêu chuẩn 90 điểm) Điều đó nói lên nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên và trang thiết bị thực hành là những tiêu chuẩn quan trọng, ảnh hưởng, quyết định đến chất lượng dạy nghề
+ Chất lượng dạy nghề bao gồm các tiêu chí sau: Phẩm chất nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín ) Trình độ kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp; Năng lực hành nghề (cơ bản và thực tiễn); Khả năng thích ứng với thị trường lao động; Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học
1.2.2 Hệ thống và các cấp độ quản lý chất lƣợng đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp
1.2.2.1 Hệ thống quản lý chất lượng đào tạo
Kết quả dạy nghề phù hợp nhu cầu sử dụng;
Đạt chất lượng ngoài
Kết quả dạy nghề khớp mục tiêu đào tạo;
Đạt chất lượng trong
Trang 20Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện
có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết kế chương trình đào tạo đến khâu tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo)
Hệ thống chất lượng được xem như một phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng quản lý chất lượng Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 -
94, hệ thống chất lượng là cơ cấu tổ chức trách nhiệm, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để quản lý chất lượng Trong đào tạo, hệ thống chất lượng
là cơ cấu tổ chức, quản lý chất lượng đào tạo ở phạm vi toàn ngành hoặc ở từng cơ sở đào tạo
Dưới đây là giản đồ nhân quả của Ishikawa về quản lý chất lượng đào tạo
Hình 1.4 Giản đồ nhân quả của ISHIKAWA
Nguyên vật liệu
(con người cho qt
đào tạo )
Thiết bị, công nghệ, nội dung, CT cơ sở
VC
Tổ chức quản lý
Chỉ tiêu chất lượng đào tạo
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(Nguồn: Giáo trình quản lý chất lượng đào tạo )
Thực hiện được mục tiêu quản lý chất lượng sẽ tạo cơ sở vững chắc để thực hiện các mục tiêu khác của nhà trường như: nâng cao sức cạnh tranh, tạo
uy tín và thương hiệu của nhà trường, mục tiêu ổn định và phát triển
Nguyên tắc của quản lý chất lượng theo ISO 9000 là:
- Định hướng vào khách hàng: chất lượng là sự thoả mãn của khách hàng, chính vì vậy việc quản lý chất lượng nhằm đáp ứng mục tiêu đó Quản
lý chất lượng là không những tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng và xây dựng nguồn lực để đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất
- Vai trò lãnh đạo: Lãnh đạo cùng thống nhất mục đích, định hướng vào môi trường nội bộ của công ty, huy động toàn bộ nguồn lực để đạt được mục tiêu của công ty
- Sự tham gia của mọi người: Con người là yếu tố quan trọng nhất cho
sự phát triển Việc huy động con người một cách đầy đủ sẽ tạo cho họ kiến thức và kinh nghiệm thực hiện công việc, đóng góp cho sự phát triển của công ty
- Phương pháp quá trình: Quá trình là một hoạt động hoặc một tập hợp các hoạt động và các nguồn lực để biến các đầu vào thành các đầu ra
Căn cứ vào các nguyên tắc trên ta thấy rằng quản lý chất lượng đào tạo
có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của một nhà trường Có
hệ thống quản lý chất lượng tốt thì mới có thể cho những sản phẩm tốt được Với một logic hiển nhiên là với các điều kiện đảm bảo chất lượng và một hệ thống quản lý chất lượng tốt, tất yếu sẽ cho ra những sản phẩm có chất lượng
1.2.2.2 Các cấp độ của quản lý chất lượng đào tạo
Quản lý chất lượng là hoạt động gắn liền với quá trình sản xuất ngay từ những năm trước cách mạng công nghiệp và sau đó được phát triển và áp dụng cho lĩnh vực giáo dục Quá trình phát triển của quản lý nói chung đi từ
mô hình chính tập trung đến các hình thức phi tập trung hơn Quản lý chất
Trang 22lượng cũng phát triển cùng quá trình từ giai đoạn trọng tâm là kiểm soát chất lượng sang đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể
* Kiểm soát chất lƣợng
Khái niệm chủ yếu trong kiểm soát chất lượng là “ quá trình này không nhằm vào gốc rễ của vấn đề Kiểm soát chất lượng chỉ giải quyết các vấn đề sau khi chúng bị phát hiện”
Kiểm soát chất lượng bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thỏa mãn các tiêu chuẩn đẫ đề ra trước đó Đây là quá trình diễn ra sau cùng của quá trình sản xuất Vì vậy, gây ra sự lãng phí lớn vì phải loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu Đây cũng là lý
do của quan điểm cho rằng, kiểm soát chất lượng là việc tóm tắt các thông tin
và hàm ý là sẽ có các ý định trừng phạt hay khen thưởng Kiểm soát chất lượng vốn dĩ là nhằm trừng phạt, áp đặt các hình phạt cho việc làm việc thiếu hiệu quả, nhưng đồng thời nó cũng cho thấy rằng, một khi sản phẩm đã đạt được mức độ tối thiểu thì không phải nỗ lực để cải tiến Kiểm soát chất lượng
dó đó, không đi ra ngoài việc chấp nhận hay từ chối một sản phẩm
Trong sản xuất, kiểm soát chất lượng là công việc của những người làm công tác chuyên môn hoặc thanh tra Trong đào tạo, việc thanh tra hay kiểm tra cũng nhằm mục đích xác định các sản phẩm của giáo dục có đạt các chuẩn mực hay không
* Đảm bảo chất lƣợng
Đây là quá trình được thực hiện trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm hàng đầu của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên
Đảm bảo chất lượng có sự phối hợp giữa người quản lý và người thừa hành, giữa cấp trên và cấp dưới Đảm bảo chất lượng phòng ngừa sai sót bằng những qui định, quy chế nhất định Như vậy, chất lượng được thiết kế trước à trong quá trình thực hiện
* Quản lý chất lƣợng tổng thể
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đối với các cơ sở đào tạo, đây là mô hình quản lý toàn bộ quá trình đào tạo từ đầu vào, quá trình và đầu ra Xuất phát từ sự nhận định chất lượng không chỉ là công việc của một số ít người quản lý, mà còn là nhiệm vụ, vinh
dự của mọi thành viên trong đơn vị cơ sở đào tạo Chất lượng sản phẩm muốn được nâng cao, đòi hỏi phải sử dụng tối ưu các yếu tố: con người và mọi nguồn lực của doanh nghiệp
Vì vậy cần phải có những biện pháp, những tác động hữu hiệu trong quản lý chất lượng, trong quản trị doanh nghiệp, nhằm huy động năng lực, nhiệt tình của mọi thành viên cùng giải quyết các vấn đề chất lượng của các
cơ sở đào tạo
Hình 1.5 Mô hình TQM trong các cơ sở đào tạo
1.3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.3.1 Yếu tố gián tiếp
1.3.1.1 Sự tăng trưởng nhanh nền kinh tế
Một thực tế đặt ra là các hoạt động giáo dục nói chung, dạy nghề nói riêng phải hướng tới phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể Trong quá trình đổi mới đất nước, mặc dù có những biến động sâu sắc trong các mặt đời sống kinh tế - xã hội, song định hướng chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là
Chất lượng
đầu vào
Quá trình đào tạo
Chất lượng đầu ra
Đo lường, đánh giá
Rút kinh nghiệm cho quá trình đào tạo
Trang 24không thay đổi, do đó những đặc trưng và tính chất cơ bản của nền giáo dục nước ta là không thay đổi Sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế nước ta trong
những năm qua theo hướng: „„Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm
tỉ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp, xuống dưới 50% Tăng tỉ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và đặc biệt là lao động ở khu vực dịch vụ trong tổng lao động xã hội’’ đã tạo nhiều tiền đề, cơ hội phát triển đất nước nhưng
đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức mới, có tác động mạnh đến giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng
Thực tế, trong những năm qua sự tăng trưởng nhanh nền kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nâng cao kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp cho người lao động Việc tập trung các nguồn lực để phát triển dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề của các CSDN là một trong những điều kiện cần thiết nhằm tạo ra đội ngũ nhân lực kỹ thuật chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh nền kinh tế (xem Hình 1.5)
Hình 1.6 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chất lượng dạy nghề
Chất lượng dạy nghề
công nghệ Nhân lực kỹ thuật
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tăng trưởng kinh tế và phát triển khoa học công nghệ song hành với phát triển NNL mà trong đó dạy nghề góp phần quan trọng và ngược lại việc tập trung các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề sẽ làm cho chất lượng NNL phát triển là điều kiện cần thiết có tác động trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển khoa học công nghệ
1.3.1.2 Thị trường lao động - việc làm
Mặc dù đã có nhiều kênh thông tin khác nhau về lao động - việc làm như tổng điều tra dân số, điều tra lao động việc làm theo định kỳ 10 năm hoặc ở phạm vi hẹp như thống kê hàng năm của Tổng cục thống kê về lao động, về GD và ĐT, số liệu điều tra của các dự án, nguồn từ các thông tin đại chúng Tuy nhiên, nhìn chung trên phạm vi cả nước nói chung chưa hình thành được một hệ thống thông tin về thị trường lao động - việc làm với các chỉ số cần thiết để các CSDN có định hướng trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật đa dạng từ xã hội Nhiều tín hiệu quan trọng của thị trường lao động - việc làm chưa được thống kê theo định kỳ và cập nhật kịp thời như số người thất nghiệp, ngành nghề được đào tạo hoặc nhu cầu thông tin về lao động theo các ngành nghề, trình độ được đào tạo Đặc biệt trong những năm gần đây nhu cầu nhân lực kỹ thuật đáp ứng cho công cuộc CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế là hết sức đa dạng và cấp thiết Chính vì vậy, những thông tin phản ánh đầy đủ về thị trường lao động - việc làm trong các mối quan hệ cụ thể về cung - cầu lao động, giá cả sức lao động và các nhân tố cạnh tranh là hết sức cần thiết Việc hiểu biết quy luật và nắm vững nhu cầu lao động - việc làm của thị trường lao động là cơ sở cho các CSDN trong việc tổ chức đào tạo đúng ngành nghề, số lượng và đảm bảo chất lượng Đối với nước ta, thị trường lao động hoạt động khách quan theo nguyên tắc của thị trường, trong đó cạnh tranh lao động trên thị trường lao động là nét đặc trưng phản ánh trình độ phát triển và tính hiệu quả của thị trường lao động Cạnh tranh trên thị trường lao động phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động, hơn nữa thị trường lao động nước ta mới
Trang 26hình thành và đang trong quá trình phát triển với nhiều nhân tố tác động nên quan hệ cung - cầu có nhiều biến động Nhiều nhân tố thị trường đã xuất hiện như: Cạnh tranh giữa những người tìm việc làm trong các kỳ tuyển dụng lao động của các công ty, xí nghiệp, cơ quan nhà nước, sự chi phối về mức sống giá cả sức lao động ở các ngành kinh tế, ở các khu vực vùng miền khác nhau Mặt khác, vai trò can thiệp của nhà nước về chính sách và pháp luật là chưa đầy đủ tạo ra những “nhiễu” trong thị trường lao động vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp Thị trường lao động của nước ta hiện vẫn là một thị trường chưa hoàn hảo, cung lớn hơn cầu, song nhìn chung thời gian qua đã có nhiều dấu hiệu phát triển Các chủ thể (doanh nghiệp, người lao động) tham gia thị trường chưa bình đẳng, cầu vẫn ép cung lao động Tuy nhiên, trong một tương lai không xa khi các DN ngày càng phát triển, nhu cầu nhân lực ngày càng lớn, cấp bách, lúc này nguồn cung lao động từ các CSDN không đủ đáp ứng, thì cạnh tranh lao động diễn ra gay gắt lúc này các DN mới thật sự
có trách nhiệm cùng với CSDN trong việc chăm lo, phối hợp đào tạo nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho chính DN của mình Thị trường lao động - việc làm có mối quan hệ mật thiết với đào tạo nhân lực Để giải quyết tốt mối quan hệ nầy cần làm rõ và trả lời được các câu hỏi cơ bản: Đào tạo cái gì? Đào tạo để làm gì? và Đào tạo cho ai?
Đào tạo cái gì? phải xác định là đào tạo những nội dung, kiến thức, kĩ năng cụ thể, những phẩm chất mà người lao động cần, DN cần, xã hội cần chứ không phải những kiến thức, kĩ năng chung chung
Đào tạo để làm gì? UNESCO nêu lên 4 trụ cột của Giáo dục và đào tạo là: Học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống với nhau Trong lĩnh vực dạy nghề, đào tạo là để làm, học là để làm, học là để chung sống và cùng phát triển
Đào tạo cho ai? Trước hết cần xác định đào tạo để cho mọi người được nâng cao dân trí, đáp ứng theo sở thích và nguyện vọng của mỗi cá nhân đồng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thời phải hướng đến việc làm theo nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội
Trong quá trình nghiên cứu, nếu thị trường lao động - việc làm hoạt động theo quy luật, nắm bắt được quy luật của thị trường, có đầy đủ những thông tin cần thiết về thị trường lao động - việc làm, thì CSDN đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cho các DN Ngược lại, thị trường lao động - việc làm hoạt động không theo quy luật, các CSDN không nắm bắt được quy luật của thị trường, thiếu thông tin về lao động - việc làm thì không thể tổ chức quá trình đào tạo hiệu quả, nhân lực qua đào tạo không thể đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho thị trường lao động, cho xã hội
1.3.2 Yếu tố trực tiếp
1.3.2.1 Nội dung chương trình đào tạo
Nội dung, chương trình đào tạo do Nhà nước quy định và quản lý Việc
tổ chức xây dựng và thống nhất ban hành chương trình khung đào tạo ở cấp vĩ
mô là có ý nghĩa quan trọng và thật sự cần thiết Về nguyên tắc “Chương trình
là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định ” Về cấu trúc “Chương trình là sự sắp đặt một cách có hệ thống các môn học và các hoạt động trong khuôn khổ một khóa học” Một chương trình theo cách hiểu đầy đủ nhất thiết phải có đủ ba thành
tố: “Cái mà người học cần, cách thức dạy- học và thời điểm cần thiết để trình
bày các nội dung” Chính vì vậy, việc xây dựng nội dung chương trình đào
tạo và sắp xếp kiến thức phải theo trình tự của sự nhận thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp trên cơ sở kế thừa và không trùng lặp Nội dung chương trình đào tạo mang tính thống nhất cao là cần thiết Tuy nhiên, dạy nghề đáp ứng yêu cầu DN, dạy nghề theo địa chỉ sử dụng, thì sự thống nhất chỉ có ý nghĩa tương đối CSDN cần xây dựng nội dung chương trình đào tạo theo hướng thích ứng, mềm dẻo, nội dung chương trình đào tạo xây dựng phải
tính đến đầu ra, tiêu chí tuyển dụng của DN “ đổi mới và chuẩn hoá nội
dung, chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, nâng cao kĩ năng thực
Trang 28hành ” Để chương trình đào tạo đáp ứng được yêu cầu DN, cần “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo ”
Về nội dung các môn học, mô đun trong dạy nghề; xu hướng vừa tích hợp vừa phân hóa nội dung theo các trình độ khác nhau phù hợp với yêu cầu đào tạo các ngành nghề khác nhau được thể hiện rõ ở phương pháp đào tạo theo mô đun Một mô đun học nghề là một bộ phận công việc được phân chia hợp lý trong toàn bộ khối kiến thức, kĩ năng của nghề Nội dung mỗi một mô đun được hình thành trên cơ sở tích hợp các kiến thức từ kỹ thuật cơ sở, kiến thức chuyên môn và những kĩ năng nghề để người học có khả năng thực hiện một công việc hoặc một phần công việc nào đó của nghề Nội dung môn học,
mô đun bảo đảm yêu cầu kế thừa và liên thông, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành nhằm hình thành kiến thức và kĩ năng
Nội dung chương trình đào tạo phải hình thành được những kiến thức,
kĩ năng, những phẩm chất mà người lao động cần, xã hội cần, doanh nghiệp cần chứ không phải đào tạo những cái mà CSDN có Khái niệm chương trình khung trong dạy nghề chỉ là tương đối, đặc biệt trong dạy nghề đáp ứng nhu cầu DN, theo địa chỉ sử dụng thì chương trình khung càng có ý nghĩa tương đối Việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu DN phải trên cơ sở có sự phối hợp tốt với DN để hướng đến mục tiêu nhằm tăng tỉ lệ nội dung chương trình phần mềm là hết sức cần thiết, thậm chí đối với các khóa bồi dưỡng hoặc sơ cấp nghề nên giảng dạy theo nội dung chương trình đào tạo do DN, người học đề xuất Nội dung chương trình đào tạo tốt là mang tính thích ứng cao, có khả năng liên thông, cần cho doanh nghiệp, cần cho người học; điều đó là hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, giải quyết tốt đầu ra
1.3.2.2 Đội ngũ giáo viên
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động tương tác lẫn nhau của người dạy và học hướng tới các mục tiêu dạy học cụ thể Dù là tương tác lẫn nhau,
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thậm chí trong phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm thì
người dạy “Giáo viên là nhân tố quyết định đến chất lượng của giáo dục’’ và
“ giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục’’ Dạy và
học gồm hai chủ thể thực hiện nhưng đồng thời chỉ một quá trình song song
diễn ra “Quá trình dạy học luôn luôn được tiến hành dưới sự lãnh đạo của
giáo viên Nhưng chính trong thời gian ấy, quá trình nắm kiến thức, kĩ năng
và kĩ xảo là hoạt động của bản thân người học” Chính vì vậy, giáo viên có
vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
Dạy nghề khác với các bậc học khác là đào tạo người lao động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và yêu cầu của lao động qua học nghề là ngoài kiến thức còn phải có kĩ năng làm việc và thái độ thích ứng với môi trường lao động Chính vì vậy, giáo viên dạy nghề ngoài kiến thức chuyên môn cần phải có kĩ năng tay nghề và kinh nghiệm từ thực tế sản xuất Thực tế muốn nâng cao chất lượng dạy nghề, chất lượng NNL phải đồng hành với việc nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên Phát triển đội ngũ giáo viên trong các cơ
sở giáo dục nói chung và CSDN nói riêng có vai trò quan trọng và là điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu đào tạo Thực tiễn cho thấy CSDN nào quy tụ được đội ngũ giáo viên, cán bộ giảng dạy có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn sản xuất và có nghiệp vụ sư phạm tốt thì chất lượng đào tạo của CSDN đó được nâng cao và ngược lại
1.3.2.3 Trang thiết bị, vật tư thực hành
Đối với dạy nghề việc tổ chức giảng dạy là theo mô đun, đồng thời với việc nâng cao kiến thức thì việc hình thành và phát triển kĩ năng cho người lao động là hết sức cần thiết Có thể nói “kĩ năng” là sự khác biệt lớn nhất trong các mục tiêu của các bậc học khác so với mục tiêu của dạy nghề Trong dạy nghề, kĩ năng thực hành nghề được hình thành và phát triển cùng với quá trình thực hành thực tập của học sinh, theo nguyên lý của quá trình nhận thức
là từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
Trang 30Như vậy, để triển khai quá trình dạy nghề hiệu quả thì điều kiện cần có
là trang thiết bị và vật tư phải đảm bảo Trang thiết bị, máy móc dành cho thực tập và học liệu, vật tư dành cho học sinh thực hành có vai trò quan trọng trong việc hình thành kĩ năng, nâng cao chất lượng dạy nghề Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy nghề thì cần phải đầu tư và nâng cao số lượng, chất lượng trang thiết bị, vật tư, học liệu dành cho thực hành, thực tập của học sinh
1.3.2.4 Sự phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
Về quan điểm phối hợp đào tạo giữa CSDN và DN, những năm trước đây trong xã hội hầu hết các ý kiến được hỏi đều cho rằng: Công việc đào tạo
là do nhà trường, cơ sở đào tạo quyết định, không cần quan tâm xem xã hội hay DN cần lao động gì? và cần bao nhiêu? Đào tạo mang tính bao cấp, theo chỉ tiêu kế hoạch Chính vì vậy, dẫn tới kết quả đội ngũ nhân lực kỹ thuật sau đào tạo vừa không đáp ứng yêu cầu về cơ cấu ngành nghề vừa không đảm bảo chất lượng, cung - cầu lao động không gặp nhau Tuy nhiên, thời gian qua nhận thức của xã hội nói chung và của các CSDN nói riêng ít nhiều đã quan tâm đến thị trường lao động - việc làm, nhu cầu lao động của chính DN; trong
đó, một số CSDN bắt đầu xây dựng thương hiệu cho chính cơ sở của mình Tuy nhiên, để các CSDN nâng cao chất lượng dạy nghề, đáp ứng được nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho các DN, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường năng động luôn biến đổi như hiện nay, thì CSDN cần chủ động phối hợp với DN trong quá trình đào tạo Nội dung phối hợp đào tạo giữa CSDN
và DN là thống nhất trong việc xây dựng mục tiêu đào tạo, nâng cao vai trò trách nhiệm và cùng tác động trực tiếp vào quá trình đào tạo nhằm giải quyết tốt các tiêu chí đầu vào và việc làm cho người học Ngoài ra, để việc triển khai thực hiện mang lại hiệu quả, bền vững cần có chế tài cụ thể cũng như hành lang pháp lý nhằm ràng buộc, trong đó nhất thiết phải quan tâm đến việc đảm bảo quyền lợi của cả hai bên và người học
1.4 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.4.1 Mục đích của việc đánh giá chất lƣợng đào tạo
Làm rõ thực trạng về quy mô, chất lượng cũng như về hiệu quả các hoạt động đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn kiểm định của Nhà nước, của các
cơ quan quản lý chất lượng, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức đối với các cơ sở đào tạo và đề xuất các biện pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo Kiến nghị với các cơ quan chức năng có thẩm quyền, trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ cho các nhà trường không ngừng
mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo của mình
1.4.2 Nội dung đánh giá
Dựa trên các tiêu chuẩn kiểm định và các quy định cụ thể về các chuẩn mực (tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số ) do Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý chất lượng ban hành, công tác đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo thực hiện các nội dung sau:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, số liệu, các minh chứng cần có theo các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định đề ra
- Tổ chức khảo sát thu thập các ý kiến tự đánh giá của các cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường Khảo sát tình hình việc làm của học sinh sau khi
ra trường; lấy ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ sở sử dụng nhân lực do nhà trường đào tạo
- Tổng hợp thông tin đánh giá theo các tiêu chuẩn kiểm định và bằng chứng thu được
1.4.3 Quy trình kiểm định và đánh giá chất lƣợng giáo dục đào tạo
Quy trình đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo gồm các bước cơ bản như sau:
Hình 1.7 Sơ đồ quy trình đánh giá và kiểm định chất lƣợng đào tạo
Đăng ký
kiểm
định
Tự đánh giá
Đánh giá của nhóm chuyên gia kiểm định
Công nhận
Trang 32Trong quá trình đánh giá ở bước 2 và bước 3, nếu kết quả đánh giá không phản ánh khách quan thực tế chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ dẫn đến những kết quả sai lệch trong quá trình kiểm định và công nhận kết quả chất lượng
1.4.4 Phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo
1.4.4.1 Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo
Để có một cơ sở thống nhất cho quá trình đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo các trường TCCN hiện nay, các chuyên gia có thể sử dụng một số tiêu chí trong " Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học Việt Nam" của Bộ Giáo dục và Đào tạo (phụ lục 1) làm bộ tiêu chí chuẩn để đánh giá chất lượng đào tạo Tuy nhiên, trong bộ tiêu chí này có nhiều tiêu chí chưa phù hợp với điều kiện các trường TCCN, đề tài sẽ điều chỉnh, lược bỏ hoặc thay thế bằng các chỉ số đánh giá phù hợp với thực tế của Nhà trường và phù hợp với các quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT Cụ thể đề tài sử dụng các tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Tổ chức và quản lý
Trong các cơ sở đào tạo, công tác tổ chức và quản lý là điều kiện tiền
đề đảm bảo cho các hoạt động của trường thực hiện được mục tiêu, kế hoạch đào tạo đề ra Tiêu chí này bao gồm các chỉ số mang tính định tính, đề tài dựa
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
theo kết quả chủ quan của lãnh đạo Nhà trường và cán bộ quản lý phòng, khoa để đánh giá, bao gồm các chỉ số:
Nhóm chỉ số 1: Cơ cấu tổ chức của trường được thực hiện theo quy định, được cụ thể hoá trong quy chế về tổ chức và hoạt động của trường
Nhóm chỉ số 2: Có hệ thống văn bản để tổ chức và quản lý các hoạt động của Nhà trường
Nhóm chỉ số số 3: Trách nhiệm và quyền hạn của tập thể lãnh đạo, cá nhân cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường được phân định rõ ràng
Nhóm chỉ số số 4: : Cơ sở đào tạo có chiến lược và kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp với sự phát triển KT - XH của địa phương và của cả nước; có biện pháp giám sát và định kỳ đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Nhóm chỉ số số 5: Tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể trong trường hoạt động có hiệu quả và được đánh giá - xếp loại hàng năm; các hoạt động trong nhà trường tuân thủ theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Tiêu chí 2: Chương trình đào tạo và tài liệu chuyên môn
- Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy và học tập cho các ngành đào tạo trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có sự tham gia của các giảng viên và cán bộ quản lý
- Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, có cấu trúc hợp lý được thiết kế một cách có hệ thống, đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của từng trình độ đào tạo và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động
- Chương trình đào tạo có đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa kiến thức lý thuyết và kiến thức thực hành đối với từng ngành học
- Chương trình đào tạo được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng, người tốt nghiệp, các tổ
Trang 34chức giáo dục và các tổ chức khác, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hội
- Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên thông hợp lý giữa các trình độ, các phương thức tổ chức đào tạo và giữa các trường
- Tỷ lệ trung bình đầu giáo trình đã được thẩm định/ ngành đào tạo
Tiêu chí 3: Đội ngũ giáo viên giảng dạy
Đội ngũ giáo viên thể hiện bằng số lượng và chất lượng giáo viên Chất lượng giáo viên thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thâm niên giảng dạy và các công trình nghiên cứu khoa học
Tiêu chí 4: Nâng cao và cập nhật kiến thức chuyên môn của cán bộ
Cán bộ trong trường thường xuyên học tập nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ Trường tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ có chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cụ thể:
- Trường có chính sách động viên khuyến khích cán bộ thường xuyên học tập nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
- Tỷ lệ cán bộ có các chứng chỉ về cập nhật kiến thức, cập nhật phương pháp giảng dạy và nghiệp vụ
Tiêu chí 5: Phương pháp giảng dạy và học tập
- Phương pháp phát huy tính tích cực của sinh viên
- Tỷ lệ cán bộ sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy
- Quy trình và tiêu chí đánh giá hiệu quả của phương pháp giảng dạy
- Tỷ lệ môn học được sinh viên đánh giá có phương pháp tốt
- Tỷ lệ môn học được đồng nghiệp đánh giá có phương pháp tốt
Tiêu chí 6: Đề tài nghiên cứu khoa học
Tiêu chí này là thước đo hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ CBGD và sinh viên được đánh giá thông qua 2 chỉ số này trong 1 năm:
- Số lượng công trình nghiên cứu khoa học (báo cáo khoa học, ứng dụng vào công nghệ sản xuất, )
- Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tiêu chí 7: Năng lực của sinh viên:
Đánh giá năng lực của sinh viên là một trong những khâu chính trong đánh giá chất lượng đào tạo Các chỉ số đánh giá:
- Chất lượng học sinh tuyển học hàng năm, được thể hiện: học lực lớp
12, điểm thi và xếp loại tốt nghiệp phổ thông trung học, điểm thi vào đại học
- Điểm học tập các học kỳ
- Phần trăm gia tăng về kết quả học tập qua các học kỳ, năm học của sinh viên các lớp, các khoá khác nhau
- Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp (So sánh các năm)
- Tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm (So sánh các năm)
Các số liệu trên phải được lưu trữ đầy đủ, chính xác và truy cập tiện lợi
Tiêu chí 8: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập để khẳng định sinh viên thu được khối lượng kiến thức và các kỹ năng theo đúng mục tiêu đào tạo của trường; sinh viên tốt nghiệp đạt được các yêu cầu của mục tiêu của bậc đào tạo Các chỉ số đánh giá:
- Sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau để đánh giá khách quan kết quả học tập của sinh viên
- Kết quả kiểm tra/thi được phân tích để cung cấp các thông tin làm cơ
sở thúc đẩy các hoạt động: cải tiến phương pháp học tập của sinh viên; tăng giảm khối lượng kiến thức và các kỹ năng phù hợp với yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Tiêu chí 9: Hệ thống cơ sở hạ tầng cơ sở
Cơ sở vật chất là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả và hiệu suất trong đào tạo Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc
áp dụng đúng các tiêu chuẩn quy định trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3981: 1985 của Viện Thiết kế trường học - Bộ GD&ĐT về cơ sở vật chất là việc rất khó khăn đối với hầu hết các trường TCCN tại Việt Nam Do đó,
Trang 36trong 2 tiêu chí của lĩnh vực này, các chỉ số đánh giá đối với các trường TCCN như sau:
- Hạ tầng cơ sở bao gồm giảng đường, lớp học, phòng thí nghiệm, khu vực thực hành thực tập, diện tích sân và trang thiết bị cho các hoạt động thực hành thí nghiệm, nghiên cứu và văn hoá thể thao của cán bộ và sinh viên
- Hệ thống thư viện tốt, đảm bảo cho cán bộ và sinh viên tra cứu nhanh chóng, cập nhật các tư liệu cho học tập và nghiên cứu là yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học
Tiêu chí 10: Tài chính và quản lý tài chính:
Tiêu chí này phản ánh nguồn lực tài chính của nhà trường và được đánh giá qua 3 nhóm chỉ số sau:
- Trường có những giải pháp và kế hoạch tự chủ về tài chính, tạo được các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của trường
- Công tác lập kế hoạch tài chính được chuẩn hoá, công khai hoá, minh bạch và theo đúng qui định
- Đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả cho các đơn vị và hoạt động của trường
1.4.4 2 Khảo sát sự hài lòng của người học
Mục đích
ở nước ta cũng như trên thế giới, giáo dục nghề nghiệp trong đó có giáo dục TCCN ngày càng được mở rộng, chất lượng giáo dục luôn là mối quan tâm của cả xã hội, vì vậy việc “bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng” ở lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp từ bậc học đại học, cao đẳng và TCCN cũng ngày càng được xã hội quan tâm
Trong bảng câu hỏi khảo sát sự hài lòng của học sinh, mỗi khía cạnh cụ thể của quá trình giáo dục đào tạo của Nhà trường được học sinh đánh giá sự hài lòng của mình theo năm mức (phục lục 4):
Mức 1= quá ít, Mức 2= ít; Mức 3= vừa; Mức 4 = nhiều; Mức 5= Rất nhiều
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguyên tắc: - Về bảng câu hỏi được phát cho sinh viên:
Các khảo sát sử dụng bảng câu hỏi được thiết kế căn bản dựa trên các cuộc trao đổi với sinh viên Quan điểm của sinh viên về những gì nên được hỏi trong bảng câu hỏi sẽ thu được thông qua thảo luận nhóm, phỏng vấn qua điện thoại, hay các trả lời trong bảng phỏng vấn từ các khảo sát khác
- Sự cẩn mật:
Điều cần thiết là những trả lời phải được giữ kín hoàn toàn để động viên và giữ được sự tin cậy của quy trình khảo sát Bất kỳ khảo sát sự hài lòng nào, không cần biết ai là người trả lời nhưng cần biết trả lời là gì và chi tiết của những khía cạnh để đo lường sự hài lòng phân theo các biến
- Hành động là một phần của quản lý:
Phương pháp khảo sát sự hài lòng của học sinh thông qua việc đánh giá các tiêu chí quá trình giáo dục của nhà trường là một việc làm cần thiết, đòi hỏi người quản lý phải thực sự tận tâm, tận tuỵ với quy trình, khao khát và mong mỏi cải tiến trên cơ sở kết quả của thông tin phản hồi từ phía người học Nếu không nhà trường sẽ đánh mất đi niềm tin tưởng của sinh viên vào quy trình đào tạo của Nhà trường Như nhà giáo dục Harvey có nói rằng “ mọi người biết được điều gì dự định sẽ diễn ra và một vài điều thực sự đã diễn ra
để cải tiến trường, đó mới là kết quả của cuộc khảo sát”
Trang 38- Hiệu chỉnh dữ liệu, nhập dữ liệu
- Phân tích dữ liệu
- Viết báo cáo sơ bộ
- Thảo luận để tìm ra các biện pháp
1.4.4.3 Đánh giá chất lượng đào tạo từ phía người sử dụng lao động
Trong Nghị quyết Đại hội XI, Đảng ta đã xác định giáo dục và đào tạo
là yếu tố trực tiếp, có vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người
và đối với quá trình đào tạo nhân lực cho CNH - HĐH Ngoài ra, giáo dục còn giữ chức năng dự báo liên tục nhu cầu tương lai của xã hội và đào tạo nhân lực để áp ứng nhu cầu này
Thông qua mối liên hệ giữa nhà trường với người sử dụng lao động, sinh viên ra trường nhanh chóng có việc làm phù hợp với chuyên môn được đào tạo và người sử dụng cũng tìm được những nhân viên có năng lực thích hợp với vị trí mà họ cần tuyển
Những kỹ năng cơ bản của sinh viên được người sử dụng lao động
quan tâm
Giáo dục nghề nghiệp thế giới hiện nay đang có khuynh hướng chú trọng vào việc giúp học sinh, sinh viên đạt được các mục tiêu sau đây: kiến thức chuyên môn, các kỹ năng cơ bản và thái độ hay hành vi cần thiết trong một xã hội có khuynh hướng toàn cầu hoá Trong đó, khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế luôn là kỹ năng cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng và TCCN Bên cạnh đó, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nghiên cứu, trình bày, kỹ năng tổ chức là các kỹ năng không thể thiếu được
Theo điều tra của tạp chí Update Japan, thì các doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động thường chú ý đến các kỹ năng sau đây của học sinh sinh viên tốt nghiệp: nhiệt tình trong công tác, sự sáng tạo, kiến thức chuyên môn, cá tính, các hoạt động trong lĩnh vực khác, kiến thức thực tế, thứ hạng trong học tập và uy tín của trường đào tạo
Các tiêu chí đánh giá người lao động làm việc tại doanh nghiệp
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
“con người lao động”, có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành nghề
Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện bảo đảm nhất định như: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như: Tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp,
cơ quan, các tổ chức sản xuất - dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp Cần nhấn mạnh rằng chất lượng đào tạo được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp
Xuất phát từ quan niệm về chất lượng đào tạo nêu trên, dựa trên khảo sát lấy ý kiến của một số doanh nghiệp tại các doanh nghiệp có sử dụng nhân lực do trường đào tạo tại các tỉnh Hưng Yên và tỉnh Bắc Ninh Đề tài đề xuất xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực của những người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp được đào tạo hệ TCCN và công nhân như sau:
- Trình độ chuyên môn: Thể hiện qua việc nắm vững chuyên môn được đào tạo hay không, mức độ vững vàng về chuyên môn có đáp ứng được mong đợi của xã hội hay không, chuyên môn có đủ để làm việc ngay hay phải được đào tạo thêm
- Kỹ năng thực hành: Người được đào tạo có khả năng ứng dụng chuyên môn vào việc giải quyết những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, trong hoạt động nghề nghiệp hay không, có khả năng làm và tự tạo việc làm hay không, khả năng sử dụng ngoại ngữ, vi tính như thế nào
Trang 40- Năng lực sáng tạo: Trong công việc thường xuyên đưa ra những sáng kiến (thể hiện sự khác lạ và tính độc đáo) trong công việc giải quyết các vấn
đề trong cuộc sống hay không, hay chỉ biết bảo sao làm vậy
- Năng lực hợp tác: Trong công việc thường ngày có biết cách cùng phối hợp với những người khác, với đồng nghiệp hay chỉ khép kín trong ốc đảo của mình? Có biết lắng nghe và chấp nhận đồng nghiệp cũng như khả năng và mức độ tham gia giải quyết các vấn đề chung của nhóm
- Năng lực truyền thông: có biết cách sử dụng ngôn ngữ bằng lời và không bằng lời để diễn đạt những ý kiến của mình cho người khác hiểu và chấp nhận hay không, có khả năng thương lượng và đàm phán hay không
- Phẩm chất đạo đức - nhân văn: Là người có tính trung thực hay không, có tinh thần trách nhiệm hay không, có biết xem trọng lợi ích tập thể hay không, có dám đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình hay không, có biết cùng vui – buồn với bạn bè và đồng nghiệp hay không
- Khả năng thể lực: Có khả năng làm việc với cường độ cao và có khả năng đứng vững trước những áp lực trong công việc hay không
Bảng 1.1 Các yêu cầu đối với học viên tốt nghiệp TCCN
(Nguồn: Tạp chí Update Japan)
Quy trình nghiên cứu đánh giá
Quy trình nghiên cứu khảo sát gồm 9 bước:
- Xác định vấn đề nghiên cứu