Do đó, luận văn này trên cơ sở đi sâu, khảo sát, tìm hiểu, phân tích những đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trên hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa trong thơ tình Lưu Quang Vũ, chỉ ra nét đ
Trang 1LÊ LAN HƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -o0o -
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ TÌNH
LƯU QUANG VŨ
THÁI NGUYÊN 2012
Trang 2Më ®Çu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghệ thuật của văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, nói cách khác
“ngôn ngữ chính là chất liệu cho một loại hình nghệ thuật có tên gọi là văn học” [1,tr.1] Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là sự hóa công của người nghệ sĩ,
mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân Bằng chất liệu ngôn ngữ, các nhà thơ đã học hỏi, chắt lọc, sáng tạo để làm nên sự lung linh
huyền diệu cho đứa con tinh thần của mình
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng là một trong những mảng đề tài nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, một lĩnh vực hoạt động đặc thù: hoạt động nghệ thuật Việc nghiên cứu thơ ở phương diện ngôn ngữ, trong đó tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của một tác giả là một công việc đầy lí thú nhưng cũng rất phức tạp, là một hướng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính liên ngành hiện nay
1.2 Trong sự nghiệp ngắn ngủi nhưng nhiều thành tựu của mình, điều tha thiết đầu tiên, điều gửi gắm cuối cùng mà Lưu Quang Vũ dành cho cuộc đời này vẫn cứ là thơ, nhất là thơ tình Thật vậy, thơ tình Lưu Quang Vũ là nơi khởi hành cuộc đi tìm lớn nhất, cũng là nơi hành hương lớn nhất, nơi ẩn náu cuối chót của chàng thi sĩ buồn này trở về với bản thể của chính mình Thơ, với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn, ân cần riêng của tâm hồn chàng với đời sống, bởi tấm tình riêng đã hòa với tình chung, với dân tộc, với đất nước,…Vì lẽ đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ tình Lưu Quang Vũ luôn là một đề tài có sức hấp dẫn cho những ai quan tâm đến việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Mặc dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có những đánh giá, phân tích về nhiều mặt như: nội dung, tư tưởng, hình thức, đề tài, chủ đề… trong thơ tình Lưu Quang Vũ, nhưng cho đến nay chưa có công
Trang 3trình chuyên biệt nào nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ tình của ông, để góp phần hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật trong thơ của tác giả này
1.3 Thực tiễn giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay cho thấy, các giáo viên thường thiên hướng khai thác bình giảng các khía cạnh của cảm xúc, hình ảnh trong thơ, mà chưa chú ý đúng mức đến việc chỉ ra được sự sáng tạo của tác giả trên cả hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa của thơ Điều này khiến cho việc tiếp thu cũng như bình giá tác phẩm nhiều khi thiếu
cơ sở và không làm rõ được đặc điểm phong cách tác giả
Lưu Quang Vũ là một trong những tác giả có sáng tác được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông Vì vậy, việc nghiên cứu thơ tình Lưu Quang Vũ dưới góc độ ngôn ngữ sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của ông nói riêng, và thơ nói chung có hiệu quả hơn, giúp các thầy cô có cơ sở để truyền đạt và giúp học sinh cảm nhận sâu sắc hơn những đặc trưng của loại hình nghệ thuật rất tinh tế và phức tạp này, thể hiện qua các tác phẩm thơ cụ thể
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ
2 Lịch sử vấn đề
Nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ mất ở tuổi bốn mươi, khi sức sáng tạo đang dồi dào, tài năng đang độ chín Cuộc đời, sự nghiệp và sự
ra đi đột ngột của Lưu Quang Vũ cùng người bạn đời - nhà thơ Xuân Quỳnh
đã trở thành một sự kiện trong giới văn nghệ Niềm tiếc thương vô hạn của gia đình, người thân, bạn bè và của hàng triệu độc giả, khán giả đã thôi thúc
họ đọc lại, nhìn nhận và đánh giá những gì ông, bà đã gửi lại cho thơ ca, cho cuộc đời Những bài viết về Lưu Quang Vũ được đăng tải trên báo, và được
tập hợp thành tuyển tập Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm Điều đáng chú
ý là bên cạnh việc khẳng định thành tựu của Lưu Quang Vũ - nhà viết kịch, chân dung Lưu Quang Vũ - nhà thơ được tái dựng ngày một sắc nét hơn Với hành trình sáng tác hơn hai mươi năm, một khoảng thời gian sáng tác
Trang 4chưa dài, ông đã kịp đặt tên cho 12 tập thơ, trong đó có nhiều tập đã hoàn
chỉnh Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Cuốn sách xếp lầm trang…Lưu
Quang Vũ thực sự đã là một thi sĩ tài năng, một cá tính thơ độc đáo trong dòng thơ Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỉ XX
Theo thời gian, mỗi tác phẩm của Lưu Quang Vũ ra đời đều thu hút được
sự chú ý, không chỉ của bạn đọc mà của giới phê bình nói chung Cùng với sự
ra đời của các tập thơ, là sự xuất hiện nhiều bài viết, bài giới thiệu, bài bình về thơ Lưu Quang Vũ nói chung và thơ tình Lưu Quang Vũ nói riêng Nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng như Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Vũ Quần Phương, Phong Lê, Vương Trí Nhàn…và cả các nhà thơ cùng thời khác như Anh Ngọc, Phạm Tiến Duật…đã đánh giá cao tài năng tâm huyết và những đóng góp của Lưu Quang Vũ với thơ ca hiện đại
Lưu Quang Vũ mở đầu cho sự nghiệp cầm bút của mình bằng thơ Đó là
phần Hương cây trong tập Hương cây- Bếp lửa in chung với Bằng Việt năm
1968 Ngay từ khi mới ra đời, tập thơ đã chiếm được rất nhiều cảm tình của bạn đọc Cái tên Lưu Quang Vũ lập tức thu hút sự chú ý của các nhà phê bình
danh tiếng Bài Một cây bút trẻ nhiều triển vọng của Hoài Thanh là bài viết
đầu tiên về thơ Lưu Quang Vũ Ở đây chỉ qua những bài thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ, nhà phê bình văn học nổi tiếng này đã nhận ra tâm hồn thi sĩ tài hoa nơi ông và chỉ ra hướng phát triển của thơ ông Hoài Thanh còn tìm ra nét
bản chất trong thơ ông, buồn và đắm đuối
Trong bài viết Những bài thơ sống với thời gian, Bích Thu đã thể hiện sự
đồng cảm sâu sắc với những bài thơ buồn mà Lưu Quang Vũ viết trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất Chính những nỗi đau tâm hồn và sự đắng cay nghiệt ngã của số phận đã giúp ông sáng tác nên những bài thơ sống mãi trong lòng bạn đọc Bài viết của Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ đều nêu lên suy nghĩ, dấu ấn cảm xúc của mình về thơ tình Lưu Quang Vũ
Vũ Quần Phương với bài Đọc thơ Lưu Quang Vũ không ghi lại một vài
Trang 5nhận xét, đánh giá về từng tập thơ, mà viết rất công phu, cung cấp cho người
đọc cái nhìn tương đối rõ ràng về đời thơ Lưu Quang Vũ từ tập Hương cây đến Cuốn sách xếp lầm trang và Mây trắng của đời tôi Mỗi chặng đường thơ
ông, Vũ Quần Phương đều thể hiện một sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc với
những nhận xét xác đáng Qua đó tác giả khẳng định:“Đắm đuối là bản sắc
cảm xúc Lưu Quang Vũ Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh”[46,
tr.36] Ngoài ra còn có những bài viết, bài bình của Nguyễn Thị Minh Thái, Anh Ngọc, Nguyễn Hoàng Sơn…
Có thể nói, cuốn Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật do Lưu
Khánh Thơ chủ biên, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cũng là một công trình đáng chú
ý Riêng về thơ, cho thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ từ nhiều góc độ, nhưng tựu trung, đều có một cái nhìn đầy thiện cảm, kì vọng ở một cây bút thơ đang hồi sung sức, một giọng điệu riêng, một phong cách cần ghi nhận
Cuốn Đối thoại tình yêu Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ, lại nhìn ở một góc
độ khác Từ việc tuyển lựa những bài thơ đặc sắc nhất của cả Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ, những bài viết của giới phê bình về thơ của Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh, và cả những bức thư ân tình của hai người đã tạo nên một thế đối thoại thú vị, dường như Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ đã đối thoại với nhau qua những trang thơ, những vần thơ tình yêu nồng nàn nóng bỏng Nhưng hơn thế nữa, đó là cuộc đối thoại xuyên suốt của Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ với bạn đọc trung thành, qua hai mươi năm vẫn rất mực yêu mến tác phẩm của hai vợ chồng tài hoa này Tuy trong mục phê bình, đánh giá, vẫn
là tuyển chọn những bài viết cũ, nhưng tổng quan cuốn sách đã cho thấy một Lưu Quang Vũ, đời hơn, gần gũi hơn với bạn đọc
Bên cạnh đó, trong quyển Một số gương mặt văn chương học thuật Việt
Nam hiện đại, Phong Lê có hai bài viết về Lưu Quang Vũ Cả hai bài viết đều
Trang 6đánh giá cao tài năng và sức sáng tạo nơi anh Anh Ngọc và Phạm Tiến Duật
trong cuốn Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp cũng đều thể
hiện những tình cảm sâu sắc cùng sự trân trọng đối với những gì mà Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh để lại cho chúng ta
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã có những nhận định, đánh giá khái quát vẻ đẹp thơ Lưu Quang Vũ trên nhiều phương diện Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, việc nghiên cứu thơ tình Lưu Quang Vũ nói riêng mới chỉ dừng lại ở những bài viết riêng lẻ, những nhận xét ban đầu nhiều hơn là những công trình nghiên cứu, mang tính thống kê, phân tích tổng hợp thực sự Mặt khác, hầu hết các bài nghiên cứu về giá trị thơ tình Lưu Quang Vũ đều tiếp cận từ góc độ văn học Còn từ góc độ ngôn ngữ học thì chưa thấy có một chuyên luận nào đi sâu, khảo sát, đánh giá các sáng tác của Lưu Quang Vũ một cách đầy đủ và toàn diện
Do đó, luận văn này trên cơ sở đi sâu, khảo sát, tìm hiểu, phân tích những đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trên hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa trong thơ tình Lưu Quang Vũ, chỉ ra nét đặc trưng tiêu biểu của Lưu Quang Vũ trong các tiếng thơ cùng thế hệ, và khẳng định Lưu Quang Vũ như một gương mặt tiêu biểu của thời kì thơ ca kháng chiến chống Mỹ cũng như thơ ca của thế kỉ XX Những ý kiến của người đi trước là những gợi dẫn quý báu để
chúng tôi tiếp cận và nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu
Trang 7năng biểu đạt, xây dựng các hình ảnh, biểu tượng của ngôn ngữ thơ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài, nhằm xác lập khung lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài: khái niệm thơ, đặc điểm ngôn ngữ thơ, khái niệm bài thơ, khổ thơ, câu thơ, vần , nhịp…
- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện hình thức và ngữ nghĩa: thể hiện ở cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ, với các thể thơ, thanh điệu, vần, nhịp, về đặc điểm sử dụng từ ngữ và các biểu tượng ngôn từ
- Từ sự phân tính nói trên, khái quát lên những đặc điểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ, hướng tới nhận xét về đặc điểm phong cách thơ Lưu Quang Vũ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong sự nghiệp của Lưu Quang Vũ, thơ là niềm đam mê lớn nhất Hội
Nhà văn Hà Nội đã trao giải “Thành tựu trọn đời về thơ” cho thơ Lưu Quang
Vũ Ông viết về nhiều đề tài khác nhau, song dấu ấn đậm nét nhất vẫn là
Trang 8trưng (trường từ vựng), các biểu tượng ngôn từ tiêu biểu, trên cơ sở khảo sát
115 bài thơ tình được in trong cuốn Lưu Quang Vũ- Thơ tình - Nhà xuất bản
Văn học, 2002
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nhiên cứu trên, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này sử dụng khi khảo sát, để thống kê tần số xuất hiện, phân loại các yếu tố hình thức và ngữ nghĩa trong thơ tình Lưu Quang Vũ, từ đó là
cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá về những đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ tình Lưu Quang Vũ như việc sử dụng từ ngữ, các biểu tượng ngôn từ, các hình thức: thể thơ, vần, nhịp…chúng tôi sẽ khái quát những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ thơ và phong cách thơ Lưu Quang Vũ
5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh được sử dụng để thấy rõ nét sự tương đồng và khác biệt của Lưu Quang Vũ so với các nhà thơ cùng thời, sự vận động và phát triển của chính bản thân hồn thơ Lưu Quang Vũ, (giữa hiện đại với truyền thống), để từ đó thấy được sự sáng tạo, cách tân, và bản sắc riêng của thơ tình Lưu Quang Vũ
6 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận :
Đây là lần đầu tiên có một luận văn nghiên cứu tương đối đầy đủ và toàn diện đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa, theo cách tiếp cận ngôn ngữ học Kết quả của luận văn có
Trang 9thể sẽ góp thêm tư liệu, bổ sung cách nhìn tiếp cận văn chương từ góc độ ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện hình thức Chương 3 : Ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện ngữ nghĩa
Cuối luận văn là Phụ lục gồm một số ảnh, bút tích của nhà thơ
Trang 10
Ch-¬ng 1
c¬ së lý thuyÕt
1.1.Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm thơ
Thơ là một thể loại văn học nảy sinh và phát triển rất sớm, được xem là hình thái văn học đầu tiên của nhân loại Ở nhiều dân tộc trên thế giới, trong một thời gian tương đối dài, thuật ngữ thơ được dùng để chỉ chung cho văn học Kể từ khi ra đời cho đến nay, thơ ca đã không ngừng vận động và biến đổi cùng tiến trình văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử văn hóa, quan niệm về nội dung thơ, hình thức thơ khác nhau Vì thế, rất khó để tìm một định nghĩa thơ tiêu biểu, ổn định cho thơ Cho đến nay người ta vẫn không thể thống kê có được bao nhiêu định nghĩa về thơ Khi bàn về vấn đề này, mỗi học giả lại có một cách nhìn nhận riêng, đặc biệt khi họ tiếp cận thơ từ nhiều góc độ khác nhau
Platôn xem nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng như một hiện tượng thần bí, cao siêu Đối lập với quan niệm này, Arisstotle coi thơ ca là hiện tượng do con người tạo ra theo những quy luật khác nhau, những quy tắc tổ chức chặt chẽ
Ở Trung Hoa, nói đến thơ ca, các học giả thường nhấn mạnh tới chức năng xã
hội của nó Tuân Tử, Trang Tử cho rằng:“Thi dĩ ngôn chí”, “Thi dĩ đạo chí”,
tức là thơ ca là để giáo hóa đạo hóa, di dưỡng tính tình, để khí ngôn cảm hoài
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trước kia gần như xuất phát từ nội dung Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ Phan
Chu Tiên, thế kỷ XV, khi biên soạn Việt Nam thi tập tân san - là quyển hợp tuyển thơ ca các đời - từ đời Trần đến đời Lê, đã viết: “trong lòng có điều gì,
tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy” (dẫn theo 66, tr.10] Lê Quý
Đôn khẳng định: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” Theo Phan Huy Ích
“Thơ là để nói chí hướng Bậc quân sĩ lúc nhà rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại hình trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại cho người
Trang 11sau, dùng làm niên phải để lại lâu dài Đó thực là kho báu trong nhà, đâu chỉ phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình phong vật mà thô…” [26, tr.7] Đây được coi
là một nguyên tắc mĩ học của thơ ca Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại Quan niệm này đã chi phối, định hướng sáng tác của các thi sĩ nho gia nhiều thế kỉ
Bước sang thế kỉ XX, đời sống xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, lớp người mới với cách sống mới, suy nghĩ mới, tình cảm mới xuất hiện
Mở đầu là Tản Đà, rồi các nhà thơ mới với những cách tân táo bạo đã làm đổi thay bộ mặt thơ ca nước nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ ca cả nội dung lẫn hình thức Từ đấy đến nay, các ý kiến về thơ cũng mở ra một cái nhìn mới xác hợp với đặc trưng của thơ ca hơn Có định nghĩa thiên về xu hướng thần bí hoặc dựa trên nội dung phản ánh hoặc dựa trên cấu trúc ngôn ngữ hoặc dựa vào tính nội dung của hình thức…
“Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”[37, tr.132]
“Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu
để thể hiện nội dung một cách hàm súc” [43, tr.1478]
Định nghĩa về thơ của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là chung nhất, khái quát nhất cho tất cả các quan niệm nêu trên:
“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [16, tr.309]
Các định nghĩa trên tuy khác nhau về góc nhìn, nhưng đều có sự thống nhất tương đối về đặc điểm của thơ, đó là:
- Thơ có hệ thống, có tổ chức riêng
- Có nhịp, vần điệu
Trang 12- Thể hiện cảm xúc riêng bằng hình ảnh
Từ đó, có thể đi đến sự thống nhất giữa nội dung - hình thức của thơ như sau: Thơ là hình thức sáng tác của văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu
1.1.2 Ngôn ngữ thơ
Nếu như giai điệu âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét
là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là
chất liệu của văn chương Macxim Gorki đã nói “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của của văn học” Tuy nhiên tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi
thể loại văn học có đặc điểm riêng Trong thơ, ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là thứ ngôn được chưng cất công phu Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ
nhận trong tính yếu thơ, vì “ thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ”
Ngôn ngữ thơ là đỉnh cao của sự chắt lọc, là sự biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa), vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc) Các đặc điểm trên tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa Hay nói một cách giản dị, nếu là ngôn ngữ thơ thì phải mang đầy đủ những thuộc tính: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm
Tuy nhiên, không phải lúc nào những đặc điểm này cũng biểu hiện giống nhau, mà tùy thuộc vào mỗi loại tác phẩm chúng được biểu hiện bằng những sắc thái và những mức độ khác nhau Đồng thời mỗi loại tác phẩm theo thể loại lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc trưng riêng Điểm nổi bật của thơ ca là ở chỗ chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như tâm tư tình cảm của con
người, đúng như Phan Ngọc đã nhận xét:“Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ
Trang 13hết sức quái đản” [37, tr.132] Như vậy ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ đời
thường và khác với ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc của nó Lời thơ ít nhưng cảm xúc và ý nghĩa hết sức phong phú, giàu sức gợi cảm Vì thế ngôn ngữ thơ
mang tính hình tượng rất rõ nét
Xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thơ ca
Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, các tác giả đã dựa vào nguyên lí của F.de Saussure về sự hoạt động của ngôn ngữ theo quan hệ hình và quan hệ cú đoạn để đưa ra hai cơ chế của hoạt động ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Nguyễn Phan Cảnh cho
rằng cơ chế lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là “Các đơn vị
ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng của chúng”
[5, tr.16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hành động ngôn
ngữ đó là “Các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan
hệ tương cận giữa chúng” [5, tr.24 ] Cũng theo tác giả này, nếu như văn xuôi
làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kị thì ngược lại chính cái điều mà văn xuôi rất tối kị ấy lại là một thủ pháp làm việc của thơ Trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo
Thao tác lựa chọn giúp cho nhà thơ có thể lựa chọn một đơn vị trong một loạt các đơn vị có giá trị tương đương, có thể thay thế cho nhau trên trục dọc, sau khi đã lựa chọn thì thao tác kết hợp lại cho phép người làm thơ có thể tạo
ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy, ít lời mà nói được nhiều ý, “ý
ở ngoài lời” Đây chính là cách dùng từ sao cho “đắt” nhất, có giá trị biểu hiện cao nhất Nguyễn Du - bậc thầy về dùng từ chính xác và hàm súc đã khắc
Trang 14họa thật hình ảnh về các nhân vật của mình chỉ bằng vài từ ngữ Ông đã “giết chết” các nhân vật phản diện như: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến,
mỗi tên chỉ bằng một từ Sự vô học của Mã Giám Sinh: Ghế trên ngồi tót sỗ
sàng, cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào, cái
tầm thường, ti tiện của Hồ Tôn Hiến: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình Lựa
chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý là điều khá phức tạp Trong một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, người viết cần liệt kê vài từ để chọn Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi
chọn từ “khô” để đưa vào câu thơ: Non cao những ngóng cùng trông/ Suối
khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề non nước) Nếu thay từ “khô” bằng
từ tuôn, hay từ trôi thì hiệu quả sẽ như thế nào?
Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ thơ ca cô đúc, chặt chẽ với số lượng từ rất hạn định nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn Vấn đề đặt ra với mỗi nhà thơ là phải chọn một cách nói tốt nhất đến mức độ người ta cảm thấy không thể khác được Như vậy nhờ cách tổ chức ngôn ngữ độc đáo này mà ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn thấy ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính đa tầng ý nghĩa câu thơ, giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp tinh tế của tâm trạng, tình cảm con người trong sự hữu hạn của số lượng câu chữ Và cũng vì sự mới lạ, bất ngờ của cách tổ chức ngôn ngữ mà thơ bắt người đọc phải suy nghĩ, giải mã với khát khao chiếm lĩnh trọn vẹn nội dung lẫn hình thức Thơ hấp dẫn người đọc, lôi cuốn người đọc cũng là bởi lẽ đó
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
1.1.3.1 Đặc trưng hình thức
a) Cấu trúc của thơ
a.1) Bài thơ
Theo Từ điển tiếng Việt thì bài được hiểu là “công trình sáng tác, biên
tập, có nội dung tương đối hoàn chỉnh, nhưng không dài Ví dụ : bài bình luận, bài hát, bài đăng báo” [43, tr.40] Có thể đặt khái niệm bài thơ vào hệ
Trang 15thống khái niệm về bài như trên khi hiểu bài thơ theo nghĩa rộng
Biêlinxki cho rằng:“Do cảm xúc là những phiến đoạn tình cảm, là một
vận động, một hứng khởi của tâm hồn, mỗi bài thơ là một sự bộc bạch diễn đạt niềm vui, một nỗi buồn, một mối suy tư, nên bài thơ không thể dài mà phải
cô đọng ngắn gọn Gặp một bài thơ là ta gặp một tâm hồn con người trong một khoảng khắc, một giây phút bởi bài thơ không ôm trọn cuộc đời vì chủ thể không thể bộc lộ trong chốc lát ” [dẫn theo 41, tr.48]
Một bài thơ là “những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự
hoàn hảo” (Côlêrítgiơ) “Ngôn từ và trật tự là một cặp nhảy hoàn mỹ chẳng chịu rời nhau nửa bước ” (Eliô) [dẫn theo 25, tr.18]
Từ các quan niệm trên, có thể đi đến khái niệm: bài thơ được hiểu là công trình sáng tác có nội dung tương đối hoàn chỉnh nhưng không dài mà cô đọng,
ngắn gọn, là “những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự hoàn hảo”
a.2) Khổ thơ
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi:“Khổ thơ là sự kết
hợp của các câu thơ thành từng nhóm, thống nhất với nhau về vần, nhịp, cú pháp, ngữ điệu Mỗi khổ thơ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài ( …) Các khổ thơ có số lượng câu thơ khác nhau Khổ ít nhất cũng có hai câu Khó
có thể tìm được giới hạn tối đa về số lượng câu thơ trong một khổ thơ Khổ thơ thường biểu thị một ý chưa hoàn chỉnh, nó nằm trong hệ thống cấu tứ của toàn bài Khi khổ thơ biểu thị một ý hoàn chỉnh thì nó trùng với đoạn thơ.”[16, tr.108 - 109]
Theo Từ điển tiếng Việt thì khổ thơ được hiểu theo nghĩa là:“Đoạn ngắn
được ngắt ra trong một bài văn vần (thường để hát hoặc phổ nhạc), ví dụ: bài
ca trù thường có ba khổ; ví dụ: một khổ thơ.”[ 43, tr.506]
Trên cơ sở những cách hiểu trên, chúng tôi quan niệm: khổ thơ là một số câu thơ, dòng thơ được sắp xếp thành một đơn vị có quy cách nhất định về vần luật, âm thanh, nhịp điệu, cú pháp, biểu thị ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh
Trang 16Mỗi khổ thơ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài
a.3) Câu thơ
Nếu bài thơ là một văn bản thì khổ thơ tương ứng với các đoạn văn và câu thơ là đơn vị nhỏ hơn khổ thơ
Theo Lê Lưu Oanh thì:“Câu thơ là dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn
vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ Trong quan hệ với cái tôi trữ tình, câu thơ như một hình thức ngôn ngữ cụ thể trực tiếp của những quan niệm nghệ thuật của cái tôi trữ tình (…) Câu thơ còn là đơn vị của lời văn, lời nói nghệ thuật G.N Pôxpêlôp coi lời văn nghệ thuật là những lời phát biểu có ý nghĩa biểu hiện, biểu thị thuộc tính của chủ thể lời nói (…) Câu thơ (với cấu trúc và các kiểu tổ chức của nó) bộc lộ một cảm quan về từ ngữ, cách tổ chức điểm nhìn, thể hiện một giọng điệu…”[41,tr.152-153]
Ngoài ra, theo Từ điển tiếng Việt chúng ta có thể hiểu câu thơ như sau: câu là “1 Đơn vị cơ bản của lời nói, do từ tạo thành, có một ngữ điệu nhất
định, diễn đạt một ý trọn vẹn Ví dụ : đặt câu Nói chưa hết câu Nghe câu được câu chăng 2 Câu thơ ( nói tắt ) Bài thơ tám câu” [43, tr.137]
Tuy có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về câu thơ, nhưng chúng tôi thấy quan niệm của Lê Lưu Oanh về câu thơ là tương đối hợp lý, tương đối thuận tiện cho việc khảo sát về nhịp điệu, thanh điệu, các cách kết hợp từ (trật
tự từ)… Như vậy, có thể thống nhất là mỗi câu thơ được biểu hiện bằng một dòng thơ (ngoại trừ thể lục bát) Vì thế, đề tài này sẽ lấy quan niệm mỗi câu thơ
là một dòng thơ làm cơ sở để khảo sát và xử lý tư liệu về vấn đề câu thơ
b) Về ngữ âm
Hình thức ngữ âm trong thơ là yếu tố hết sức quan trọng Các nhân tố như: âm vận, điệp âm, điệp vần,… thực sự là những nhân tố cơ bản làm nên tính nhạc của thơ Đó cũng là phương tiện nổi bật trên bình diện ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi Sự phong phú về thanh điệu, số lượng các nguyên
âm, phụ âm trong tiếng Việt đã góp phần không nhỏ tạo nên tính nhạc cho thơ
Trang 17khi trầm bổng, du dương, khi ngân nga bay bổng, khi dồn dập, thiết tha
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập cho nên tính đối lập của âm tiết tiếng Việt đã quy định âm tiết tiếng Việt chứ không phải một đơn vị nào khác đã tạo ra âm điệu trong thơ cách luật tiếng Việt Sự tổng hòa của các mặt như cường độ, trường độ, cao độ, âm sắc đã tạo nên phẩm chất ngữ âm của tiếng Việt Chính vì thế sự khác nhau giữa âm tiết này và âm tiết khác về trường độ suy cho cùng là do sự chi phối của hoàn cảnh phát ngôn hoặc do
âm lượng của nguyên âm mà có Theo đó ta có những âm tiết kết thúc bằng nguyên âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và khả năng kéo dài trường độ lớn hơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh
Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố cơ bản chi phối phần vần của âm tiết Vì rằng thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung nhất phẩm chất của thi phẩm Chính vì thế, nói đến cách hòa âm trong thơ Việt Nam thực chất là nói đến sự hòa phối các thanh điệu, là cách kết hợp âm thanh trong bài thơ một kiểu nhất định nào đó Thanh điệu là đặc trưng của âm tiết, trong khi ngữ điệu là đặc trưng của câu, trọng âm là đặc trưng của từ Thanh điệu là yếu tố siêu đoạn bao trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt
về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác, cho nên nó là đối tượng chính của âm điệu và được tìm hiểu trên hai bình diện là âm vực và đường nét vận động
Trang 18
Theo âm vực ta có các thanh có âm vực cao bao gồm các thanh không dấu, thanh sắc, thanh hỏi, và các thanh có âm vực thấp bao gồm thanh huyền, thanh ngã và thanh nặng
Theo đường nét vận động ta có những thanh có đường nét bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng) bao gồm thanh không dấu, thanh huyền, và những thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh trắc) gồm có thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng
Như vậy sự khác nhau về âm vực và đường nét các thanh điệu sẽ tạo nên
sự khác nhau ở các cao độ của nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên tính nhạc trong thơ
b.2) Vần điệu
Trong sáng tác cũng như trong nghiên cứu, vần thơ có một vị trí hết sức quan trọng, mặc dù nó là một khái niệm chưa có tính ổn định cao Theo
Hêghen vần trong thơ là:“do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy
mình được biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn”[18, tr.18].“Thực chất là
sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc là giữa hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh
sự ngừng nhịp” [13, tr.12] Có thể nói vần là chất keo chắp nối, gắn kết các
dòng thơ lại thành từng đoạn, từng khổ và từng bài hoàn chỉnh.“Ở các câu
thơ, khổ thơ có vần với chức năng tổ chức vần thơ như sợi dây rằng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp việc đọc thuận miệng, nghe thuận tai, và làm cho người đọc người nghe dễ thuộc, dễ nhớ.” [13, tr.12]
Đơn vị hiệp vần trong tiếng Việt là âm tiết, theo đó sự hiệp vần chỉ diễn ra giữa tiếng (âm tiết) này với tiếng (âm tiết) khác mà thôi Trong các vần thơ bao giờ cũng có sự cộng hưởng, sự hòa phối âm thanh với nhau của hai âm tiết có vần Đồng thời còn có sự hòa xướng đối lập nhau giữa các yếu tố tương ứng trong hai âm tiết hiệp vần nhằm tạo ra sự hòa âm cho các cặp vần
Đó là sự hòa âm giữa thanh điệu của hai âm tiết hiệp vần, giữa âm đầu, âm
Trang 19đệm, âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm tiết kia Chính nhờ vào điều
đó mà ta nhận ra vai trò to lớn của âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập các vần thơ Việt Nam
Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong tiếng Việt tất cả các yếu tố tạo ra âm tiết đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam nhằm tránh lặp vần Trong quá trình đó thanh điệu, âm chính và âm cuối là những yếu tố
cơ bản tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ Tính nhạc trong thơ cũng như khả năng mĩ cảm đặc biệt của thơ bắt đầu từ chính vị trí, mức độ hòa âm và đặc điểm biến thiên cao độ các âm tiết
Theo ý kiến của Triều Nguyên có hai cách phân loại vần:
- Dựa theo mức độ hòa âm, vần được chia làm ba loại: vần chính, vần thông và vần ép
Vần chính đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có phần thanh điệu và phần vần đồng nhất Phần thanh điệu đồng nhất là hoặc cùng dấu hoặc cùng bằng hay cùng trắc, phần vần đồng nhất khi giữa các tiếng hiệp vần cùng có phần vần giống nhau Riêng âm đệm có thể có hoặc không có
Vần thông đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có thanh điệu đồng nhất, phần vần có âm chính hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc, hoặc đồng nhất đặc trưng
âm lượng, âm cuối hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất đặc trưng vang, hoặc đồng nhất đặc trưng ồn
Vần ép có thanh điệu và âm cuối như vần thông, có âm cuối vượt ra ngoài các ràng buộc về mặt ngữ âm: không đồng nhất hoặc không cùng nhóm trong lúc âm chính lại đồng nhất đặc trưng âm sắc hay âm lượng
- Dựa theo vị trí của tiếng mang vần ở trong dòng thơ, khổ thơ, vần được chia làm hai loại: vần chân và vần lưng
Vần chân là những vần gieo vào tiếng ở cuối dòng thơ Vần lưng là vần gieo vào các tiếng còn lại, có thể là gieo tiếng đầu, tiếng giữa hay tiếng áp cuối của dòng
Trang 20
b.3) Nhịp điệu
Nhịp điệu thực chất là điệu tính được tạo ra từ sự xuất hiện luân phiên
các ngữ đoạn trong ngữ lưu F.de.Saussure cho rằng:“dòng âm thanh chỉ là
đường dài, một dải liên tục, do đó thính giả không thấy sự phân chia nào đầy
đủ và chính xác, muốn có sự phân chia như vậy phải viện đến ý nghĩa nhưng khi đã biết cần phải gắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa gì
và một vai trò gì ta sẽ thấy những bộ phận đó tách ra, và cái dải vô hình kia
sẽ phân ra thành từng đoạn.” [47, tr.95]
Theo đó trong thơ nhịp điệu là yếu tố rất quan trọng, nó là kết quả của việc hòa phối âm thanh được tạo ra từ ngắt nhịp Nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo nên nhạc tính Bởi vì yếu tố quan trọng nhất để tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng, chỗ ngắt, trong sự phân bố mau, thưa hay
đa dạng của chúng là độ dài ngắn khác nhau của các quãng nghỉ hơi sau các khổ thơ, dòng thơ Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân thành hai loại: ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý Hai loại nhịp này có khi tách bạch, có khi hòa quyện vào nhau tùy thuộc vào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, khổ thơ và cảm hứng Hơn nữa, nhịp thơ gắn liền với tình cảm, cảm xúc, các trạng thái dung cảm, xúc động Vì vậy nó ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhịp cho câu thơ, bài thơ
Nhịp trong câu thơ khác nhịp trong văn xuôi Nếu nhịp trong văn xuôi luôn luôn trùng với nhịp cú pháp, thì nhịp trong thơ không phải bao giờ cũng trùng với nhịp cú pháp Sở dĩ như vậy là vì việc ngắt nhịp trong thơ chịu sự chi phối của yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu Do đó, cách ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ hết sức đa dạng và mang bản sắc của từng nhà thơ Ở thể thơ tự
do có những câu thơ rất giống với câu văn xuôi song lại có sức ngân vang rất lớn Có được điều đó bởi vì trong thể thơ này tác giả đã cố ý tạo ra nhịp thơ dài- ngắn, nhanh- chậm, mạnh- yếu khác nhau theo cảm xúc của mình Như vậy nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất
Trang 21chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ, khổ thơ thậm chí là đoạn thơ
Có thể nói vần và nhịp là hai yếu tố quan trọng về mặt hình thức trong thơ
ca, là những đơn vị ngữ âm không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ Giữa vần và nhịp luôn có mối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau Nhịp là yếu tố cơ bản,
là xương sống của bài thơ, là cơ sở, tiền đề cho việc gieo vần trong thơ
1.1.3.2 Đặc trưng nội dung
Tính nhạc là dấu hiệu đầu tiên, quan trọng nhất của thơ, nhưng chỉ tính nhạc thôi chưa đủ, chưa thể làm thơ Dấu hiệu thứ hai tạo nên sức âm vang của thơ thuộc về bình diện ngôn từ Cùng với ngữ âm thì ngữ nghĩa cũng là một yếu tố cấu thành tác phẩm thơ ca Ngữ nghĩa trong thơ khác ngữ nghĩa giao tiếp thường nhật và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi Sở dĩ có điều đó
vì thơ là một loại hình ngôn ngữ cô đọng, hàm súc nhất về mặt từ ngữ - ngữ nghĩa Mỗi từ ngữ trong thơ, nếu được sử dụng khéo léo, trải qua sự lựa chọn của tác giả, sẽ có một sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, tinh tế
Từ ngữ trong thơ thường mang tính đa nghĩa, “ý tại ngôn ngoại” Ngữ nghĩa trong thơ không chỉ có giá trị biểu hiện mà còn những giá trị khác Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà thường phản ánh những tầng nghĩa
mới, nghĩa phái sinh tinh tế, đa dạng hơn tạo nên hiện tượng nhòe về nghĩa
(chữ dùng của Nguyễn Phan Cảnh) đem lại cho bài thơ sức biểu hiện phong phú Đặc tính này đã làm cho mỗi từ ngữ trong câu thơ “có thần”, mang âm hưởng riêng, độc đáo, thường được coi là “điểm ngời sáng”, tạo nên sức nặng của bài thơ Trong thơ có những từ ngữ được sử dụng bởi phép chuyển nghĩa thông qua hình thức như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác định, phải lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng mới có thể giải mã và cảm thụ hết vẻ đẹp tối đa của câu thơ Tính nhòe về nghĩa trong thơ đã góp phần tạo ra nhiều kiểu cấu trúc đặc
Trang 22biệt, nhiều khi là bất thường cho thơ Thơ cho phép sự tỉnh lược, thiếu vắng những thành phần ngữ pháp, kể cả những thành phần chính của câu như chủ ngữ, vị ngữ Trong thơ có thể sử dụng biện pháp đảo ngữ, đảo từ, đảo cú pháp, sự kết hợp không bình thường, kể cả cách ngắt câu lạ mà trong cấu trúc văn xuôi không được phép Mục tiêu muôn đời của thơ ca là hiệu quả diễn đạt
“ý tại ngôn ngoại” Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với độc giả Bởi thế đến với thơ ca chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà còn tiếp nhận bằng tình cảm, cảm xúc, bằng trí tưởng tượng và liên tưởng Ngôn ngữ thơ vì thế không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là một thứ gì đó chưa từng được nói, chưa từng được nghe
1.1.3.3 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức vốn là một phạm trù triết học có liên quan tới mọi hiện tượng trong đời sống, và luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong quá trình sáng tác của các nghệ sĩ nói chung Văn học nghệ thuật là lĩnh vực sáng tác đặc biệt, tất yếu nó cũng nằm trong quy luật chung của các ngành nghệ thuật Nói như vậy là trong quá trình sáng tác, các tác giả văn học cũng hết sức coi trọng mối quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa và hình thức trong một tác phẩm Bởi suy cho cùng, phạm vi thể hiện giá trị tư tưởng
và nghệ thuật của mọi tác phẩm chính là hình thức và ngữ nghĩa của tác phẩm
đó Mặt khác, tác phẩm văn học là một hiện tượng xã hội, cho nên trong những tác phẩm văn học có giá trị, nội dung và hình thức cũng luôn thống nhất chặt chẽ với nhau, chúng sẽ không tồn tại và không thể có ý nghĩa thực
sự khi có cái này mà không có cái kia Sự thống nhất này không chỉ diễn ra trên quy mô toàn tác phẩm mà còn diễn ra trong từng bộ phận, từng yếu tố, từng chi tiết nhỏ nhất của tác phẩm Thực chất đó chính là sự biểu hiện của nội dung qua hình thức, và ngược lại
Trên thực tế không thể có một tác phẩm văn học nào chỉ tồn tại với nội dung của nó mà không có sự tham gia của các hình thức Giá trị của một tác
Trang 23phẩm văn học cần được xem xét dựa trên sự thống nhất có tính nguyên tắc của nội dung ngữ nghĩa và hình thức Hình thức của tác phẩm văn học chính
là tổng thể hợp thành của nhiều yếu tố: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, các quy định của thể loại văn học, những biện pháp kết cấu, cách xây dựng hình tượng…Tất cả nhằm mục đích biểu hiện trực tiếp và sinh động nội dung của tác phẩm, tạo nên một dạng tồn tại nhất định của nội dung ấy, qua đó xây dựng toàn bộ tác phẩm thành một chỉnh thể thống nhất Từ quan niệm như vậy, cần hiểu sự hoàn thiện của hình thức trong tác phẩm văn học được biểu hiện ở hai mức độ Thứ nhất, hình thức phải phù hợp với nội dung, phải mang tính nội dung, nội dung nào hình thức ấy Thứ hai, hình thức phù hợp nội dung đó phải phát huy tới mức cao nhất khả năng biểu hiện nội dung của nó Như vậy, quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ thống nhất, nội dung và hình thức không những gắn bó mật thiết với nhau mà còn có sự
chuyển hóa vào nhau Nói như Hêghen:“Nội dung chẳng phải cái gì khác, mà
chính là sự chuyển hóa của hình thức và nội dung, và hình thức cũng chẳng khác gì hơn là sự chuyển hóa của nội dung và hình thức” [18, tr.224] Trong
khuôn khổ của luận văn, chúng tôi muốn nhìn thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện hình thức và ngữ nghĩa để từ đó thấy được chiều sâu vẻ đẹp thơ ông, đồng thời thấy rõ hơn hơn mối quan hệ này
1.2 Thơ tự do
1.2.1 Khái niệm thơ tự do
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ tự do là một hình thức cơ bản của
thơ, phân biệt với thơ cách luật ở chỗ không bị ràng buộc vào các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm, đối… Thơ tự do là thơ phân dòng thành hàng, thành khổ như những đơn vị nhịp điệu có thể có vần Mặc dù là thơ phân dòng nhưng lại không có thể thức nhất định mà có thể là hợp thể, có nghĩa hoặc là phối hợp đan xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau, hoặc là hoàn toàn tự do.” [16, tr.318]
Trang 24Nguyễn Xuân Nam cho rằng:“Thơ tự do là một trong ba hình thức của
thơ xét về phương diện tổ chức ngôn ngữ, (thơ cách luật, thơ văn xuôi, thơ tự do) Không bị ràng buộc vào những quy tắc nhất định nào, như thơ cách luật, mạch thơ tự do có thể liên tục hoặc chia ra từng khổ Số dòng trong khổ không nhất định, số chữ trong từng dòng có thể nhiều ít khác nhau Cách gieo vần cũng rất linh hoạt Không thể, phá thể, biến thể, hợp thể…cũng đều là những hình thức khác nhau của thơ tự do Chúng cùng phát triển và cùng có sức sống như nhau.” [34, tr.186]
Theo Mã Giang Lân:“Nói đến thơ tự do chủ yếu là nói đến cấu trúc hình
dáng của nó: số chữ trong một câu thơ không hạn định, có thể từ một đến mười chữ hoặc nhiều hơn; số câu trong một khổ cũng không hạn định, có thể
là một câu đến nhiều câu thơ Và gieo vần cũng rất linh động, rất tự do, có khi không có vần, chỉ có nhịp điệu.”[25, tr.118]
Như vậy, theo các quan niệm trên, thơ tự do là một thể mà trong đó hình thức cơ bản của bài thơ không bị ràng buộc bởi các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm, đối …trong sự cách biệt với thơ cách luật
1.2.2 Đặc điểm thơ tự do
Thơ tự do xuất hiện ngay từ khi phong trào thơ mới ra đời Là một thể loại mới của văn học hiện đại, nhưng thơ tự do đã khẳng định vị trí của mình và thể hiện thế mạnh khi vừa truyền tải tốt nội dung, vừa bộc lộ được cảm hứng sáng tác, thể hiện được dễ dàng ý đồ nghệ thuật của tác giả
Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng đòi hỏi của thơ ca phải đi sâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở của thời đại Thơ
tự do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là hình thức được nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn
Thơ tự do dễ dàng được nhận diện về mặt hình thức: khổ thơ, dòng thơ, vần thơ, đặc biệt là niêm luật Sự khác biệt lớn nhất để thơ tự do trở thành một thể loại độc lập đứng ngang hàng với các thể thơ khác là sự thoát ly trong sáng
Trang 25tác khỏi sự gò bó của các quy tắc, luật lệ Đặc điểm nổi bật của thơ tự do là những câu thơ không có hình dáng thống nhất và không có niêm luật chặt chẽ Chính nhờ sự thoải mái này mà các nhà thơ có thể tìm thấy một chân trời rộng rãi cho sự sáng tạo hình thức của mỗi bài thơ
Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt, được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ co giãn linh hoạt Về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu nổi lên như một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định (như trong thơ Đường luật, thơ lục bát…) mà do những quy tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ
1.3 Lưu Quang Vũ - Cuộc đời và thơ ca
1.3.1 Vài nét về tiểu sử và con người Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 4 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, quê ở Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Mẹ là Vũ Thị Khánh, nữ sinh trường trung học Đồng Khánh, người Hà Nội gốc Thủa nhỏ, Lưu Quang Vũ sống cùng gia đình tại chiến khu Việt Bắc Hòa bình lập lại ông về Hà Nội Năm 1958 gia đình Lưu Quang Vũ chuyển đến căn phòng ở 96 A phố Huế Nơi đây có thể coi là thiên đường hạnh phúc của gia đình nhà thơ Bà Vũ Thị Khánh (mẹ của nhà thơ
Lưu Quang Vũ) đã kể về nó với tất cả niềm tự hào: “Căn phòng của chúng tôi
luôn ấm êm và đầy ắp tiếng cười Các con tôi đã lớn lên trong tình yêu thương tha thiết của cha mẹ Tại đây Vũ đã sống thời thơ ấu, trải qua thời thanh niên lận đận, đã trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, đã sống những ngày cuối của đời mình…”
Năm 1961, mới 13 tuổi Lưu Quang Vũ đã có truyện ngắn được in và giành giải thưởng của thành phố cả về văn và họa Thời gian phổ thông, Lưu Quang Vũ học giỏi, ba lần đạt giải nhất văn thành phố
Năm 1965 Lưu Quang Vũ xung phong vào bộ đội thuộc binh chủng phòng
Trang 26không không quân, đây là thời gian ông làm rất nhiều thơ Thơ ông mang cảm xúc, hơi thở mới, tiêu biểu cho một thế hệ trẻ háo hức lên đường cứu nước
Cuối 1970 Lưu Quang Vũ xuất ngũ Lúc này ông đã có vợ là diễn viên điện ảnh Tố Uyên và con trai Lưu Minh Vũ Cuộc sống đời thường với gia đình nhỏ bé được “treo” vào đôi bàn tay trắng khiến Lưu Quang Vũ hết sức vất vả Ông làm nhiều nghề khác nhau: vẽ tranh, viết báo, làm thơ Rồi gia đình tan vỡ, đời ông sang một ngã rẽ và thơ ông chuyển giọng, thành một nốt trầm chứa bao đau đớn, u buồn của đời riêng cũng như thời cuộc
Năm 1973 Lưu Quang Vũ kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh, đánh dấu một
sự kiện quan trọng trong cuộc đời ông Mặc dù không được sự ủng hộ của gia đình nhưng đôi trai tài, gái sắc vẫn quyết tâm đến với nhau Họ thực sự là chỗ dựa của nhau và cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình
Từ tháng 8 năm 1979 cho đến khi mất, ông làm phóng viên Tạp chí Sân khấu
Lưu Quang Vũ là hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Lưu Quang Vũ mất ngày 29/8/1988 do một tai nạn giao thông khủng khiếp cùng với vợ là Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ Số phận khắc nghiệt đã không cho Lưu Quang Vũ sống hết những năm tháng ngắn ngủi của đời mình Ông kết thúc cuộc đời ở tuổi bốn mươi Nhưng độc giả vẫn không quên và luôn nhắc tới Lưu Quang Vũ, tới thơ, tới kịch và di cảo của ông Lưu Quang Vũ là một người nội tâm, điềm tĩnh, hiền lành, ít nói Ông là một người tài hoa, nhạy cảm, một người thành thực với chính mình và cả mọi người Ông là một người có thiên hướng nghệ thuật, tài năng về nhiều mặt: hội họa, sáng tác kịch, thơ, truyện ngắn…
Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng “Dường như chàng thi sĩ đã thấu suốt hết
cả và đã kịp làm hết những gì có thể dâng tặng cho đời”[57, tr.95]
Trang 271.3.2 Sự nghiệp thơ ca
“Trong bản chất sáng tạo của con người tài hoa son trẻ Lưu Quang Vũ,
thơ là hồn cốt thâm hậu, chứ không phải kịch nghệ, báo chí, văn xuôi, những mảnh đất mà chàng đã từng thử nghiệm, gieo trồng và gặt hái ”[50, tr.17]
Lưu Quang Vũ bộc lộ năng khiếu thơ từ nhỏ, vùng quê Trung du Bắc Bộ
đã in dấu trong sáng tác của ông sau này Rời ghế trường trung học, vào bộ đội ông viết nhiều hơn và bắt đầu đăng báo, đây là thời kì thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ
Năm 1968, khi mới hai mươi tuổi, những bài thơ đầu tay của ông (phần
Hương cây trong tập Hương cây- Bếp lửa, in chung với Bằng Việt) sớm bộc
lộ một mạch thơ ngọt ngào, đằm thắm, phảng phất phong vị dân gian của một tâm hồn trong sáng, thiết tha với đất nước, giàu mơ mộng và khát vọng Những bài thơ ông làm từ 1970 đến 1975 được tuyển chọn và in trong tập
Bầy ong trong đêm sâu (1993) cho thấy một Lưu Quang Vũ khác- một Lưu
Quang Vũ đầy dằn vặt, đau xót, cô đơn, trăn trở, hoài nghi, có lúc chán nản đến tuyệt vọng, nhưng vẫn vượt thoát để sống thực sự có ích với đời
Thơ của Lưu Quang Vũ trong những năm tám mươi- tập Mây trắng của
đời tôi (1989)- do tự tay tác giả chuẩn bị, nhưng sau khi ông qua đời mới đến
được với bạn đọc, đánh dấu một chặng đường mới của thơ ông Cảm nhận vẫn sắc sảo, tinh tế nhưng suy nghĩ đằm hơn, sâu hơn, giàu chất khái quát và chất tạo hình
Trong suốt cuộc đời cầm bút với bao bước thăng trầm, thơ luôn chiếm
một vị trí quan trọng, luôn là người bạn đồng hành của Lưu Quang Vũ: “Anh
làm thơ như một sự ký thác, gửi gắm, như một sự tự bộc lộ những gì đã có trong cõi lòng anh” [60, tr.7] Quan niệm thơ của ông không triết lý, lý luận
mà là cả một thế giới sống động, phong phú, tắm đẫm trong tình yêu mãnh liệt, nồng nàn Ông viết về thơ bằng cảm xúc cháy bỏng của trái tim yêu và sự linh hoạt của trí tưởng tượng phong phú Với ông thơ là tình yêu, là phần đẹp
Trang 28nhất và thiêng liêng nhất của đời ông Lưu Quang Vũ làm thơ để sống với đời
thường và sống cùng giấc mơ phía trước (Em)
Đề tài thơ Lưu Quang Vũ thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời nhưng
lúc nào nó cũng bám vào hiện thực đời ông, vào hiện thực đất nước và những
dự cảm về tương lai Ông viết về nhiều đề tài: đất nước, nhân dân, con người, tình yêu… Trong đó thơ tình yêu của Lưu Quang Vũ chiếm số lượng lớn hơn
cả Đối với ông, thơ là cuộc đời, là nơi ông giãy bày những xúc cảm, những khát khao, những ước mơ và cả những đau đớn vật vã do những cuộc tình đem lại Ông làm thơ như để ghi nhật ký về hành trình kiếm tìm hạnh phúc tình yêu của chính mình Theo năm tháng những bài thơ tình của ông vẫn mang vẻ đắm đuối, sôi nổi, được viết ra bằng chính những trải nghiệm của cuộc đời
Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Lưu Quang Vũ sống và làm việc như một bó đuốc rực cháy Những gì mà Lưu Quang Vũ để lại cho cuộc đời đủ
khiến ông “sừng sững như một trái núi, một lực sĩ không đối thủ” Năm 2000,
Lưu Quang Vũ đã được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật Một số tác phẩm của ông đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Cái tên Lưu Quang Vũ và sự nghiệp của ông mãi khắc ghi trong lòng mỗi độc giả bằng tất cả sự trân trọng và khâm phục
Tiểu kết
Trong chương đầu của luận văn, chúng tôi trình bày những vấn đề lý thuyết có liên quan đến phần khai thác đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ ở hai chương sau
Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù, độc đáo Ngôn ngữ thơ là một phương diện hình thức góp phần quan trọng làm nên phong cách, diện mạo của thơ Cấu trúc của thơ bao gồm bài thơ, khổ thơ, câu thơ Nhịp điệu, vần, thanh điệu là những biểu hiện rõ nhất cách tổ chức ngôn từ trong thơ Đó cũng là những yếu tố tạo ra nhưng nét riêng, nét đặc sắc ở mỗi nhà thơ
Trang 29
Thơ tự do là một thể loại mới của văn học hiện đại, với đặc điểm nổi bật là không bị ràng buộc bởi các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm, đối… trong sự cách biệt với thơ cách luật Thơ tự do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là hình thức được nhà thơ tìm đến với
độ chín của tâm hồn
Lưu Quang Vũ là một hiện tượng của văn học Việt Nam ở thế kỉ XX Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhưng dường như ông đã kịp làm hết những gì có thể để lại cho đời, nhất là thơ tình Với những sáng tác này, ông đã có những đóng góp đáng kể cho nền thi ca Việt Nam Thơ Lưu Quang Vũ đặt ra nhiều vấn đề trong việc nghiên cứu Tìm hiểu ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện hình thức và ngữ nghĩa, góp phần làm nổi bật đặc điểm và phong cách thơ Lưu Quang Vũ, khẳng định vị trí và tài năng của nhà thơ Đồng thời, việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ từ góc độ ngôn ngữ học sẽ giúp ích cho việc dạy và học tác phẩm văn học theo hướng tích hợp, đáp ứng được một trong những yêu cầu hiện nay của việc đổi mới dạy học Ngữ văn nói riêng và dạy học nói chung
Tất cả những điều trình bày ở trên sẽ là những tiền đề cần thiết, tạo cơ sở thuận lợi cho chúng tôi triển khai phần trọng tâm của luận văn ở những chương sau
Trang 30
Ch-¬ng 2 Ng«n ng÷ th¬ t×nh l-u quang vò trªn ph-¬ng diÖn h×nh thøc
2.1 Ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ ở cấp độ bài thơ
Bài thơ được hiểu là công trình sáng tác có nội dung tương đối hoàn chỉnh nhưng không dài mà cô đọng, ngắn gọn
Nguồn huyết mạch dồi dào từ thực tiễn cuộc sống và những trăn trở của cuộc đời đã truyền vào dòng chảy của thơ tình Lưu Quang Vũ sự đắm đuối, đam mê với những tìm tòi, đột phá hình thức thơ Một trong những dấu hiệu đầu tiên để nhìn nhận hình thức thơ Lưu Quang vũ là sự đa dạng hóa về thể loại thơ, khi bắt đầu xét ở cấp độ bài thơ
Trong quá trình phát triển, thơ ca dân tộc vừa có sự định hình lại vừa có
sự biến đổi của các thể thơ Lịch sử văn học dân tộc đã ghi nhận sự hình thành các thể thơ theo những con đường khác nhau Nhiều thể thơ có nguồn gốc từ văn hóa dân gian phát triển lên Một số khác lại du nhập từ nước ngoài, trải qua quá trình Việt hóa của của người Việt mà hình thành Do đó những tác phẩm xuất sắc dù ở thể thơ nào cũng đều chứa chan tính cách của người Việt
Từ trước đến nay để phân biệt các thể thơ, người ta căn cứ vào số lượng
âm tiết và phần vần trong mỗi bài thơ Căn cứ vào số lượng âm tiết trong dòng thơ, người ta đã chia ra thành nhiều thể thơ: thể thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, 6 chữ, thơ 7 chữ, thơ 8 chữ, thơ lục bát, thể thơ tự do Căn cứ vào luật vần có hai loại thơ: thơ cách luật (thơ có quy tắc và luật ổn định như thơ Đường, thơ lục bát, thơ song thất lục bát), và thơ không cách luật (thơ tự do có số tiếng,
số câu không hạn chế)
Khảo sát 115 bài thơ trong tập Thơ tình của Lưu Quang Vũ, chúng tôi có
được kết quả sau đây:
Trang 31Bảng 2.1 Thống kê bài thơ tính theo thể thơ/ số chữ
Qua bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy Lưu Quang Vũ sử dụng chủ yếu
là thể thơ tự do (104/ 115 bài, chiếm tỉ lệ 90,4%) Bên cạnh đó, nhà thơ cũng
sử dụng một số thể loại thơ truyền thống, song không nhiều Vì lẽ đó, trong luận văn này ngoài việc tìm hiểu các thể thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, chúng tôi tập trung tìm hiểu thể thơ tự do - một thể thơ chiếm vị trí độc tôn trong thơ tình Lưu Quang Vũ
2.1.1 Thể thơ năm chữ
Thơ năm chữ có nguồn gốc từ xa xưa trong một số thể loại của thơ ca dân gian như vè, hát dặm, đồng dao hay cổ phong (ngũ ngôn cổ phong) và thơ Đường (ngũ ngôn Đường luật) Tuy nhiên thơ năm chữ trong thơ ca hiện đại
có nhiều điểm khác với thơ ca truyền thống Nhịp phổ biến của thể thơ này là 3/2, khác với nhịp 3/2 trong thể thơ ngũ ngôn phỏng theo thơ Trung Quốc Vần trong thể thơ này cũng thay đổi, không nhất thiết là vần liên tiếp, số câu trong mỗi bài cũng không hạn chế
Thơ năm chữ là hình thức quen thuộc của thơ ca hiện đại, đã được rất nhiều nhà thơ hiện đại lựa chọn để sáng tác thơ ca Những đứa con tinh thần của thể thơ này đã khẳng định tên tuổi và vị trí của người sinh ra chúng trên
thi đàn văn học Đó là Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Biển của Xuân Diệu,
Sóng của Xuân Quỳnh, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải…Có thể nhận thấy
các nhà thơ hiện đại Việt Nam đã kế thừa tinh hoa của hát dặm và thơ ngũ
Trang 32ngôn (Đường luật) nhưng đồng thời có sự phá cách, tạo nhiều vần điệu, ngắt nhịp có sự kết hợp cả 2/3 và 3/2
Trong 115 bài thơ tình của Lưu Quang Vũ chỉ có 6 bài thơ năm chữ, chiếm 5,2% Thơ năm chữ của Lưu Quang Vũ không nhiều, không cầu kỳ gọt giũa nhưng đã để lại trong lòng người đọc những vần thơ đầy ắp tâm sự, cảm động, giàu ý nghĩa Có bài thơ như một câu chuyện nhỏ, một lời giãi bày của một tình yêu tha thiết, cuồng nhiệt, đắm đuối :
Anh hôn từng ngón tay
Anh hôn làn tóc xõa
Trên trán gầy âm u
Anh hôn lên đôi mắt
Môi chạm vào bao la
Ôm em trong vạt áo
Như hoa hồng ngày xưa
(Thơ tình viết về một người đàn bà không có tên II)
Và cả những khát khao, khắc khoải, chờ mong, rồi thất vọng, cũng được ông dùng thể thơ năm chữ để giãi bày:
Đã qua cả mùa hè
chờ em, em chẳng tới
hết mùa thu ngắn ngủi
bây giờ đông đã sang
(Em sang bên kia sông)
Niềm vui, hạnh phúc, ấm áp tràn ngập trên những trang thơ năm chữ của Lưu
Quang Vũ khi ông nói về con với tất cả sự dịu dàng, nâng niu, chiều chuộng
Ông chắt chiu từ niềm vui buổi chiều đi đón con:
Sau mỗi ngày bận rộn
Bố có niềm vui lớn:
Buổi chiều đi đón con
(Buổi chiều đón con)
Trang 33Đến những lời ru đã cũ của cha để gửi gắm vào đó biết bao yêu thương: Trưa nay mẹ đi vắng
Các anh mải chạy chơi
Chỉ bố với con thôi
2.1.2 Thể thơ bảy chữ, tám chữ
Thể thơ bảy chữ, tám chữ xuất hiện nhiều trong thơ ca truyền thống, nhưng
lại ít xuất hiện trong thơ Lưu Quang Vũ, chỉ có 4 bài, chiếm 3,5% Dù vậy, những bài thơ này vẫn tạo cho người đọc những ấn tượng khó quên
Thơ Lưu Quang Vũ đầy ắp những hình ảnh đẹp, bởi cảm xúc chan chứa trong mỗi bài thơ:
Đêm tím nhòe đi hoa mận rơi
Cỏ mềm rạo rực gót chân nai
Lòng anh hồi hộp như con suối
Thao thức mùa xuân giữa đất trời
(Mùa xuân lên núi)
Như dòng chảy tự nhiên, thơ ông mang theo nỗi nhớ và sự đợi chờ:
Ở nơi ấy có một đồi mua tím
Có con đường đất mịn mát chân đi
Ở nơi ấy có một rừng bưởi chín
Có người em bé nhỏ ngóng ta về
(Nơi ấy)
Trang 34Điều đáng nói là ở thể thơ tám chữ, Lưu Quang Vũ vẫn viết theo cách của riêng ông Đôi khi ông phá cách, tạo phong cách riêng để không dễ lẫn Đây
là nét đặc biệt trong thể thơ tám chữ:
Ôi Tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi, Tiếng Việt ân tình (7 chữ )
(Tiếng Việt)
Nét đặc trưng trong việc phá luật cho thấy ông không thích những gì gò bó,
cố định, mà luôn luôn bứt phá Đó cũng là nét nhất quán trong hồn thơ Lưu Quang Vũ Dù ở thể thơ nào ông cũng viết theo mạch cảm xúc Cảm xúc nhà thơ
không bị gò ép vào số chữ, có lẽ vì thế mà thơ ông phóng túng, bay bổng
2.1.3 Thể thơ tự do
Là một gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống
Mỹ, Lưu Quang Vũ đã chọn thể thơ tự do cho việc thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình Bảng thông kê trên cho thấy có tới 104 bài thơ tự do trong tổng số
115 bài thơ, chiếm tỷ lệ 90,4% trong các sáng tác của ông
Với thể thơ tự do, Lưu Quang Vũ đã diễn tả một cách cụ thể sinh động hiện thực cuộc sống và bộc bạch tất cả những biến thái tinh vi nhất trong đời sống tình cảm của ông Hồn thơ Lưu Quang Vũ đặc biệt nhạy cảm trước những đau thương, cơ cực của đất nước, của nhân dân Ông đã nhìn được trong lòng đất nỗi nhức nhối kinh hoàng:
Dân tộc tôi bốn ngàn năm đói rách
Những người chết đặc trong lòng đất
Những mặt vàng sốt rét
Những bộ xương đói khát vật vờ đi
(Đất nước đàn bầu) Cách tổ chức những bài thơ tự do trong thơ tình của Lưu Quang Vũ không
Trang 35khuôn lại trong cấu trúc xinh xắn, chặt chẽ như những thể loại thơ đã định hình từ trước, mà theo một cấu trúc “mở” Đó là những bài thơ mang theo nhịp điệu của tâm hồn để nhà thơ thỏa sức bày tỏ cảm xúc Thơ tự do phù hợp với những xúc cảm tuôn chảy, nồng nàn và phong cách phóng khoáng bay bổng của nhà thơ:
Tôi làm sao có thể nguôi yên
Khi biết ở nơi nào em vẫn sống
Em sẽ đến như ngày rồi sẽ tắt
Tôi sống bằng khoảng rộng nơi em
(Thư tình viết về người đàn bà không có tên II)
“Thơ Lưu Quang Vũ lôi cuốn người đọc không ở sự trau chuốt lời lẽ, ngôn từ với những kĩ xảo ngón nghề mà chính ở một hồn thơ đắm đuối mà chân thành, giản dị mà nồng nàn, da diết ”[57, tr.101] Lưu Quang Vũ làm
thơ như một kí thác gửi gắm, như một sự tự bộc lộ những gì đã có trong cõi lòng ông Những dòng cảm xúc liền mạch ào ạt, vì thế nó tự nhiên, không có một chút nào của sự gắng gượng gò ép để chắt lọc ngôn ngữ:
Có em, anh hiểu lại cuộc đời
Có em, anh bắt đầu tất cả
Bắt đầu con đường, bắt đầu nhịp thở
Mùa hạ đầu tiên, ngọn gió đầu tiên
(Chiều chuyển gió)
Thực tế số lượng chữ trong thơ tự do chưa phải là điều kiện tiên quyết thể hiện sự sáng tạo của nhà thơ trong thể thơ này, mà điều đáng nói chính là ở cách sắp xếp sao cho đạt hiệu quả cao nhất Trong thơ tình Lưu Quang Vũ có những đoạn thơ vận dụng sự co duỗi nhịp nhàng, không hạn định số lượng âm
tiết trong một dòng thơ, câu thơ đã có hiệu quả diễn đạt cao Việc sử dụng
những câu thơ 4 âm tiết xen kẽ với các câu thơ khác tạo ra độ dài ngắn như để
thể hiện rõ nét hơn sự nghẹn ngào, trúc trắc của tâm trạng:
Trang 36
Thôi nhé, em đi
Như một cánh chim bay mất
Phòng anh chẳng có gì ăn được
Chim bay về những mái nhà vui
Nghĩa gì đâu kỷ niệm tháng năm dài
Lời thương mến nhớ lại thành chua chát
(Từ biệt)
Mở đầu là câu thơ 4 âm tiết, tiếp đến là những câu thơ 6 âm tiết rồi đến 8 âm tiết gợi lên những diễn biến trong tâm trạng của Lưu Quang Vũ, từ nỗi buồn chia tay đến hụt hẫng, trống vắng và rồi chua chát, đắng cay Trong thơ tự do của Lưu Quang Vũ độ dài ngắn khác nhau của câu thơ có sự chi phối mạch cảm xúc và tạo ra những nhịp điệu riêng giàu sức ám ảnh, thứ nhịp điệu của tâm hồn tình ý
Như chúng ta đã biết, thơ tự do như tên gọi của nó đã phá vỡ mọi luật lệ, không bị ràng buộc số câu, số chữ, niêm, luật…Vì thế thơ tự do được các nhà thơ hiện đại tìm đến để tha hồ bộc lộ cảm xúc, qua đó khẳng định phong cách
và thể hiện cái tôi cá nhân của mình Thơ tự do trong thơ tình của Lưu Quang
vũ có khả năng chuyên chở được cảm xúc mãnh liệt và có sức lan tỏa nhiều chiều được gợi lên từ nhịp điệu.Đó là sự đột phá của cảm xúc đã tạo nên một cách thức biểu hiện mới Ta bắt gặp những bản hòa âm của cảm xúc Khi tình cảm đang cồn lên dữ dội có những vần thơ thổ lộ đắm say và sôi nổi :
Em là tia nắng soi anh đến trọn đời
Chẳng có ai yêu em như thế được
Em ở đâu, dù cùng trời cuối đất
Dù năm tháng dài lâu
Dù sướng vui hay cùng cực khổ đau
Anh vẫn ở bên em mãi mãi…
(Thơ tình viết về một người đàn bà không có tên)
Trang 37Lúc lại là sự âu lo, băn khoăn, dằn vặt, với nhịp thơ chậm dãi, đều đều, buồn lặng:
Chúng ta gặp nhau quá muộn trong đời
Chúng ta cách nhau như buổi sáng cách buổi chiều
Anh không còn nắm nữa
Bây giờ đâu?
(Lý thương nhau)
Người đọc tìm thấy trong thơ tự do của ông một giọng thủ thỉ tâm tình giàu chất tự sự Ông kể lại bằng ngôn ngữ thơ những xúc động, những phát hiện của mình trong những chuỗi ngày mệt mỏi và lận đận Chính điều ấy đã làm nên một phong cách Lưu Quang Vũ không thể trộn lẫn:
Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài
Chỉ một ngưòi ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi
Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới
…
Em của anh, đôi vai ấm dịu dàng
Người nhóm bếp mỗi chiều, người thức dậy lúc tinh sương…
(… Và anh tồn tại )
Rõ ràng thơ tình của Lưu Quang Vũ là một bản giao hưởng có sự đan xen của nhiều cảm xúc, giọng điệu khác nhau Và chỉ có thơ tự do mới có thể
Trang 38chuyển tải hết được những ý, những tình của cái tôi trữ tình ấy
Xét về cách tổ chức, một đặc điểm rất dễ nhận thấy trong thơ tự do của
Lưu Quang Vũ là sự xuất hiện của những câu thơ vắt dòng, làm cho ý thơ
phát triển tự nhiên, hoặc tạo ra sự ngắt nhịp độc đáo, tăng hiệu quả diễn đạt :
Em đi, phố ngày mưa
suốt đưòng dài không nói
cánh cửa chiều khép lại
hoa đầm đìa mưa ướt chói trên cao…
(Em- Tình yêu những năm đau xót và hy vọng)
Có lúc ông tạo ra trong bài thơ những câu thơ một khoảng ngắt, nghỉ,
xuống dòng để ý thơ đọng lại trong tâm tưởng người đọc:
Trên đời này
Chẳng ai lo cho ta bằng mẹ
Cũng chẳng có ai
ta làm khổ nhiều như mẹ của ta…
(Gửi mẹ)
Một điều không thể phủ nhận, thơ tự do là thể thơ mà Lưu Quang Vũ ưa
dùng nhất và rất thành công Cảm hứng liền dòng ào ạt, cảm xúc trào tuôn
không gò bó câu chữ, thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập, đã tạo cho thơ
ông một vẻ đẹp tự nhiên nhưng thật quyến rũ Cùng với các nhà thơ trẻ khác
trong thời kì chống Mỹ, ông đã có những đóng góp đáng kể vào việc phát
triển và hoàn thiện con đường “tự do hóa” của thơ ca
Dù bất cứ ở thể thơ nào: thơ năm chữ, bảy chữ, thơ tự do…Lưu Quang Vũ
cũng có những đóng góp cho sự phát triển đa dạng hóa của các thể thơ Ông
đã làm mới những bài thơ của mình bằng ý tứ, ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu
Đây là những yếu tố không thể thiếu, giúp nhà thơ sáng tạo nên những thi
phẩm đặc sắc, mang đậm dấu ấn Lưu Quang Vũ
Trang 39
2.2 Ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ ở cấp độ khổ thơ
Không phải bất cứ bài thơ nào cũng có thể chia được khổ, sự chia khổ
gắn với yêu cầu mở rộng và tăng nhạc cảm cho thơ
Bảng 2.2 Thống kê, phân loại các khổ thơ / bài
Bảng thống kê trên cho thấy cấu trúc khổ thơ trong thơ tình Lưu Quang Vũ
theo hướng “tự do hóa” Trong 115 bài thơ tình được khảo sát có 13 bài
không chia thành khổ, còn lại các bài thơ khác đều được chia thành khổ Số
lượng khổ thơ, trong các bài không đều nhau:
Bài thơ được chia thành 12 khổ chiếm tỉ lệ ít nhất, (1 bài chiếm 0,9%) Bài được chia thành 4 khổ chiếm tỉ lệ cao nhất (19 bài chiếm 16,5 %) Có bài
chỉ có 2 khổ nhưng số lượng câu/ khổ không cân đối : 41 câu / khổ 1 + 2 câu /
khổ 2 (bài Chưa bao giờ)
Trang 40Hay bài thơ Lá bưởi lá chanh có 4 khổ thơ : 4 câu / khổ 1, khổ 4 + 5 câu / khổ 2
+ 28 câu / khổ 3 Sự không cân đối về độ dài của các khổ thơ trong cùng một bài thơ như thế cũng là một sự sáng tạo mà trong thơ cũ ít có Đáng lưu tâm là trong
các bài được làm theo thể tự do thì có một số bài là “tự do hoàn toàn”, cả bài có
nhiều khổ, mỗi khổ lại có nhiều loại câu thơ khác nhau Vì thế các bài thơ cũng
có sự khác nhau rõ rệt về cấu trúc khổ thơ
Đặc biệt có những bài thơ tình không chia khổ, cả bài thơ là một khổ thơ
(đoạn thơ) dài với nhiều câu thơ: Hoa tầm xuân (một khổ/ 24 câu), Em (32
câu) Nói với mình và các bạn (87 câu), Giấc mộng đêm (128 câu)…
Khảo sát các khổ thơ tính theo số câu trên một khổ trong 115 bài thơ tình của Lưu Quang Vũ chúng tôi thu được kết quả như sau :
Bảng 2.3 Thống kê các khổ thơ tính theo số câu/ khổ