1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học thơ nguyễn bính cho học sinh vùng cao theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

95 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học thơ Nguyễn Bính cho học sinh vùng cao theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Tác giả Hoàng Thanh Giang
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Gia Cầu
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 566,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (15)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (15)
      • 1.1.1. Phong trào Thơ mới trong nền Văn học hiện đại Việt Nam (15)
      • 1.1.2. Nhà thơ Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới (21)
      • 1.1.3. Vấn đề tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong phương pháp dạy học Ngữ văn (36)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (41)
      • 1.2.1. Đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh miền núi (41)
      • 1.2.2. Ảnh hưởng của thói quen và thị hiếu thẩm mỹ của người miền núi đối với việc tiếp nhận văn chương (42)
      • 1.2.3. Năng lực tri giác ngôn ngữ tác phẩm văn học (44)
      • 1.2.4. Năng lực tái hiện hình tƣợng của học sinh THPT miền núi (0)
      • 1.2.5. Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học của học sinh THPT miền núi (46)
      • 1.2.6. Năng lực khái quát hóa chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm (46)
    • 1.3. Học sinh Vùng cao với thơ Nguyễn Bính (50)
      • 1.3.1. Tình cảm của học sinh Vùng cao với thơ Nguyễn Bính (51)
      • 1.3.2. Khả năng phát hiện chủ thể trữ tình trong bài thơ (53)
      • 1.3.3. Khả năng liên tưởng của HS Vùng caoViệt Bắc khi đọc bài thơ “Tương tư” (55)
      • 1.3.4. Những khoảng cách trong tiếp nhận văn bản bài thơ “Tương tư” của học sinh Vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc (56)
    • 2.1. Những biện pháp rút ngắn khoảng cách trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính (60)
      • 2.1.1. Biện pháp thứ nhất: Rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính (61)
      • 2.1.2. Biện pháp thứ hai: Trang bị kiến thức văn hóa làng quê miền xuôi (65)
    • 2.2. Đưa HS Vùng cao đến với thơ Nguyễn Bính theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS (72)
      • 2.2.1. Đưa HS Vùng cao bước đầu đến với thơ Nguyễn Bính (72)
      • 2.2.2. Thâm nhập vào thơ Nguyễn Bính (73)
      • 2.2.3. Tiếp tục đến với thơ Nguyễn Bính sau giờ học (0)
      • 2.2.4 Nêu vấn đề và tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận theo hình thức hoạt động nhóm (0)
      • 2.2.5. Hoạt động ngoại khóa văn học về thơ Nguyễn Bính (75)
  • Chương III. THIẾT KẾ BÀI HỌC THỂ NGHIỆM (60)
    • 3.1. Định hướng dạy học (79)
    • 3.2. Tiến trình dạy học (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (93)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Cơ sở lý luận

1.1.1 Phong trào Thơ mới trong nền Văn học hiện đại Việt Nam

Thơ mới là một thể loại thơ được phát triển để đối lập với thơ cũ, không bị ràng buộc bởi quy tắc số câu, số chữ hay niêm luật Theo Dương Quảng Hàm trong tác phẩm "Việt Nam văn học sử yếu", thơ mới chỉ cần có vần điệu mà không cần tuân theo những quy định nghiêm ngặt của thơ cũ.

Theo Nguyễn Quốc Túy trong cuốn “Thơ mới-bình minh thơ hiện đại” (Nxb Giáo dục văn học 1995) thì khái niệm “Thơ mới” không đồng nhất với khái niệm

Thơ lãng mạn là một thành phần quan trọng trong Thơ mới, đóng góp lớn vào thành công của phong trào này Bên cạnh đó, Thơ mới cũng bao gồm những tác phẩm hiện thực nổi bật như “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ và “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ.

Thơ mới, với yêu cầu hiện đại hóa thơ dân tộc, đã tiếp thu nhiều yếu tố từ thơ lãng mạn Pháp và đồng thời kế thừa, phát triển tinh hoa của thơ cổ dân tộc, thơ cổ Trung Hoa, cùng với thơ dân gian Việt Nam Điều này cho thấy thơ mới không chỉ là một thời đại mới của thơ lãng mạn mà còn là một bước phát triển quan trọng trong văn hóa thơ ca của dân tộc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.1.2 Phong trào Thơ mới - quá trình hình thành phát triển và kết thúc Theo Tài liệu.Việt Nam thì “Thơ mới” đã được thai nghén từ trước 1932, và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của phong trào Thơ mới Tản Đà chính là gạch “nối”của hai thời đại thơ ca Việt Nam, đƣợc Hoài Thanh và Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi của phong trào Thơ mới Và đến ngày 10/3/1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, thì phát súng lệnh của Phong trào Thơ mới chính thức bắt đầu

Phong trào Thơ mới phát triển qua 3 chặng sau đây:

Giai đoạn 1932-1935 chứng kiến cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và Thơ cũ, khởi đầu bởi Phan Khôi, với sự tham gia của các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, và Vũ Đình Liên, những người đã công kích thơ Đường luật và kêu gọi thay đổi Lưu Trọng Lư trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” đã thúc giục các nhà thơ đưa ý tưởng và tình cảm mới vào thơ ca Cuộc tranh luận diễn ra quyết liệt, với sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà thơ đại diện cho Thơ cũ như Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, và Hoàng Duy Từ Đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh tạm lắng và Thơ mới đã giành được ưu thế Thế Lữ nổi bật nhất trong phong trào Thơ mới với tập “Mấy vần thơ” (1935), cùng với sự góp mặt của các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, và Vũ Đình Liên.

- Giai đoạn 1936-1939; Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ƣu thế tuyệt đối, so với “Thơ cũ ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại

Giai đoạn này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn nhƣ Xuân Diệu (Tập Thơ Thơ-

1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê-1936, Đau thương- 1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn-

Năm 1937, Bích Khuê ra mắt tác phẩm "Tinh huyết" (1939), đánh dấu sự xuất hiện của nhiều nhà thơ mới, đặc biệt là Xuân Diệu - nhà thơ được coi là "mới nhất trong các nhà thơ mới" Xuân Diệu nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trong làng thơ với một chỗ ngồi vững chắc, như nhận xét của Hoài Thanh Ông chính là biểu tượng tiêu biểu của giai đoạn thơ ca này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sự khẳng định mạnh mẽ cái Tôi đã dẫn đến sự phân hóa trong sáng tác, hình thành nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau Cái Tôi với màu sắc cá nhân rõ nét đã tạo ra những phong cách nghệ thuật đa dạng, cả về thi pháp lẫn tư duy Khi cái Tôi được thể hiện đến mức tối đa, nhà thơ đã tìm ra con đường thoát ly riêng cho mình.

Từ năm 1940, phong trào văn học Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng sáng tác đa dạng, trong đó nổi bật là nhóm Dạ Đài với các thành viên như Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, và Đinh Hùng Bên cạnh đó, nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng góp mặt với những tên tuổi như Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, và Nguyễn Đỗ.

Cung ; nhóm Trường thơ loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khuê

Các khuynh hướng thoát ly trong giai đoạn này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật của các nhà Thơ mới Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một số trí thức không giữ được tư tưởng độc lập, mà đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản Trong hoàn cảnh là người dân mất nước và bị áp bức bởi chế độ xã hội thực dân, họ đứng giữa ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau Đồng thời, một số nhà thơ mới cũng mất phương hướng, rơi vào bế tắc và không tìm thấy lối thoát.

1.1.1.3 Đóng góp của Thơ mới đối với nền thi ca Việt nam hiện đại

Trong cuốn "Những thế giới nghệ thuật thơ" (Nxb Giáo dục - 1995), Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận định rằng phong trào Thơ mới là một cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử văn học dân tộc Phong trào này không chỉ mang lại những tác phẩm xuất sắc và những nhà thơ độc đáo, mà còn tạo ra một phạm trù thơ hiện đại và một thi pháp mới, phân biệt và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển truyền thống.

Tạ Đức Hiền,Thơ mới có nhiều đóng góp lớn đối với nền thi ca Việt Nam

- Trước hết Thơ mới đã thể hiện được tình yêu cuộc sống thiết tha, nồng nhiệt

Cái "tôi" trong Thơ mới thể hiện sự khẳng định bản thân, giải phóng khỏi mọi ràng buộc để sống một cách đầy đam mê và sôi nổi Người sáng tác muốn trải nghiệm trọn vẹn vẻ đẹp của thời gian và bộc lộ khát khao mãnh liệt, "muốn ôm, muốn riết, muốn thâu, muốn say " tất cả những điều tuyệt vời nhất của "vườn trần" Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho phong trào này.

Thi sĩ luôn nhận thức rõ về giá trị của thời gian, lo lắng rằng thời gian sẽ trôi qua nhanh chóng Tuổi trẻ là khoảng thời gian quý báu, không thể quay lại, vì vậy cần phải tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống và thiên nhiên rộng lớn.

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Hàn Mặc Tử trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” và “Mùa xuân chín” như đang hòa mình vào sắc xuân rực rỡ Thi sĩ say mê ngắm nhìn, lắng nghe âm thanh thiên nhiên, và trái tim rung động trước vẻ đẹp thần tiên của cuộc sống: ánh nắng, màu xanh của lá, và tiếng gió nhẹ nhàng.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang

Trong Thơ mới, các nhà thơ không chỉ thể hiện tình yêu mãnh liệt mà còn dành những tình cảm sâu sắc cho thiên nhiên và quê hương Họ miêu tả vẻ đẹp bình dị của xứ sở qua những vần thơ mới mẻ và sáng tạo Hình ảnh “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng” gợi lên không khí xuân tươi sáng, trong khi miền cát trắng và cô gái quê tần tảo được khắc họa sống động qua câu thơ: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc - Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” (Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử) Những hình ảnh này tạo nên một bức tranh quê hương thân thuộc và gần gũi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên, nơi có màu xanh ngọc của lá và ánh nắng hắt từ tàu cau, tạo nên vẻ đẹp tuyệt vời của cảnh sắc và con người nơi đây.

Dạ thôn miền sông Hương núi Ngự:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh miền núi

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về Phương pháp dạy - học văn trong nhà trường”, tác giả chia sẻ những trải nghiệm quý báu từ nhiều năm giảng dạy tại vùng miền núi, nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù địa phương và nhu cầu của học sinh.

Trong quá trình giảng dạy ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội đã chỉ ra rằng các tác phẩm văn học có thể gợi lên cảm xúc mạnh mẽ ở học sinh miền xuôi, nhưng lại trở nên vô cảm và phản cảm đối với học sinh miền núi Nguyên nhân của hiện tượng này là do những hình ảnh và cách biểu đạt trong tác phẩm văn học rất xa lạ với cuộc sống hàng ngày của người dân miền núi Điều này đặt ra câu hỏi về những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận văn chương của học sinh ở khu vực này.

1.2.2 Ảnh hưởng của thói quen và thị hiếu thẩm mỹ của người miền núi đối với việc tiếp nhận văn chương

Người miền núi gặp khó khăn khi tiếp xúc với văn học miền xuôi do sự khác biệt trong thị hiếu Nhà văn Vi Hồng chỉ ra rằng nhiều hình ảnh và hình tượng nghệ thuật trong văn học miền xuôi trở nên xa lạ với người miền núi Mặc dù họ cố gắng hiểu và ghi nhận những hình ảnh này, nhưng chúng thường trượt khỏi khả năng nhận thức và cảm xúc của họ Ví dụ, cách sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao như “mình”, “ta”, “ai”, “ai ơi”, “ai về” khiến cho người miền núi cảm thấy khó gần gũi.

“Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”

Người miền núi khó mà hiểu cách xưng hô thân mật gần gũi ấy

Văn chương là sản phẩm tinh thần phong phú và đa dạng, trong khi người miền núi thường mang tính cách chất phác và phóng khoáng Do đó, đối với người miền núi, đặc biệt là học sinh và sinh viên, việc hiểu và cảm thụ văn học miền xuôi trở nên khó khăn Điều này xuất phát từ sự khác biệt trong chất liệu hình thành tâm hồn và cảm xúc của mỗi dân tộc.

Học văn yêu cầu sự tưởng tượng và liên tưởng, nhưng nguồn cảm hứng lại đến từ cuộc sống thực đầy phong phú, với nhiều đối tượng được đề cập trong các tác phẩm văn chương.

Học sinh miền núi thường cảm thấy xa lạ với cuộc sống của người miền xuôi Ví dụ, khi đọc bài ca dao "Tát nước đầu đình", một em đã hỏi: “Thưa thầy, tại sao người miền xuôi lại say mê tát cá đến vậy?” Các em không hiểu rằng "tát nước" ở đây có nghĩa là tưới nước cho ruộng lúa, nhằm chống hạn hoặc úng, trong khi người miền núi chỉ biết tát nước để bắt cá Tình cảm và đặc điểm tính cách ảnh hưởng lớn đến cách tiếp nhận văn chương của mỗi người.

Do diều kiện thiên nhiên và địa lý có ảnh hưởng nhiều tới đời sống tâm lí:

Các em sống một cách hồn nhiên và giản dị, yêu thích sự tự do và chân thành Với tính cách trung thực, các em luôn bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc của mình một cách thẳng thắn, không có sự giả dối hay thủ đoạn Sự mộc mạc và chân thành của các em xứng đáng được tôn trọng trong mọi tình huống, và các em mong muốn không ai xúc phạm đến giá trị này.

Học sinh miền núi thường mang lòng tự trọng cao nhưng cũng có tính bảo thủ và dễ bị tổn thương Các em thường cảm thấy tủi thân và chậm thích nghi với bạn bè mới Hạn chế về ngôn ngữ khiến các em tự ti, rụt rè và ngại ngùng trong việc bộc lộ cảm xúc cũng như tư tưởng của bản thân.

Học sinh miền núi, đặc biệt là học sinh dân tộc, có đời sống tình cảm phong phú và chân thực, thể hiện sự yêu ghét rõ ràng mà không có sự quanh co Tuy nhiên, một điểm hạn chế là họ thường giữ kín cảm xúc, ít bộc lộ ra ngoài, dẫn đến việc khó nhận biết tâm trạng thật sự của các em.

Đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc và học sinh miền núi là yếu tố quan trọng để phát triển phương pháp giảng dạy hiệu quả Hiểu rõ những đặc điểm này sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy, đặc biệt trong bộ môn văn học cho học sinh miền núi.

Năng lực văn học của mỗi cá nhân bao gồm khả năng sáng tạo văn học của nhà văn và khả năng tiếp nhận văn học của người đọc Đối với học sinh, năng lực tiếp nhận văn học là yếu tố chủ yếu cần được nghiên cứu và phát triển Việc tìm hiểu năng lực tiếp nhận văn học của học sinh sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và khuyến khích sự yêu thích văn chương trong thế hệ trẻ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhằm mục đích hiểu rõ những thuận lợi và khó khăn của học sinh miền núi Qua đó, chúng ta có thể dần dần bồi dưỡng lòng yêu thích học văn cho các em thông qua quá trình giảng dạy văn học.

Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản về năng lực tiếp nhận văn học ở học sinh THPT miền núi:

1.2.3 Năng lực tri giác ngôn ngữ tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học chỉ có thể sống động khi được thể hiện qua ngôn ngữ, và sự tri giác ngôn ngữ là bước đầu tiên để khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm Nếu thiếu đi sự tiếp nhận của người đọc, tác phẩm sẽ trở thành những ký hiệu vô hồn.

Sự tri giác ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là đọc những con chữ rời rạc, mà còn là khả năng hiểu ý nghĩa sâu xa của chúng Người đọc cần nắm vững cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng để nhận ra vẻ đẹp và giá trị tiềm ẩn trong từng từ ngữ, đặc biệt là cảm nhận được giọng điệu và hồn cốt của ngôn từ Ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, đòi hỏi người tiếp nhận phải có sự tinh tế và một vốn ngôn ngữ nhất định để cảm thụ trọn vẹn.

Học sinh THPT miền núi thường gặp khó khăn trong việc tri giác ngôn ngữ do vốn ngôn ngữ phổ thông hạn chế, khoảng cách lịch sử - văn hóa và hoàn cảnh sống ít va chạm Do đó, việc bồi dưỡng năng lực tri giác ngôn ngữ cho các em là rất cần thiết và cần được chú trọng thường xuyên.

Học sinh Vùng cao với thơ Nguyễn Bính

Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, cảm nhận sâu sắc và đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được tạo ra từ ngôn từ Người đọc lắng nghe tiếng nói của tác giả và thưởng thức vẻ đẹp cùng tài năng của người nghệ sĩ sáng tạo.

Tiếp nhận văn học là quá trình giao tiếp giữa bạn đọc và nhà văn thông qua tác phẩm Để hiểu được tác phẩm, người đọc cần vận dụng tri giác, cảm xúc và khả năng cảm thụ của mình Tác phẩm văn học chỉ thực sự trở nên ý nghĩa khi người đọc nhận ra thông điệp thẩm mỹ mà nhà văn muốn truyền tải.

Để giúp học sinh miền núi tiếp nhận thông điệp thẩm mỹ trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính, chúng ta cần tìm hiểu những khó khăn và khoảng cách mà họ gặp phải khi tiếp cận tác phẩm này Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học sinh miền núi cảm nhận và hiểu sâu sắc về những thi phẩm viết về miền xuôi Đây là vấn đề mà các giáo viên Ngữ văn, đặc biệt là những người dạy học sinh tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đang trăn trở và tìm kiếm giải pháp.

Mục đích của khảo sát là để hiểu rõ những khó khăn và thái độ của học sinh miền núi đối với thơ Nguyễn Bính Đối tượng khảo sát là học sinh vùng cao, cụ thể là ba lớp khối 11 tại trường Vùng cao Việt Bắc - Thái Nguyên.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát với 120 học sinh thông qua việc sử dụng phiếu điều tra có sẵn câu hỏi Các em đã trả lời các câu hỏi trên phiếu, từ đó chúng tôi rút ra một số kết luận khoa học quan trọng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sau khi nhận thông tin từ phiếu điều tra, chúng tôi đã thống kê và nhận diện những thái độ, cảm xúc cũng như những khó khăn mà các em gặp phải khi tiếp cận bài thơ “Tương tư”.

1.3.1 Tình cảm của học sinh Vùng cao với thơ Nguyễn Bính

Bài thơ này có thể gợi cho em nhiều cảm xúc và suy nghĩ Em có thích bài thơ này không? Nó có thể diễn tả những tâm tư, tình cảm mà em đang trải qua Hãy thử đặt mình vào nhân vật trữ tình để cảm nhận sâu sắc hơn những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải Chủ thể trữ tình trong bài thơ có thể phản ánh những điều mà em cũng đang cảm nhận trong cuộc sống.

Kết quả chúng tôi thu đƣợc nhƣ sau:

Kết quả Thích Không thích Bình thường

Qua 120 phiếu điều tra, HS thích học thơ Nguyễn Bính là 103 phiếu (tỉ lệ chiếm 85,5%), HS không thích học thơ Nguyễn Bính là 6 phiếu (tỉ lệ chiếm 5%),

Học sinh có thái độ tích cực đối với bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính, với 11 phiếu ủng hộ, chiếm 9,2% Điều này cho thấy sự yêu thích của học sinh đối với tác phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy bài thơ này.

Dưới đây là lời suy nghĩ của các em về bài thơ:

Em Hờ A Lồng, dân tộc H’mông, quê ở tỉnh Điện Biên đã tâm sự:

Bài thơ “Tương tư” không chỉ được em yêu thích mà còn chạm đến trái tim của nhiều độc giả khác, nhờ vào sự độc đáo và ấn tượng sâu sắc về tình yêu đôi lứa Qua tác phẩm, người đọc cảm nhận rõ nét những cung bậc của tình yêu, từ nỗi nhớ tha thiết, sự cháy bỏng, đến những cảm xúc hờn ghen, hoài nghi và những ước mơ đẹp đẽ về tình yêu.

Trong bài thơ, nhân vật trữ tình thể hiện rằng trong tình yêu, nỗi nhớ nhung là một dấu hiệu rõ ràng và thường xuyên xuất hiện.

Tình yêu và nỗi nhớ là hai khía cạnh không thể tách rời, khi tình yêu lớn thì nỗi nhớ cũng trở nên sâu sắc hơn Sự tương quan giữa tình yêu và nỗi nhớ thể hiện rõ ràng: có yêu thì mới có nhớ, và khi yêu nhiều, nỗi nhớ sẽ trở nên da diết và cháy bỏng.

Em Hứa Thị Tình, dân tộc Nùng, quê ở Bắc Kạn viết:

Bài thơ “Tương tư” thể hiện sâu sắc nỗi nhớ và khao khát của những người đang yêu, mang đến cảm xúc chân thật về ước vọng hướng tới một tương lai tốt đẹp Với hình ảnh gần gũi và lời thơ dễ hiểu, tác phẩm thu hút sự quan tâm của độc giả, đặc biệt là giới trẻ, những người dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm với tâm tư của mình trong bài thơ.

Em Hoàng Thị Huệ, dân tộc Tày, quê ở Tỉnh Lạng Sơn viết:

Bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính thu hút em bởi thể thơ lục bát gần gũi, giống như những bài ca dao, tạo ấn tượng thân thuộc Nó mở ra không gian văn hóa làng quê miền xuôi, giúp em hiểu thêm về nét đẹp văn hóa nơi đây, điều mà học sinh miền núi như em còn xa lạ Những cảm xúc chân thật trong bài thơ phản ánh tâm tư của nhiều người Cuối bài, hình ảnh “trầu cau” thể hiện ước muốn hướng tới hôn nhân, một tình yêu bền chặt hạnh phúc, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam.

Em Sùng Thị Tường Vy, dân tộc H’mông, quê ở tỉnh Yên Bái tâm sự:

Thơ ca và văn học luôn có sức hút đối với những người yêu thích cái đẹp, và bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính là một minh chứng cho điều đó Tình yêu, với những cảm xúc nhớ nhung và khắc khoải, là tâm trạng chung của con người, và bài thơ này đã thể hiện một cách chân thực và sâu sắc những cảm xúc đó Nhiều bạn trẻ tìm thấy sự đồng điệu và sẻ chia khi đọc thơ Nguyễn Bính Nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là tiếng lòng của những người đang yêu, thể hiện sự nhớ mong và tình cảm chân thành dành cho người mình thầm thương trộm nhớ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.2 Khả năng phát hiện chủ thể trữ tình trong bài thơ

Câu hỏi đặt ra là: Bài thơ “Tương tư” là lời của ai nói với ai? Nói điều gì?

Theo em những lời bày tỏ ấy có chân thực không? có tinh tế không?

Trong các câu trả lời của phiếu điều tra, hầu hết các em phát hiện đúng chủ thể phát ngôn của bài thơ

Em Bàn Thị Yên, dân tộc Dao, quê ở Hà Giang viết:

Bài thơ “Tương tư” thể hiện tình yêu đơn phương của chàng trai dành cho cô gái, nơi mà nỗi nhớ và tình cảm chân thành của anh không được đáp lại Chàng trai bộc lộ nỗi niềm yêu thương sâu sắc, dù cách diễn đạt có phần mộc mạc nhưng lại đầy tinh tế Qua hình ảnh thiên nhiên, anh diễn tả thời gian chờ đợi và quy luật tự nhiên, từ đó phản ánh quy luật tình cảm của con người.

Em Tô Mạnh Trường, dân tộc Nùng, quê ở Cao Bằng viết:

Những biện pháp rút ngắn khoảng cách trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính

Chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 bao gồm phần văn học trung đại từ thế kỷ X đến XIX, tiếp theo là văn học hiện đại với sự khởi đầu của Thơ mới, nổi bật với các tác giả như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, và Anh Thơ Mỗi giai đoạn văn học có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức nghệ thuật, dẫn đến việc học sinh miền núi gặp khó khăn trong việc tiếp nhận Đặc biệt, phần Thơ mới tạo ra những khoảng cách đặc thù cho học sinh vùng cao Để hỗ trợ học sinh miền núi phía Bắc trong việc tiếp cận thơ Nguyễn Bính, luận văn đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm rút ngắn khoảng cách này.

- Rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính

- Trang bị kiến thức văn hóa làng quê miền xuôi trong thơ Nguyễn Bính cho

- Cung cấp cho HS tri thức về thơ lục bát

Biện pháp: là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể (Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội 1992) [tr: 78]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.1.1 Biện pháp thứ nhất: Rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính:

2.1.1.1 Khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính của HS Vùng cao

Văn học sử dụng ngôn từ để xây dựng hình tượng, đòi hỏi nhà văn và nhà thơ phải am hiểu và sử dụng thành thạo chất liệu này Mỗi nhà thơ mang phong cách ngôn ngữ riêng, phản ánh tâm hồn và quan niệm sáng tác của họ "Vùng chữ" là từ vựng đặc trưng mà thi sĩ sử dụng, giúp nhận diện cá tính và phong cách sáng tác Việc phân tích vùng chữ của một nhà thơ cho thấy rõ nét cá tính và quan điểm nghệ thuật của họ Bên cạnh việc lựa chọn từ vựng, tài năng của nghệ sĩ còn thể hiện qua cách tổ chức ngôn ngữ, hay còn gọi là "cách chữ", mà Lê Đạt đã đề cập.

Nghiên cứu cách chế tác ngôn từ của Nguyễn Bính, chúng ta có thể thấy đƣợc diện mạo riêng của ngôn từ thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính không chỉ khéo léo sử dụng hình ảnh cụ thể, mộc mạc của đồng quê, mà còn thành công trong việc đưa lời ăn tiếng nói của người dân quê vào thơ Những nét độc đáo trong thơ của ông mang đến cho bạn đọc miền xuôi những cảm xúc thẩm mỹ, nhưng lại trở thành rào cản cho học sinh miền núi tiếp cận với vẻ đẹp của thơ Nguyễn Bính Chương I đã trình bày những khoảng cách ngôn từ cụ thể, vì vậy luận văn này sẽ tập trung vào các biện pháp giúp giải tỏa những vướng mắc đó.

2.1.1.2 Cách rút ngắn khoảng cách trên:

Trong thơ Nguyễn Bính, có nhiều từ ngữ quen thuộc với người miền xuôi nhưng lại trở nên xa lạ đối với học sinh vùng cao Sự khác biệt này cho thấy sự đa dạng ngôn ngữ và văn hóa trong các khu vực khác nhau của Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên, các nhóm từ và câu trong sách giáo khoa đã được chú giải, nhưng những chú giải này vẫn chưa đủ để học sinh vùng cao hiểu rõ về thơ Nguyễn Bính.

Ví dụ với 2 câu thơ:

Bao giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

Có 2 từ “khuê các”, “giang hồ”, và cả hai cụm từ “hoa khuê các” và “bướm giang hồ”, mặc dù SGK có chú giải, nhƣng HS vùng núi vẫn không hiểu hết ý nghĩa ý nghĩa của hai từ và hai cụm từ đó Bởi vậy chúng tôi đã giảng giải thêm để các em khỏi vướng mắc trong cảm hiểu thơ Nguyễn Bính Ở đây nhà thơ đã sử dụng lối nói ƣớc lệ ẩn dụ trong ca dao (bến đò) trong thơ văn truyền thống (Hoa khuê các, bướm giang hồ) để thể hiện một nỗi ƣớc mong, một khát khao về tình yêu hạnh phúc của lứa đôi rất tha thiết Đây cũng là tình cảm chân tình, thật chân thành, tha thiết của chàng trai thôn quê với cô gái

Nhà thơ Nguyễn Bính đã khéo léo đưa vào thơ mình những từ ngữ khẩu ngữ đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ như “trồng - giồng” và “trai làng - giai làng” Những cách diễn đạt như “Ông giời - Ông giăng, ăn miếng giầu” chỉ có thể được hiểu bởi người dân quê, phản ánh tư duy của người thuần nông Trong khi đó, tiếng Việt chuẩn hiện nay sử dụng “trời, trăng, giầu” Âm “gi” trong các từ này mang đậm hơi hướng truyền thống, góp phần tạo nên phong vị dân gian cổ truyền và sự thuần khiết trong thơ của Nguyễn Bính.

Gió mưa là bệnh của giời (Tương tư )

Nhà em có một giàn giầu (Tương tư)

Sáng giăng sáng cả vườn chè (Thời trước )

Chờ em chừng giập miếng giầu em sang (Chờ nhau )

Ngôn ngữ "lời quê" không chỉ đơn thuần là từ vựng mà còn phải được sử dụng theo cách thức đặc trưng của quê hương để thể hiện đúng bản chất "Lối nói quê" là cách thức giao tiếp đã trở thành thói quen và ổn định trong tư duy cũng như cách dùng ngôn ngữ của người dân địa phương.

Trong thơ Nguyễn Bính, ta thường thấy sự hiện diện của lối nói khẩu ngữ đặc trưng của người dân quê Ông sử dụng những từ ngữ ước định, áng chừng, tạo nên nét gần gũi và thân thuộc trong từng câu thơ.

Trong thơ Nguyễn Bính, các cụm từ như "như" và "có lẽ" thường xuất hiện nhiều lần, thể hiện tâm tư của cô gái khi trò chuyện với người yêu Những câu thơ này không chỉ mang tính chất lãng mạn mà còn phản ánh những cảm xúc sâu sắc và chân thành trong tình yêu.

Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ đến anh

Hai từ "hình như" và "có lẽ" thể hiện trạng thái không xác định của tình cảm, đặc biệt là những cảm xúc ban đầu e ấp, ngượng ngùng của các chàng trai cô gái Sự tinh tế và bóng gió trong hai chữ này phù hợp với giọng điệu ngập ngừng khi bày tỏ những cảm xúc luyến ái theo cách chân quê.

Cách đo đếm không gian, thời gian và nỗi niềm tâm sự trong thơ Nguyễn Bính thường là cách đo đếm của dân gian:

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

Thời gian không đƣợc đo đếm chuẩn xác, mà đƣợc đo đếm bằng sự luân chuyển của mùa màng:

Anh ạ mùa xuân đã cạn ngày

Thời gian trong thơ của Nguyễn Bính thường mang tính ước lệ và áng chừng, thể hiện chiều sâu tâm tưởng Các từ ngữ quen thuộc được lặp lại, tạo nên sự gắn kết và nhấn mạnh trong tác phẩm của ông.

Ngày ấy, cái ngày, năm xưa, ngày xưa…làm trạng ngữ cho những tình thế, sự việc diễn ra sau đó

Cái ngày cô chưa có chồng (Qua nhà )

Năm xưa chở chiếc thuyền này (Giấc mơ anh lái đò)

Sử dụng các từ ngữ ước lệ và áng chừng giúp xác định thời gian một cách khái quát, đồng thời vĩnh cửu hóa khoảnh khắc sự việc, tạo sự gần gũi với người đọc.

Nguyễn Bính đã thành công trong việc sử dụng lối khẩu ngữ dân quê trong nhiều tác phẩm thơ của mình Lối nói này mang tính khẩu ngữ cao, thể hiện sự gần gũi và tự nhiên trong cách diễn đạt.

Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính được hình thành từ những lời nói của thôn dân, thể hiện sự phong phú và đặc sắc của văn hóa dân gian Việc kết hợp các từ ngữ quen thuộc và tổ chức câu chữ theo cấu trúc ngữ đoạn của khẩu ngữ đã tạo nên một phong cách thơ độc đáo, mang đậm dấu ấn của điệu nói dân gian.

Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

THIẾT KẾ BÀI HỌC THỂ NGHIỆM

Ngày đăng: 18/10/2023, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Nhã Bản, Hồ Xuân Bình (1999), Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng hay văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng hay văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hồ Xuân Bình
Năm: 1999
[2]. Hoàng Hữu Bội (1997), Dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[3]. Nguyễn Gia Cầu (1994), Vấn đề hiện đại hóa phương pháp dạy học văn, Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hiện đại hóa phương pháp dạy học văn
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 1994
[4]. Nguyễn Gia Cầu (2006), Tiếp cận một thành tựu của khoa học phương pháp dạy học văn trong những năm qua, Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận một thành tựu của khoa học phương pháp dạy học văn trong những năm qua
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2006
[5]. Nguyễn Văn Dân (1985), Tiếp nhận mĩ học, tiếp nhận như thế nào, Thông tin khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận mĩ học, tiếp nhận như thế nào
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1985
[6]. Nguyễn Trọng Di (1996), Phương pháp giáo dục tích cực bàn về luận điểm xuất phát, Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực bàn về luận điểm xuất phát
Tác giả: Nguyễn Trọng Di
Năm: 1996
[7]. Vũ Ngọc Dƣỡng (2000), Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê
Tác giả: Vũ Ngọc Dƣỡng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2000
[8]. Hồng Diệu (2001), Một đặc điểm trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đặc điểm trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 2001
[9]. Trần Thanh Đạm 1974, chủ biên), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[10]. Hà Minh Đức (1993), Nguyễn Bính- thi sĩ của đồng quê, Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính- thi sĩ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1993
[11]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2000
[12]. Nguyễn Trọng Hoàn (2000), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[13]. Nguyễn Trọng Hoàn, Tiếp cận văn học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[14]. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy họ văn và sách giáo khoa, Nxb Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy họ văn và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2007
[15]. Trần Bá Hoành (1996), Phương pháp tích cực, Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tích cực
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1996
[16]. Nguyễn Thanh Hùng (3/1991), Định hướng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình, Tạp chí Nghiên cứu Giá dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình
[17]. Nguyễn Thanh Hùng (6/2011), Bàn thêm về tiếp nhận văn học, Báo văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về tiếp nhận văn học
[18]. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học" ở "trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[19]. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
[20]. Đoàn Hương (2000), Nguyễn Bính- thi sĩ nhà quê, Văn luận, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính- thi sĩ nhà quê
Tác giả: Đoàn Hương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w