Thực tiễn đã chứng minh rằng, những quốc gia tuy nghèo tài nguyên thiên nhiên, hạn hẹp về nguồn nhân lực vật chất nhưng do sớm tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng nên có tốc độ phát
Trang 1NGUYỄN TRỌNG KHIÊM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN
LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2012 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2012
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN TRỌNG KHIÊM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN
LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2012 - 2020
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60-31-10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SỸ- ĐỖ TRỌNG HÙNG
Thái Nguyên - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Khiêm
Trang 4Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các Quý cơ quan: Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc, Văn phòng điều phối trương trình nông thôn mới tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Lao động TB & XH tỉnh Vĩnh Phúc Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc, Ban Giải phóng mặt bằng và Phát triển quỹ đất Vĩnh Phúc, và các Doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Cùng các bạn đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi về mọi mặt trong thời gian học tập, nghiên cứu và tìm hiểu tình hình thực tế, cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Đỗ Trọng Hùng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể còn thiếu sót Tôi mong được sự góp ý, chỉ bảo chân thành của các thầy, các cô giáo và các bạn đồng nghiệp./
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày18 tháng 8 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Trọng Khiêm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
BẢNG CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của Luận văn 5
5 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 7
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 7
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 7
1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực 9
1.1.3 Nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực 9
1.1.4 Kết cấu của nguồn nhân lực 11
1.1.5 Vai trò nguồn nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế 11
1.2 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 13
1.2.1 Khái niệm chính sách nguồn nhân lực 13
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn 13
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGUỒN NHÂN LỰC 15
1.3.1 Chỉ tiêu nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực 15
1.3.2 Chính sách trong lĩnh vực giáo dục nâng cao chất lượng 21
1.3.3 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nguồn nhân lực 22
1.4 KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở MỘT SỐ TỈNH 23
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 23
Trang 61.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên 27
1.5 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 28
1.5.1 Những quyết sách quan trọng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 28
1.5.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp 31
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 33
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 33
2.1.2 Cơ sở phương pháp luận 33
2.1.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 34
2.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGUỒN NHÂN LỰC 38
2.2.1 Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực 38
2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 38
2.2.3 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật 38
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 39
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 42
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỈNH VĨNH PHÚC 42
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
3.1.2 Đặc điểm tài nguyên và thiên nhiên 44
3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 47
3.1.4 Tổng quan đặc điểm nguồn nhân lực trong nông nghiệp 50
3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 51
3.2.1 Khái quát chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc 51
3.2.2 Tổng quan quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở địa bàn nghiên cứu 54
3.2.3 Đặc điểm nguồn nhân lực làm việc tại hộ gia đình 57
3.2.4 Đặc điểm nguồn nhân lực làm việc ngoài hộ 58
Trang 73.2.6 Thực trạng việc làm và mức thu nhập của lao động 62
3.2.7 Thực trạng sử dụng thời gian của lao động trong nông nghiệp 64
3.3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ 65
3.3.1 Một số nguyên nhân hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực 65
3.3.2 Đánh giá kết quả sử dụng lao động sau khi được nâng cao chất lượng 70
3.3.3 Ý kiến đề xuất của người dân về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội 72
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 79
4.1 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU 79
4.1.1 Quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 79
4.1.2 Phương hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 79
4.1.3 Những mục tiêu cơ bản 80
4.2 KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH 81
4.2.1 Tác động của chính sách đến sử dụng nguồn nhân lực trong nông nghiệp 81
4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 84
4.2.3 Nhóm giải pháp khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm mới 89
4.2.4 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động 91
4.2.5 Đề xuất với Nhà nước 94
4.2.6 Đề xuất với tỉnh Vĩnh Phúc 95
KẾT LUẬN 97
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 44
Bảng 3.2: Phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008 - 2010 47
Bảng 3.3: Cơ cấu dân số của tỉnh giai đoạn 2005 - 2010 48
Bảng 3.4: Hiện trạng cơ sở Y tế và Cán bộ y tế xã 49
Bảng 3.5: Cơ sở giáo dục trong khu vực nông nghiệp 50
Bảng 3.6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực 52
Bảng 3.7: Phân bố nguồn nhân lực chia theo vị trí làm việc 54
Bảng 3.8: Thời gian làm việc bình quân của lao động làm việc tại hộ 57
Bảng 3.9: Cơ cấu nguồn nhân lực làm việc ngoài hộ chia theo địa giới 58
Bảng 3.10 Nguồn nhân lực ngoài hộ chia theo trình độ kỹ thuật, giới tính 60
Bảng 3.11: Việc làm ngoài hộ chia theo ngành kinh tế và mức tiền công 60
Bảng 3.12: Sử dụng nguồn lực trong hợp tác xã và kinh tế hộ trang trại 62
Bảng 3.13: Mức thu nhập bình quân chia theo vị trí làm việc 63
Bảng 3.14: Ý kiến của hộ dân về hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn lực 65
Bảng 3.15: Tình hình sử dụng đất của hộ điều tra 66
Bảng 3.16: Tình hình vay vốn đầu tư sản xuất của các hộ điều tra 68
Bảng 3.17: Tiếp cận thông tin giới thiệu việc làm trong 12 tháng năm2011 69
Bảng 3.19: Nhu cầu về ngành nghề của người dân 75
Trang 9BẢNG CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta đang tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đạt mục tiêu dân giàu, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để làm được việc đó đòi hỏi phải
có các yếu tố cơ bản gắn bó với nhau, đó là kỹ thuật hiện đại và con người hiện đại Nguồn lực con người càng trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển nhanh và bền vững Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng đã chỉ rõ: con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội từ nay đến năm 2020 là: “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức”
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động và Nhà nước
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội Thực hiện các chương trình, đề án phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát triển, nâng cao, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; nâng cao nguồn nhân
Trang 11Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL) phát triển nông nghiệp (NN) có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) là vấn đề không chỉ của các nhà quản trị nhân sự mà còn là của toàn
xã hội Bởi lẽ, nhân tố con người luôn là nguồn lực nội sinh quý nhất, to lớn nhất và quan trong nhất, là yếu tố cơ bản để cạnh tranh và phát triển, nhất là trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực vật chất khác Vì vậy nâng cao chất lượng NNL, đào tạo con người là con đường đúng nhất, ngắn nhất để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Thực tiễn đã chứng minh rằng, những quốc gia tuy nghèo tài nguyên thiên nhiên, hạn hẹp về nguồn nhân lực vật chất nhưng do sớm tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng nên có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, năng lực cạnh tranh cao, điển hình như Nhật Bản và một số quốc gia thuộc nhóm công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore, Điều này cho thấy, nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định tới khả năng cạnh tranh phát triển và hội nhập của mỗi quốc gia
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, với khoảng gần 80% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động từ 18 - 25, nhưng số lao động này khi tham gia thị trường lao động lại chưa được nâng cao chất lượng nghề nghiệp một cách bài bản hoặc có thì cũng còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp Tỷ lệ lao động được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn còn thấp, phần lớn là lao động thủ công, cơ cấu nguồn nhân lực còn lạc hậu so với các nước trong khu vực và thế giới Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mà giai đoạn đầu là thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã và đang đặt ra cho đất nước ta những thách thức nhất định, trong đó việc xây dựng được một nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đang đặt ra những đòi hỏi bức thiết
Trang 12Nhà nước xây dựng và hoàn thiện các chương trình, chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhằm mục tiêu tạo lập một môi trường thuận lợi và động lực để hình thành, nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế Việc nghiên cứu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có chất lượng là một trong những vấn đề cấp thiết nhất trong quá trình phát triển và hội nhập của nước ta
Thực tế của tỉnh Vĩnh Phúc tổng nguồn nhân lực thì đông nhưng nguồn nhân lực đã qua nâng cao, có chất lượng cao còn ít và phân bố không đều Tình trạng đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu
là do chính sách đào tạo nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp, chưa tương xứng với tiềm năng và các điều kiện phát triển nguồn lực của tỉnh
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và khu vực nông nghiệp nói riêng hiện nay còn quá nhiều bất cập đã cản trở, hạn chế tiến trình phát triển KT - XH Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có của tỉnh Một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc phát huy các nguồn nội lực còn rất thấp, đặc biệt chưa phát huy tốt vai trò nguồn nhân lực phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy tập trung nghiên cứu, xây dựng các giải pháp giúp các khu vực nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông thôn là nội dung cần được quan tâm nghiên cứu Thực tiễn đó yêu cầu cần phải có công trình nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá đúng thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lục khu vực nông nghiệp
Từ thực tiễn nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2012 - 2020” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình,
với hy vọng góp một tiếng nói chung, thúc đẩy sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh nhà
Trang 13Tình hình nghiên cứu: Vấn đề nâng cao chất lượng phát triển nguồn
nhân lực là một vấn đề luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản trị nguồn nhân lực Trong quá trình nghiên cứu nguồn tài liệu phục vụ cho việc viết đề tài này tôi đã có cơ hội nghiên cứu qua một
số tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Mặc dù có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề nguồn nhân lực nói chung, nhưng để đề ra các chính sách và nghiên cứu vấn đề nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trên địa bàn một tỉnh thì chưa có tài liệu nào đề cập tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nhận dạng đúng thực trạng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian vừa qua, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát tiển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn ở Vĩnh Phúc trong thời kỳ tới
+ Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ nguồn nhân lực trong nông nghiệp và vai trò của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá;
- Phân tích tầm quan trọng của các chính sách về thực hiện các chính sách về nâng cao chất lượng nguồn lực nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay;
- Đánh giá thực trạng của nguồn lực cũng như chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp ở tỉnh trong thời gian vừa qua, phân tích nguyên nhân của những mặt được và những mặt còn tồn tại;
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phân tích đánh giá thực trạng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tình hình sử dụng nguồn nhân lực khu vực nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc Do vấn đề nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực rất rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực nên trong luận văn này sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực sau khi được học tập nâng cao tay nghề trong nông nghiệp
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại địa bàn đặc trưng cho các vùng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn thuộc tỉnh Vĩnh Phúc gồm 3 huyện Huyện Yên lạc, huyện Bình Xuyên và huyện Tam Đảo;
- Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc tại thời điểm điều tra thu thập thông tin (tháng 4 - 7/2012), có tham khảo số liệu sơ cấp qua các năm từ
2009 đến năm 2011
4 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của Luận văn
- Phân tích, hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về chính sách, vai trò của chính sách cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lục trong lĩnh vực nông nghiệp;
- Nhận dạng, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nâng cao nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc;
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp trong thời gian tới tại tỉnh Vĩnh Phúc
- Ý nghĩa lý luận: Phân tích, hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung
về nguồn nhân lực, làm rõ vai trò yếu tố chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nông nghiệp để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với tình hình phát triển của xã hội
Trang 15- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đánh giá thực trạng chất về lượng nguồn lực trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nghiên cứu tiềm năng, lợi thế, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực đối với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn của Tỉnh trong thời kỳ tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Chương 3: THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT NGUỒN NHÂN
LỰC PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triên nền KT -XH của quốc gia
do vậy tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Đến nay đã có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực Một số tổ chức quốc tế đưa ra khái niệm nguồn nhân lực như sau:
Theo định nghĩa của liên hợp quốc (UN), nguồn nhân lực là trình độ lao động lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện
có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực; theo nghĩa rộng được hiểu là NNL con người của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển KT - XH Theo nghĩa hẹp có thể lượng hóa bằng một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu, khoa học trong nước và quốc tế cũng đưa ra khái niệm cụ thể về nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995)
Nguồn nhân lực, theo GS.Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó
Trang 17Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với nhu cầu của trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, ) đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phân loại nguồn nhân lực theo nghề nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến 55 tuổi)
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động), không gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay kinh tế tri thức đang chi phối các hoạt động của nền kinh tế quốc dân thì con người trở thành động lực trực tiếp cho mọi sự phát triển
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở những khía cạnh sau:
- Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội với nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động mà không phân biệt người đó đang lao động ở lĩnh vực hay ngành nghề nào và đây được coi là nguồn nhân lực xã hội
- Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhóm dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
- Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên có khả năng lao động
Trang 18Như vậy, có các biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực của một quốc gia hay một địa phương phải phản ánh được đặc điểm cơ bản:
- Nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người
- Nguồn nhân lực gắn với bộ phận dân số và cung lao động
- Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của xã hội
1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn lực thể hiện ở những chỉ số như: sức khoẻ; trình độ văn hoá; trình độ chuyên môn - nghiệp vụ (cấp trình độ được nâng cao chất lượng); năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp (khả năng thực tế về chuyên môn, kỹ thuật); tính năng động xã hội; phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp, thái độ đối với công việc và môi trường làm việc; hiệu quả hoạt động lao động của NNL thu nhập, mức sống và mức độ thoả mãn nhu cầu cá nhân của nguồn lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của lao động, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của nông thôn Trong bối cảnh những thành tựu đã đạt được không ngừng của khoa học và công nghệ có tác dụng thức đấy nhanh quá trình kinh tế - xã hội, thì chất lượng nguồn nhân lực luôn có sự vân động, phát triển đi lên theo hướng tích cực và có nhiều thách thức đặt ra đối với nguồn nhân lực và với những nhà quản trị nhân sự Sự vân động tích cực của nguồn nhân lực ngày càng cao sẽ là cơ sở để cải biến xã hội và không ngừng nâng cao đời sông vật chất và tinh thần và hoàn thiện con người lao động
1.1.3 Nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực
Trong thời đại ngày nay nguồn nhân lực được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, nguồn lực quan trọng số một của sự phát triển nền kinh tế của bất
kỳ quốc gia nào Nhất là, trong bối cảnh thế giới loài người đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng các nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất Bởi vậy, việc nâng cao chất lượng con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành vấn đề quan trọng chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn
Trang 19nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người
là đầu tư có tính chiến lược, lâu dài và là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Cho đến nay do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực khi bàn về nó Theo quan điểm của Liên hiệp quốc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm việc giáo dục nâng cao chất lượng và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH và nâng cao chất lượng cuộc sống
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao chất lượng toàn diện con người là cơ sở quan trọng nhất cho việc nghiên cứu nhân tố con người Khi nói đến nhân tố con người là nói tới mặt hoạt động cơ bản nhất quyết định mọi thuộc tính, biểu hiện đặc trưng của con người Sự tác động của con người quyết định đến toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử Tiến bộ xã hội không phải là quá trình tự động mà phải thông qua hoạt động của con người trong xã hội Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội Con người vừa sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, vừa hoàn thiện ngay chính bản thân mình Chỉ có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất ngày càng phát triển với năng suất, chất lượng cao, làm thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác, nhằm mục đích ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người và cho xã hội
Cũng có quan điểm cho rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, kể cả về giá trị vật chất lẫn tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động
có những năng lực và phẩm chất tốt, mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu
to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội Từ những luận điểm trình bày trên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về chất lượng nguồn nhân lực trên tổng các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình phát triển về cơ cấu nguồn nhân lực Quá trình nâng cao chất lượng và sử dụng năng lực toàn diện của con người là vì sự
tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người
Trang 201.1.4 Kết cấu của nguồn nhân lực
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta xem xét kết cấu của nguồn nhân lực dưới những góc độ khác nhau Đồng thời việc xác định kết cấu của nguồn nhân lực sẽ là cơ sở để từ đó xác định được những chính sách nâng cao chất lượng đối với từng đối tượng cụ thể
Kết cấu nguồn nhân lực xét theo khả năng và mức độ tham gia hoạt động kinh tế, bao gồm:
Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động, được coi là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động được quy định bởi Luật lao động của mỗi quốc gia;
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế, là bộ phận năng động nhất của nguồn lực Bộ phận nguồn nhân lực dự trữ, là một phần nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động nhưng đang hoạt động kinh tế
1.1.5 Vai trò nguồn nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Có rất nhiều yếu tố có tác động đến sự phát triển của một đất nước: Con người, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,… Nhưng hơn tất cả
là yếu tố con người là trung tâm của mọi hoạt động và là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước Một đất nước có khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì sẽ có điều kiện lớn để phát triển nền kinh tế Tuy nhiên con người lại là người phát minh, tạo ra được khoa học công nghệ Con người có trình độ cao mới có khả năng tạo ra được khoa học công nghệ hiện đại, có bước đột phá Và hiện nay tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Isarel,…) nhưng lại có một nền kinh tế rất phát triển do họ có khoa học kỹ thuật hiện đại nên có khả năng tìm ra các nguồn nguyên liệu mới, thay thế cho các nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên Như vậy ta có thể thấy nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia Nguồn nhân lực mà có trình độ cao thì sẽ tạo ra một nền khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng khai thác một cách tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng nhiều ngành, nhiều lĩnh
Trang 21vực hiện đại, phục vụ cho sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của đất nước Ngược lại nguồn nhân lực mà có trình độ thấp thì việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn, tài nguyên thiên nhiên không được khai thác tốt, gây lãng phí dẫn đến kết quả là đất nước sẽ ngày càng tụt hậu so với các nước trên thế giới
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với những mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định
sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế Đó là yếu tố hết sức cấp thiết và cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn nhân lực trong nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung Chúng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế xã hội, đồng thời con người phải có tri thức và đạo đức Vì vậy, vấn đề cốt lõi là phải thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện nhằm đưa con người đạt đến những giá trị phù hợp vơi những đặc điểm văn hoá và yêu cầu mới đặt ra đối với con người Việt Nam, để thực hiện thành công sư nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kì quá độ của nước ta cũng như xu hướng phát triển chung của thế giới
Đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh
tế dài hạn Chính C.Mác đã coi tri thức là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất, Người khẳng định khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp [15] Ngày nay con người không những tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ, tạo ra phương pháp tổ chức quản lý sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả mà còn có thể trực tiếp làm ra sản phẩm như sản xuất phần mềm, các ngành công nghệ cao, Trong lực lượng sản xuất mới, tri thức chiếm giữ vị trí nòng cốt, là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành của nền kinh tế
Như vậy, ta có thể thấy là việc nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một thực tế
Trang 22khách quan không thể không quan tâm Xu hướng hiện nay của thế giới là đầu
tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiến tới “nền kinh tế tri thức”
1.2 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1 Khái niệm chính sách nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng còn được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân, người lao động để họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ Nâng cao chất lượng xét trên phạm vi nâng cao chất lượng con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng, Lẫn thể chất Nâng cao chất lượng nguồn lực con người nhằm gia tăng các giá trị cho con người, làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm những công
cụ của Nhà nước, được Nhà nước ban hành để thực hiện một mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó yêu cầu phải nâng cao chất lượng con người một cách toàn diện trở thành người lao động có năng lực, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
Đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn , đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa nôn g nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về
cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn , khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống;
Chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thô n từ đào tạo theo
Trang 23động và yêu cầu của thị trường lao động ; gắn đào tạo nghề với chiến lược , quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương;
Đẩy mạnh công tác nâng cao chất lượng, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tạo sự chuyển biến sâu sắc về mặt chất lượng, hiệu quả nâng cao chất lượng, bồi dưỡng; nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức, đủ trình độ, bản lĩnh lãnh đạo, quản lý và thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở xã phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mà giai đoạn đầu là thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước đã và đang đặt
ra cho đất nước ta những thách thức nhất định, trong đó việc xây dựng được một nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đang đặt ra những đòi hỏi bức thiết
Nhà nước xây dựng và hoàn thiện các chính sách phát triển nguồn nhân
là nhằm mục tiêu tạo lập một môi trường thuận lời và động lực để hình thành, phát triển và sử dụng có hiệu quả năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực trong mọi thành phần kinh tế làm, thể hiện được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế
Có thể thấy trên thực tế, với những chính sách phát triển nguồn nhân lực nói chung mà Nhà nước đã thực hiện trong thời gian qua đã phát huy được những mặt tích cực của các chính sách và tạo ra những thành tựu nhất định Thông qua các chính sách phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã thực hiện Nhà nước đã tạo ra được một môi trường văn hoá tinh thần lành mạnh nhằm nuôi dưỡng và phát triển NNL, tạo tiền đề cho sự phát triển Đặc biệt, thông qua các chính sách này Nhà nước tạo động lực chính trị cho sự phát triển nguồn lực, đồng thời thúc đẩy sự giao lưu về nguồn nhân lực giữa các quốc gia Như vậy, có thể thấy các chính sách phát triển nguồn nhân lực,
mà Nhà nước ta đang thực hiện đã mang lại những kết quả hết sức to lớn Tuy
Trang 24nhiên, trong quá trình nâng cao chất lượng, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, với những đòi hỏi ngày càng khắt khe với chất lượng nguồn nhân lực thì các chính sách này đã dần dần bộc lộ những hạn chế và có phần lạc hậu Do đó, để đảm bảo mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì Nhà nước ta, cần tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà có sự điều chỉnh và có sự bổ sung các chính sách này nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu CNH - HĐH Nhằm tạo ra một đội ngũ đông đảo những người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật có sức khoẻ để phục
vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Do đó, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo thay đổi được chất lượng nguồn nhân lực cũng như sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có Đồng thời, nhanh chóng tạo ra
sự chuyển biến trong cơ cấu lao động, trong đó lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên theo hướng tuyệt đối và lao động trong các ngành nông nghiệp chuyển hướng ngược lại Và đẩy nhanh quá trình tiến hành phân bố dân số và nguồn nhân lực hợp lý theo lãnh thổ với tư cách là lực lượng lao động chủ yếu nhằm khai thác tối đa tiệm năng của đất nước, làm thay đổi bộ mặt và sức sống của nền kinh tế
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGUỒN NHÂN LỰC
1.3.1 Chỉ tiêu nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực
Khi đánh giá nguồn nhân lực, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách sử dụng chỉ tiêu cơ bản là đánh giá về số lượng và chất lượng, đồng thời xem xét các yếu tố phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực sau khi được nâng cao chất lượng
+ Số lượng nguồn nhân lực: Là tổng số người tham gia hoạt động kinh
tế và được chia theo các đặc trưng về tuổi, giới tính, dân tộc, tương quan giữa nguồn nhân lực với dân số Qua đó chỉ ra tính cân đối theo giới, theo nhóm tuổi hay không và xu hướng thay đổi như thế nào trong tương lai Số lượng nguồn
Trang 25nhân lực được xác định bởi chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng Ngoài ra còn được xác định như tỷ lệ (%) so với tổng dân số, tốc độ gia tăng bình quân, Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không muốn làm việc thì không được tính vào nguồn nhân lực xã hội Còn một số quốc gia khác lại xem nguồn nhân lực là toàn bộ dân số và có khả năng lao động, quan niệm này không có giới hạn về tuổi
Ở Việt Nam, theo cách xác định của Tổng cục Thống kê NNL bao gồm những người đang làm việc và những người chưa làm việc nhưng có nhu cầu tìm việc và sẵn sàng làm việc Nguồn nhân lực còn được gọi với khái niệm lực lượng dân số tham gia hoạt động kinh tế Nguồn nhân lực có thể được phân chia như sau:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: Bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng và nhu cầu lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm và còn gọi là lực lượng lao động
- Nguồn nhân lực đang làm việc: Là số lao động trong các ngành kinh
tế bao gồm lao động làm công ăn lương và lao động tự làm còn gọi là lao động tham gia hoạt động kinh tế
- Nguồn nhân lực dự trữ: Bao gồm những người trong lực lượng lao động chưa có nhu cầu làm việc, chưa tham gia làm việc gọi là dân số không tham gia hoạt động kinh tế như người nội trợ, ốm đau, tàn tật và đi học
+ Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái nhất định thể hiện mối
quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng NNL không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế
mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội Bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội [23] Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật theo nhóm tuổi, theo giới tính, dân tộc là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nguồn nhân
Trang 26lực Ngoài ra chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu chia theo các đặc trưng, ngành nghề
Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực xét về mặt xã hội được thể hiện qua một số hệ thống chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư: Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là có bệnh tật hay không Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong
và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Hiện trạng sức khỏe được đánh giá như về chiều cao, cân nặng, tình trạng thị lực, tai mũi họng, thần kinh, nội ngoại khoa, Và có thể chia theo 3 cấp độ: Tốt - trung bình - yếu
+ Tuổi thọ trung bình
+ Chiều cao, cân nặng trung bình của người lao động
+ Tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ chết thô, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
+ Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
+ Tỷ lệ người mắc bệnh truyền nhiễm, nhóm bệnh có tiêm chủng
- Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của con người với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội, là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản Trình
độ văn hóa biểu hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trình
độ văn hóa tạo khả năng tiếp thu và vận dụng hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy và được đánh giá qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Tỷ lệ dân số biết chữ (tính những người đang học cấp 2 trở nên) + Số năm đi học trung bình (tính những người đang học cấp 3 trở nên) + Tỷ lệ người đi học chia theo các cấp: Tiểu học, phổ thông cơ sở, trung học phổ thông so với dân số trong độ tuổi đi học
Trang 27+ Tỷ lệ học sinh đi học phổ thông đúng tuổi
+ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên
môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm trách công việc về quản lý hoặc hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó mà người lao động được nâng cao chất lượng ở các trường Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, Và
có khả năng chỉ đạo, quản lý công việc thuộc chuyên môn nhất định
Trình độ kỹ thuật thường dùng để chỉ trình độ của người được nâng cao chất lượng các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành để thực hiện công việc nhất định Những người hoạt động trong các lĩnh vực kỹ thuật có thể qua nâng cao chất lượng hoặc chưa qua nâng cao chất lượng nhưng có thâm niên làm việc một thời gian nhất định có trình độ cấp bậc công nhân tương đương bậc 3 trở nên
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật phản ánh kiến thức và kỹ năng của lao động, phản ánh chất lượng lao động được hình thành thông qua hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng Trình độ chuyên môn là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế Nó cũng phản ánh khả năng làm việc của người lao động nhằm đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động Đo lượng trình độ chuyên môn kỹ thuật với một số chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ nguồn lực qua nâng cao chất lượng so với tổng lực lượng lao động
+ Tỷ lệ nguồn lực qua nâng cao chất lượng tay nghề so với tổng lực lượng lao động
+ Tỷ lệ nguồn nhân lực trên đại học, đại học, CĐ, trung học chuyên nghiệp so với dân số
+ Cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật chia theo cấp Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật
* Phát triển nguồn nhân lực: Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
được hiểu ở góc độ hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có
Trang 28điều chỉnh hợp lý số lượng Để có thể phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ
vĩ mô phải có cơ chế chính sách tác động vào nguồn nhân lực Như vậy có thể hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực là tổng thể cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, phẩm chất tâm lý xã hội và điều chỉnh hợp lý về số lượng nhằm đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển
+ Chỉ số phát triển con người HDI: (Human Development Index)
Phản ánh tình trạng phát triển con người của một quốc gia, bằng cách phản ánh các chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, kiến thức tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và mức sống và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của mỗi quốc gia Phát triển con người chính là sự phát triển mang tính nhân văn Đó là
sự phát triển vì con người, của con người và do con người Quan điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có được một cuộc sống ấm no hạnh phúc Năm đặc trưng của quan điểm phát triển con người đó là:
- Con người là trung tâm của sự phát triển
- Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển
- Việc nâng cao vị thế của người dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến)
- Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt như: Tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch,
- Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
Cách tính HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người Nó
đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo 3 tiêu chí sau:
- Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình
Trang 29- Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các
cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học)
- Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người
HDI có giá trị nằm trong khoảng (0 - 1) càng gần 1 thì độ phát triển con người càng cao và ngược lại
- Chỉ số tuổi thọ trung bình: Chỉ số tuổi thọ trung bình = (Tuổi thọ trung bình - 25)/(85 - 25)
- Chỉ số học vấn: Là 2/3 tỉ lệ số người lớn biết chữ cộng với 1/3 số học sinh tuyển vào chia số học sinh trong cả nước
- Chỉ số GDP bình quân đầu người (GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương qui ra Dollar Mỹ):
Chỉ số thu nhập đầu người = Log (GDP/ng) – log (100)
Log(40000) – log (100) Ngày nay cùng với việc phát triển nguồn nhân lực, người ta quan tâm nhiều đến yếu tố phát triển và mức độ chênh lệch giữa các khu vực dân cư, giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc khác nhau Mặt khác nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Một quốc gia dân số có trình
độ học vấn thấp, lao động không được nâng cao chất lượng, sức khỏe yếu thì khả năng tăng trưởng kinh tế không thể cao và thiếu bền vững Vì thế quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế là quan hệ nhân quả
+ Sử dụng nguồn nhân lực: Là khái niệm chỉ sự khả dụng lao động
trong nền kinh tế quốc dân, bao hàm giá trị về số lượng và khả năng thu hút lao động trong các ngành kinh tế Chất lượng sử dụng được xem xét, đánh giá như cơ cấu lao động có việc làm trong các ngành kinh tế, năng suất lao động, lao động theo vị thế việc làm, cơ cấu nâng cao chất lượng, tỷ lệ lao động làm công hưởng lương, lao động tự tạo việc làm chia theo các đặc trưng, Ngày nay ý nghĩa của việc biết khai thác sử dụng lao động vô cùng quan trọng, có thể hiểu ở hai góc độ về số lượng và chất lượng, trong đó biết bố trí sử dụng
Trang 30cân đối hài hòa với các nguồn lực khác và việc sử dụng phải gắn liền với phát triển bền vững
1.3.2 Chính sách trong lĩnh vực giáo dục nâng cao chất lượng
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học
và công nghệ của đất nước đó, trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục và nâng cao chất lượng Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nước nào đó sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nước còn rất non yếu Sự non yếu thể hiện
ở chỗ thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề Điều đó đã ảnh hưởng tới việc áp dụng các thành tựu khoa học, không có sự lựa chọn nào khác hoặc là nâng cao chất lượng các nguồn lực quý giá cho đất nước phát triển hoặc phải chịu
sự tụt hậu so với thế giới Giáo dục và đào tạo cho người lao động có
đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi
có trong tay kiến thức về xã hội, về trình độ chuyên môn người lao động sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Như vậy, giáo dục và đào tạo nhằm định hướng phát triển kinh tế - xã hội, trước hết cung cho xã hội một đội ngũ lao động đủ về số lượng, chất lượng và sau là phát huy hiệu quả để đảm bảo: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Bên cạnh sự đảm bảo nguồn nhânclực về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc thì việc phát triển công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc đưa đất nước trở thành nước công nghiệp Công nghiệp hoá với xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc
Ngày nay, để công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì việc thiếu lao động có trình độ chuyên môn hoá cao và thừa lao động trình độ thấp rất nhiều gây ra sức ép việc làm lớn Nếu bên cạnh việc nâng cao trình độ cho người lao động
mà kết hợp với việc áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra
Trang 31những chỗ làm việc hợp lý Ngược lại, nếu Nhà nước có những chính sách tạo việc làm cho người lao động mà họ thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức chuyên môn thì chương trình tạo việc làm sẽ không đạt hiệu quả nữa
1.3.3 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
Qua tổng hợp ý kiến từ nhiều tài liệu nghiên cứu và qua thực tế, nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng to lớn của các yếu tố chính như sau:
- Tăng trưởng kinh tế: Tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trên nhiều phương diện Tăng trưởng kinh tế không chỉ góp phần cải thiện đời sống nhân dân mà còn tăng khả năng tiết kiệm và đầu tư, tạo thêm việc làm Ngoài ra tăng trưởng kinh tế đồng hành với việc tăng thu ngân sách Nhà nước, đây chính là tiền đề quan trọng để Nhà nước cân đối đầu tư nguồn lực tài chính cho các chương trình, dự án nhằm điều chỉnh, cân đối và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển sự nghiệp y
tế, giáo dục Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên thì tăng trưởng kinh tế cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nhân lực như quá trình đô thị hóa gắn liền với tình trạng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân và gánh nặng về y tế, giáo dục do gia tăng dân số cơ học
- Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe: Dinh dưỡng thấp, sức khỏe yếu không chỉ gây ốm yếu về thể trạng, về tinh thần mà còn làm giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tái sản xuất sức lao động Đối với bà mẹ đang mang thai, tình trạng dinh dưỡng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đứa trẻ, ảnh hưởng đến nguồn lực trong tương lai Hơn nữa suy dinh dưỡng và bệnh tật làm giảm khả năng sáng tạo và hạn chế việc học tập nghiên cứu
- Mức độ phát triển của giáo dục và nâng cao chất lượng: Là yếu tố vô cùng quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động mà còn giúp người dân có kiến thức biết tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong bối cảnh thay đổi liên tục không ngừng về khoa học công nghệ, giáo dục và nâng cao chất lượng giữ vai trò chủ yếu trong ứng dụng thành
Trang 32tựu khoa học kỹ thuật Lịch sử các nền kinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia phát triển nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông Kinh nghiệm từ các nước và vùng lãnh thổ có tốc độ phát triển cao như Hàn Quốc, Singapor, Hồng Kông trong những năm từ
1970 - 1980 thường đạt mức độ phổ cấp tiểu học trước khi nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao
1.4 KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở MỘT SỐ TỈNH
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Nói đến nông nghiệp là nói đến khu vực có trên 70% dân số cả nước sinh sống ở vùng nông nghiệp, nông thôn, miền núi, ven biển và cũng là nói đến ngành nghề truyền thống lâu đời Ngày nay, ngành nông nghiệp càng trở nên quan trọng bởi thực hiện vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, giải quyết việc làm, xói đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường Nông nghiệp Đà Nẵng tuy diện tích không lớn nhưng cũng đảm trách chức năng, vai trò đó
Năm 1997 thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo các ngành chức năng bắt tay ngay vào công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu: sớm xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng của khu vực miền trung Tây Nguyên, theo đó ngành nông nghiệp thành phố phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị
Giá trị sản xuất của ngành luôn duy trì tăng trưởng ở mức từ 4%/năm, tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP của thành phố chuyển dịch theo hướng tích cực, trình độ lực lượng sản xuất ngành ngày càng cao, quan hệ sản xuất từng bước phù hợp, nhiều cơ chế, chính sách được ban hành đã góp phần thúc đẩy và khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội;
3-cơ giới hóa, tự động hóa một số khâu, lĩnh vực trong ngành mang lại lợi ích nhiều mặt; đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của cộng đồng nông dân nâng
Trang 33lên, môi trường được bảo vệ, các thành quả đó được thể hiện trên các lĩnh vực sau:
Về trồng trọt, chăn nuôi: Các tiến bộ khoa học, công nghệ nhất là công
nghệ giống tập trung đưa vào sản xuất, từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung như: lúa, rau, hoa, cây cảnh, giết mổ và chăn nuôi tập trung đảm bảo cho công tác quản lý, kiểm soát dịch bệnh, xử lý môi trường hiệu quả
Về thủy lợi: tất cả các công trình thuỷ lợi đầu mối như hồ chứa nước,
trạm bơm điện, đập dâng, hệ thống kênh chính, nội đồng đã được đầu tư kiên
cố, chủ động nước tưới cho hầu hết diện tích sản xuất trồng trọt, nuôi trồng thủy sản
Kinh tế trang trại và ngành nghề nông thôn: Kinh tế trang trại và ngành
nghề nông thôn tăng khá cả về số lượng và quy mô năng lực sản xuất; năm
1997 chỉ có khoảng 100 trang trại, thì nay (năm 2011) có 305 trang trại; quy
mô vốn tăng từ 100 triệu đồng lên 800 triệu đồng/trang trại; giá trị sản xuất từ kinh tế trang trại chiếm trong cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tăng từ 2,5% lên 11%; giải quyết việc làm cho 1.670 lao động, những làng nghề cũ được khôi phục, nhiều làng nghề mới ra đời đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, tạo sản phẩm cho du lịch thành phố
Về thủy sản: Kinh tế thủy sản phát triển toàn diện cả về năng lực sản
xuất, lợi thế cạnh tranh và kết cấu hạ tầng Khai thác hải sản chuyển dịch tích cực, nhiều nghề có giá trị kinh tế cao, bền vững, bảo vệ môi trường được phát triển, hình thành những tổ khai thác quy mô lớn, hiện đại, công nghệ bảo quản tiên tiến
Thành phố Đà Nẵng bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: biến đổi khí hậu; tình hình kinh tế thế giới được dự báo vẫn còn nhiều khó khăn; các loại dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi còn nhiều tiềm ẩn khó lường, Những khó khăn đó sẽ là trở lực đối với ngành trong việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 34nông nghiệp, nông thôn, xây dựng kinh tế thủy sản ổn định, duy trì được tốc
độ tăng trưởng, tiếp tục phát triển nền nông nghiệp theo hướng nông nghiệp
đô thị, công nghệ cao
Để thực hiện được các chỉ tiêu nên trên, đòi hỏi toàn thể công chức, viên chức, người lao động toàn thành phố phải nỗ lực hơn nữa, phát huy lợi thế so sánh hiện có, tận dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội; đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp với từng thời điểm, từng lĩnh vực, từng ngành; biến khó khăn, bất lợi thành cơ hội, vật chất, nguồn lực phát triển
Có thể nói thành tựu đã đạt được của ngành nông nghiệp Đã Nẵng đã khẳng định quan điểm, chỉ đạo sáng suốt của Thành ủy, UBND thành phố đối với ngành nông nghiệp, bên cạnh đó là sự phối hợp tích cực, đầy trách nhiệm của các Sở, ngành, địa phương trên địa bàn thành phố và toàn thể nhân dân
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh được biết đến là một địa phương có tốc độ tăng trưởng cao,
đô thị hóa nhanh Hiện nay, toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp và 26 cụm công nghiệp tập trung với tổng diện tích hơn 81 nghìn ha, đã và đang triển khai, đi vào hoạt động Ba năm qua, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng bình quân 28%/năm
Hiện nay, tỷ lệ lao động trong toàn tỉnh chưa qua đào tạo còn gần 50% , trong đó lao động nông thôn chiếm hơn 60% Cùng với đó là cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn còn nhiều bất cập Lao động chuyên môn
có tay nghề, kỹ thuật của tỉnh hiện nay mới đáp ứng được gần 40% nhu cầu tuyển dụng trên địa bàn
Mỗi năm toàn tỉnh có gần 29 nghìn lao động có nhu cầu đào tạo nghề, đến nay, thực tế đào tạo nghề toàn tỉnh đạt khoảng 12 nghìn ở bậc sơ cấp và ngắn hạn cùng hơn bốn nghìn lao động đạt trình độ trung cấp và cao đẳng nghề Như vậy, còn một số lượng lớn nguồn nhân lực nông nghiệp có nhu cầu đào tạo nhưng chưa được đáp ứng Đó là chưa tính còn một số lượng không
Trang 35nhỏ nguồn nhân lực nông nghiệp cần đào tạo lại nghề hằng năm do đất nông nghiệp thu hẹp, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đô thị hóa
Trước thực tế đặt ra, nhiều năm liền, Bắc Ninh tập trung mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của nguồn nhân lực nông nghiệp Từ năm 2010 đến nay, tỉnh đã tập trung lãnh đạo công tác này Tám huyện, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo, đề ra chương trình hành động, phát triển các trung tâm dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương Công tác đào tạo nghề nguồn nhân lực nông nghiệp ở Bắc Ninh được triển khai theo hướng đa dạng các loại hình, các ngành nghề đào tạo: Dạy nghề tại cộng đồng theo nhu cầu lao động; liên kết với trường dạy nghề để đào tạo liên thông đạt trình độ cao; dạy nghề và tạo việc làm thông qua các chương trình của Chính phủ Trên địa bàn, hàng loạt nghề được mở rộng đào tạo gắn với thị trường và nhu cầu lao động Tỉnh đã đầu tư mở thêm
hệ cao đẳng và trung cấp nghề, nâng số lao động được đào tạo hệ trung cấp và cao đẳng từ bốn nghìn lên hơn năm nghìn mỗi năm
Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 660 nghìn lao động trong độ tuổi, nguồn nhân lực nông nghiệp chiếm 76% Triển khai thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18, tỉnh đề
ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố cơ bản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc Ninh tăng cường cả về quy
mô và chất lượng đào tạo nghề nguồn nhân lực nông nghiệp Nhất là trong bối cảnh nhiều cơ sở dạy nghề của tỉnh quy mô còn nhỏ, trang thiết bị vừa thiếu vừa lạc hậu, cơ cấu đào tạo nghề chưa hợp lý
Từ cách làm của thành phố Bắc Ninh cho thấy, việc đào tạo nghề nguồn nhân lực nông nghiệp nhất là với lao động nữ, lao động tuổi trung niên muốn hiệu quả phải gắn liền với phát triển các HTX sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ chính tại thôn, xóm Nhân tố này đặt ra yêu cầu tỉnh tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện
Trang 36chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất trên địa bàn Đồng thời cần xã hội hóa công tác đào tạo nghề nguồn nhân lực nông nghiệp, phát huy vai trò của doanh nghiệp và người lao động trong việc đào tạo và tự đào tạo nghề
1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên
Đào tạo nghề cho nguồn nhân lục nông nghiệp trong là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội về học nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp Một trong những nhiệm vụ và giải pháp là giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; bảo đảm hài hòa giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 28-10-2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó mục tiêu tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận nguồn nhân lục nông nghiệp sang công nghiệp và dịch
vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người đân nông thôn Quyết định nêu rõ Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho nguồn nhân lục nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi nguồn nhân lục nghiêp, nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho nguồn nhân lục nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
Các địa phương cũng đã chủ động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trên 9.600 cán bộ công chức cấp xã, nâng tổng số cán bộ công chức được đào tạo, bồi dưỡng ở 51 địa phương khi thực hiện đề án lên hơn 80.000 người
Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho 883 giáo việc dạy sơ cấp nghề, nâng tổng số giáo viên dạy nghề ở các trung tâm dạy nghề đạt chuẩn nghiệp vụ sư phạm dạy nghề lên trên 7.000 người; bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho gần 2.000 người dạy nghề, nâng tổng số người dạy nghề được bồi dưỡng
kỹ năng dạy học là trên 6.700 người
Trang 37Theo đánh giá của Ban chỉ đạo, công tác tổ chức và triển khai thực hiện của các cấp chính quyền địa phương còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với đặc điểm vùng và ngành kinh tế Nhiều nơi tổ chức dạy nghề chưa gắn với quy hoạch sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, chưa gắn với chính sách đầu tư hạ tầng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việc đào tạo nguồn nhân lục nông thôn tại nhiều địa phương còn chạy theo số lượng mà chưa coi trọng chất lượng, chưa đạt tỷ lệ nguồn nhân lụcnông thôn sau học nghề có việc làm mới hoặc làm công việc cũ với hiệu quả cao hơn, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội
Điều đáng nói nữa là, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ nên rất khó khăn trong công tác biên soạn chương trình, giáo trình, tổ chức giảng dạy dẫn đến chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Ngành, nghề đào tạo cũng chưa đáp ứng nhu cầu học tập của người học và yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, có một thực tế trong lực lượng nguồn nhân lục ở nông thôn hiện nay là trình độ văn hóa, tay nghề còn thấp
Cho nên, các nghề liên quan đến nuôi trồng các loại cây, con phù hợp với từng địa phương hiện đang sản xuất nông nghiệp vẫn là những nghề cần chúng ta ưu tiên đầu tư đào tạo Đào tạo cho bà con cả về kiến thức, về kỹ năng lẫn thái độ nghề nghiệp để nâng cao được chất lượng sản phẩm làm ra, đáp ứng được xu hướng chuyển từ những mặt hàng tự cung tự cấp thành những mặt hàng xuất khẩu
1.5 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
1.5.1 Những quyết sách quan trọng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Hiện nay mục tiêu phát triển của đất nước đã được Đảng và Nhà nước Việt nam xác định là phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Những văn bản chủ trương, chính sách về khuyến khích phát triển nông nghiệp tiếp tục được hoàn thiện tạo động lực cho nông nghiệp nước ta phát triển bền vững và đã đạt được những
Trang 38thành tựu quan trọng: Tháng 11/1998, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
06/NQ-TW về một số vấn đề nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trong đó khẳng định vấn đề trọng yếu là kinh tế trang trại Ngày 27 tháng 11 năm 2009, Chính phủ
ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, đã khẳng định nâng cao chất lượng cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành
và xã hội Tháng 2/2000, Chính phủ ra Nghị quyết số 03/NQ-TTg về phát triển kinh tế trang trại Gần đây nhất Nghị quyết số 03/2007/NQ-HĐND ngày 11/5/2007 của HĐND tỉnh về Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, huấn luyện nghề ngắn hạn và cung cấp thông tin cho nông dân giai đoạn 2007 - 2010, đã đặt ra mục tiêu tăng đầu tư, giảm đóng góp, phát triển nông thôn toàn diện, đây là chủ trương đứng đắn của Đảng và của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã và đang có những tác động tích cực, sâu sắc đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Trong những năm tới tạo nguồn nhân lực dồi dào cho đất nước sẽ góp phần quan trọng có tính quyết định để thực hiện mục tiêu trên Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bền vững, Việt nam cần xác định rõ nguồn lực là tài nguyên quý giá nhất của đất nước trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Việt Nam cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế, phải chú trọng đến một số vấn đề cơ bản, cần phải xây dựng được một chiến lược phát triển nông nghiệp đúng đắn trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực của mình dựa trên các căn cứ khoa học sau, Đó là:
Thứ nhất, phải đánh giá một cách khách quan và sâu sắc chiến lược
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phát triển nông nghiệp trong giai đoạn trước, chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như các hạn chế tồn tại;
Thứ hai, phải căn cứ vào nguồn tài nguyên của đất nước, bao gồm tài
nguyên về đất đai, thời tiết, khí hậu, Đất nước ta với nguồn tài nguyên phục
vụ cho nông nghiệp có nhiều lợi thế, song cũng có những khó khăn lớn Cần
Trang 39đánh giá đúng các lợi thế và những khó khăn trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phát triển nông nghiệp; Thứ ba, căn cứ vào cơ sở vật chất - kỹ thuật nông nghiệp gồm hệ thống
công cụ máy móc, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp Với
hệ thống đạt ở mức nào, cần thiết phải điều chỉnh bổ sung và nâng cấp xây dựng nhằm hướng vào phục vụ chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện tại và tương lai;
Thứ tư, căn cứ vào nguồn nhân lực và trình độ của người lao động: số
lượng và chất lượng của nguồn nhân lực Ở nước ta nguồn nhân lực nông nghiệp dồi dào, song chất lượng còn thấp, ít được nâng cao chất lượng về học nghề, kỹ thuật và quản lý, trình độ dân trí chưa cao;
Thứ năm, căn cứ vào nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế về như
cầu về nguồn nhân lực Ở từng giai đoạn, từng thị trường cụ thể trong nước cũng như trên thị trường quốc tế, cần yêu cầu về số lượng, chất lượng, tay nghề, trình độ của nguồn nhân lực Cần phân tích, đánh giá và dự báo về nhu cầu của thị trường lao động một cách có căn cứ khoa học;
Thứ sáu, căn cứ vào trình độ khoa học và công nghệ của thế giới, của
nước ta và khả năng ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ của thế giới vào điều kiện Việt Nam hiện nay và sắp tới
Từ những chiến lược tổng quát trên, có thể thấy được những nội dung chủ yếu là:
- Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá có cơ cấu sản xuất ngày càng hợp lý;
- Xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bền vững theo hướng nâng cao chất lượng, gắn nâng cao chất lượng nghề với chiến lượng, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của đất nước Đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu LĐ, đồng thời đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng
và khả năng cạnh tranh trên thị trường;
Trang 40- Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành một nền nông nghiệp sạch;
Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững Coi con người là mục tiêu và là động lực chính của sự phát triển Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển hay còn gọi là chiến lược con người, lấy lợi ích của con người làm điểm xuất phát của mọi chương trình, kế hoạch phát triển
Đổi mới chính sách dân số, lao động và bảo trợ xã hội là nội dung hàng đầu trong việc đổi mới chính sách và công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Các chính sách đó phải phát huy nguồn lực và con người Việt Nam hướng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể
1.5.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp
Qua những nghiên cứu tình hình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - giải quyết việc làm nông nghiệp của nước ta cũng như của tỉnh trong những năm qua cho thấy giải quyết việc làm cho nguồn nhân lực trong nông nghiệp
là yếu tố mang tính chiến lược, tùy thuộc vào mỗi vùng có những kết quả khác nhau, nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình tạo việc làm cho người lao động nông thôn như: Thực hiện chính sách phát triển thị trường lao động, phát triển dạy nghề gắn với chiến lược kinh tế - xã hội của từng địa phương, lồng ghép chương trình dạy nghề với các chương trình việc làm, chương trình xoá đói giảm nghèo và các chương trình phát triển kinh tế khác,…Tập trung phát triển dạy nghề ngắn hạn, phổ cập nghề cho lao động ở khu vực nông thôn, lao động trong vùng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất để chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ cho phù hợp Tập trung phát triển các lĩnh vực trọng điểm của địa phương nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động nông thôn và thu hút lao động, phát triển hài hòa giữa kinh tế nông thôn và môi trường