1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM QUA BÀI HỌC TỪ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ

41 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam qua bài học từ bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ
Tác giả Nguyễn Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Lê Quý Dương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI (7)
    • 1.1 Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi (7)
    • 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi (8)
    • 1.3. Vai trò của BHTG (11)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ (13)
    • 2.1 Sự ra đời và phải triển của Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) (13)
    • 2.2. Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động (17)
    • 2.3. Những vấn đề liên quan (20)
      • 2.3.1. Các chủ thể tham gia và đối tượng (20)
      • 2.3.2. Phí bảo hiểm (23)
      • 2.3.3. Mức chi trả (25)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM (27)
    • 3.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ( DIV) (27)
    • 3.2 Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động (29)
    • 3.3. Những vấn đề liên quan (31)
      • 3.3.1. Các chủ thể tham gia và đối tượng (31)
      • 3.3.2 Phí bảo hiểm (34)
      • 3.3.3 Mức chi trả (34)
  • CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM (37)
  • KẾT LUẬN (40)

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Hiện nay, hệ thống BHTG trên thế giới đang không ngừng đổi mới, cải thiện mạnh mẽ, mô hình cũng như mở rộng chức năng, nhiệm vụ. Việc gia tăng mạnh số lượng tổ chức BHTG đã khẳng định xu hướng rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách đã coi tổ chức BHTG như một công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa rủi ro, ngăn ngừa khủng hoảng, bảo vệ người gửi tiền và giảm gánh nặng xử lý đổ vỡ cho ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thị trường tài chính của Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thị trường tài chính toàn cầu, do đó vấn đề bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và duy trì sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính cần được coi trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên các chính sách BHTG vẫn còn hạn chế hiệu lực, tổ chức BHTG chưa phát huy hết vai trò vốn có của một công cụ đảm bảo tài chính. Trên thực tế này, em chọn nghiên cứu đề tài: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam qua bài học từ bảo hiểm tiền gửi Mỹ” đề phân tích và hiểu rõ thực trạng hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Mỹ quốc gia có hệ thống BHTG đầu tiên đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính và vực dậy được tổ chức BHTG một cách mạnh mẽ, cũng như làm rõ thực trạng hoạt động của BHTG Việt Nam hiện nay, từ đó có thể so sánh đối chiếu và đưa ra những giải pháp phù hợp đề nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 1.1.1. Bảo hiểm tiền gửi Khái niệm: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật BHTG 2012 định nghĩa, BHTG là sử bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản. BHTG là loại hình bảo hiểm đối với hoạt động ngân hàng được thực hiện từ rất sớm ở nhiều nước. Chẳng hạn như ở Mỹ, BHTG xuất hiện từ năm 1934. Thực tế ở các nước cho thấy, khi có BHTG ra đời, hoạt động có hiệu quả thì số lượng các ngân hàng bị tuyên bố phá sản đã giảm đi rõ rệt. Bởi vì, nhờ có BHTG đã ngăn chặn sự đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống ngân hàng, góp phần duy trì sự phát triển ổn định, an toàn cho các TCTD. Nhờ có bảo hiểm tiển gửi mà quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm và từ đó các TCTD đã tạo dựng được niềm tin cho người gửi tiền, nhiều người dân có tiền đã tích cực gửi tiền vào các TCTD, qua đó các TCTD huy động nhiều vốn nhàn rồi trong xã hội để cho vay và làm các dịch vụ ngân hàng khác, hiệu quả hoạt động của các TCTD đã tăng lên rõ rệt, nền kinh tế đất nước phát triển, xã hội ổn định. Xét về tính chất, BHTG ở nước ta là loại hình bảo hiểm băt buộc. Bởi vì, pháp luật về BHTG có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các bên tham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện. Việc áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm xử lí rủi ro đối với tổ chức nhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn bảo vệ sự an toàn cho cả hệ thống các TCTD, sự ổn định tiền tệ quốc gia. Đồng thời còn tạo ra sự bình đẳng, công bằng trong các tổ chức có hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín của các TCTD đối với người dân trong giai đoạn hiện nay, nhằm khai thác tổi đa các nguồn vốn nhàn rỗi để tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế. Việc quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm tiền đối với các TCTD được áp dụng ở nhiều nước, chẳng hạn như Mỹ, pháp luật có quy định các ngân hàng là thành viên của hệ thống dự trữ liên bang phải tham gia BHTG tại Công ty BHTG Liên bang. Xét về bản chất, BHTG ở Việt Nam là loại hình bảo hiểm phi thương mại, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm mà được điều chỉnh bằng một quy chế pháp lí riêng (Luật BHTG). Tính phi thương mại của BHTG thể hiện ở chỗ, bên bảo hiểm là tổ chức BHTG Việt Nam tổ chức tài chính nhà nước với mục 8 tiêu hoạt động của tổ chức này là hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng. Đây là sự cam kết công khai được thể hiện dưới hình thức một hợp đồng bảo hiểm gồm có ba đối tượng: “ Tổ chức BHTG, Tổ chức tham gia BHTG là các định chế trung gian tài chính có huy động tiền gửi và người gửi tiền” Bên cạnh đó một số nước và vùng lãnh thổ có mô ta về thuật ngữ BHTG trong Luật BHTG như sau: Luật BHTG của Canada hiện hành quy định:” BHTG là bảo hiểm cho những tổn thất một phần hoặc toàn bộ tiền gửi” còn theo quy định của Luật BHTG của Đài Loan hiện hành thì “ BHTG là một loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là các loại tiền gửi trên lãnh thổ Đài Loan”. Luật BHTG Hàn Quốc năm 2005 quy định về địa vị pháp lý của tổ chức thực hiện hoạt động BHTG trong việc bảo vệ các khoản tiền gửi tại các tổ chức tham gia BHTG tại Hàn Quốc mà không có những mô tả cụ thể về khái niệm BHTG. Và tại Mỹ, pháp luật quy định các ngân hàng là thành viên của hệ thống dữ trữ liên bang phải tham gia BHTG tại FDIC. Theo IADI, BHTG được hiểu: “ BHTG là một hệ thống được thiết lập để bảo vệ người gửi tiền khỏi những tổn thất về tiền gửi được bảo hiểm của họ trong trường hợp tổ chức thực hiện nhận tiền gửi không thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ theo cam kết đối với người gửi tiền” 1.1.2. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Hoạt động đảm bảo tiền gửi được triển khai đầu tiên ở New York, Mỹ năm 1829 với danh hiệu “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, hàm ý bảo hiểm trách nhiệm đối với tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Sau nhiều lần thử nghiệm, đồng thời trước thực tiễn nhiều ngân hàng dồn dập gặp khó khăn, đóng cửa, công cụ BHTG đã được khởi xướng và chính thức được áp dụng trên tất cả các bang của Mỹ từ 111934 tới nay. Kinh nghiệm và thành công của công cụ BHTG ở Mỹ đã nhanh chóng được khởi xướng ở nhiều quốc gia và châu lục trên toàn cầu, trong 9 những năm 1960, trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức BHTG, những năm 1970 có thêm bốn quốc gia. Hầu hết các quốc gia triển khai hoạt động BHTG công khai vào những năm cuối 1990. Tới nay, có trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công khai triển khai công cụ BHTG. Đặc biệt, ngày 652002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI: International Association of Deposit Insurers) được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ với mục đích chia sẻ kinh nghiệm BHTG với thế giới và đóng góp vào sự ổn định của hệ thống tài chính như là một chuẩn mực cho BHTG với các thành viên toàn cầu. IADI là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo Luật Thuỵ Sỹ và là một pháp nhân riêng biệt. Với tầm nhìn là chia sẻ kiến thức về BHTG với toàn thế giới và nhiệm vụ góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống BHTG thông qua việc tăng cường hướng dẫn và hợp tác quốc tế. Mục tiêu của IADI là góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHTG, khuyến khích hợp tác sâu rộng giữa các tổ chức BHTG cũng như các bên liên quan. Cụ thể là: Nâng cao hiểu biết về những lợi ích chung và các vấn đề của BHTG; Xây dựng hướng dẫn để nâng cao hiệu quả của hệ thống BHTG – các hướng dẫn này sẽ xem xét hoàn cảnh cũng như hình thức và cấu trúc khác nhau của các hệ thống BHTG; Hỗ trợ việc chia sẻ và trao đổi kiến thức, thông tin về BHTG thông qua đào tạo, phát triển và các chương trình giáo dục, cung cấp tư vấn về việc thành lập hoặc nâng cấp hệ thống BHTG; Tiến hành nghiên cứu về các vấn đề của BHT; Có những biện pháp, hành động cần thiết hoặc có lợi cho mục tiêu và hoạt động của mình. Các hoạt động chính của IADI bao gồm: Phát triển các nguyên tắc, tiêu chuẩn và hướng dẫn để tăng cường hiệu quả của các hệ thống BHTG – trong đó có tính đến điều kiện, hình thức cấu trúc khác nhau của các tổ chức. Khuyến khích các tổ chức BHTG xem xét và áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và hướng dẫn; 10 Phát triển các phương pháp đánh giá tuân thủ Bộ nguyên tắc cơ bản, tiêu chuẩn, hướng dẫn và hỗ trợ quá trình đánh giá Nâng cao sự hiểu biết chung về các vấn đề của BHTG Hỗ trợ việc chia sẻ và trao đổi kiến thức, thông tin về các vấn đề của BHTG thông qua các chương trình đào tạo, phát triển, các chương trình giáo dục, cung cấp tư vấn về việc thành lập hoặc nâng cấp hệ thống BHTG Tiến hành nghiên cứu về các vấn đề của BHTG Hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt các tổ chức có hoạt động trên những lĩnh vực liên quan đến thị trường tài chính và tăng cường tăng trưởng, ổn định và thống nhất trong lĩnh vực tài chính Nâng cao nhận thức giữa các cơ quan giám sát và quản lý của các tổ chức tài chính về vai trò quan trọng của BHTG trong việc duy trì ổn định tài chính Có những biện pháp, hành động cần thiết hoặc có ích cho mục tiêu và hoạt động của mình.

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được định nghĩa trong Khoản 1 Điều 4 Luật BHTG 2012 là cơ chế đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về tài chính hoặc phá sản Đây là một loại hình bảo hiểm ngân hàng đã được áp dụng từ sớm ở nhiều quốc gia, điển hình là Mỹ, nơi BHTG đã xuất hiện từ năm

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ra đời vào năm 1934 đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm số lượng ngân hàng phá sản, ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng Nhờ có BHTG, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm, từ đó tạo dựng niềm tin cho người dân gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (TCTD) Sự tin tưởng này đã dẫn đến việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, giúp các TCTD tăng cường hoạt động cho vay và cung cấp dịch vụ ngân hàng, góp phần vào sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ở Việt Nam là hình thức bảo hiểm bắt buộc, với quy định pháp luật rõ ràng về điều kiện và mức phí mà các bên tham gia phải thực hiện Chế độ BHTG không chỉ giúp xử lý rủi ro cho tổ chức nhận tiền gửi và bảo vệ quyền lợi của người gửi, mà còn đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và ổn định tiền tệ quốc gia Hơn nữa, BHTG tạo ra sự công bằng trong hoạt động ngân hàng, nâng cao uy tín của các TCTD và khuyến khích khai thác vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển kinh tế Nhiều quốc gia, như Mỹ, cũng yêu cầu các ngân hàng tham gia BHTG để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) tại Việt Nam là một hình thức bảo hiểm phi thương mại, không thuộc Luật kinh doanh bảo hiểm mà được điều chỉnh bởi một quy chế pháp lý riêng, cụ thể là Luật BHTG Đặc điểm phi thương mại của BHTG thể hiện qua việc bên bảo hiểm là tổ chức BHTG Việt Nam, một tổ chức tài chính nhà nước.

Tổ chức này hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền và duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng Cam kết này được thể hiện qua hợp đồng bảo hiểm, bao gồm ba đối tượng: Tổ chức BHTG, các tổ chức tham gia BHTG là các định chế trung gian tài chính có huy động tiền gửi, và người gửi tiền.

Luật BHTG của Canada định nghĩa BHTG là hình thức bảo hiểm cho những tổn thất một phần hoặc toàn bộ tiền gửi Một số nước và vùng lãnh thổ cũng có mô tả tương tự về thuật ngữ này trong quy định của họ.

BHTG (Bảo hiểm tiền gửi) tại Đài Loan được định nghĩa là hình thức bảo hiểm cho các loại tiền gửi trên lãnh thổ Đài Loan Tại Hàn Quốc, Luật BHTG năm 2005 quy định về vai trò của tổ chức thực hiện BHTG trong việc bảo vệ tiền gửi tại các ngân hàng tham gia mà không mô tả rõ khái niệm BHTG Ở Mỹ, các ngân hàng thuộc hệ thống dự trữ liên bang bắt buộc phải tham gia BHTG tại FDIC Theo IADI, BHTG là hệ thống bảo vệ người gửi tiền khỏi tổn thất trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi không thể thực hiện nghĩa vụ nợ với người gửi.

1.1.2 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Tổ chức BHTG nhận đóng góp tài chính từ các tổ chức tham gia và có trách nhiệm chi trả tiền gửi bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức đó ngừng hoạt động và không còn khả năng thanh toán.

Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi

Chương trình bảo hiểm tiền gửi đầu tiên được triển khai tại New York, Mỹ vào năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, nhằm bảo vệ tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động Sau nhiều thử nghiệm và trong bối cảnh nhiều ngân hàng gặp khó khăn, công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) chính thức được áp dụng trên toàn nước Mỹ từ ngày 1/1/1934 Thành công của BHTG tại Mỹ đã nhanh chóng lan rộng và được áp dụng ở nhiều quốc gia và châu lục khác trên toàn cầu.

9 những năm 1960, trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức BHTG, những năm

Năm 1970, có thêm bốn quốc gia tham gia vào hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG), và phần lớn các quốc gia bắt đầu triển khai BHTG công khai vào cuối những năm 1990 Hiện nay, hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ đã áp dụng công cụ BHTG Đặc biệt, vào ngày 6 tháng 5 năm 2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) được thành lập tại Thụy Sĩ nhằm chia sẻ kinh nghiệm BHTG và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu IADI là tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập theo Luật Thụy Sĩ và có tư cách pháp nhân riêng biệt.

Tầm nhìn của chúng tôi là chia sẻ kiến thức về Bảo hiểm Tiền gửi (BHTG) toàn cầu, đồng thời nâng cao hiệu quả của hệ thống BHTG thông qua việc tăng cường hướng dẫn và hợp tác quốc tế.

Mục tiêu của IADI là nâng cao sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Tổ chức này khuyến khích sự hợp tác sâu rộng giữa các tổ chức BHTG và các bên liên quan để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc bảo vệ người gửi tiền và duy trì niềm tin vào hệ thống tài chính.

- Nâng cao hiểu biết về những lợi ích chung và các vấn đề của BHTG;

Xây dựng hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả cho hệ thống Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cần thiết, với việc xem xét các hoàn cảnh, hình thức và cấu trúc đa dạng của các hệ thống này.

Hỗ trợ chia sẻ và trao đổi kiến thức về Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) thông qua các chương trình đào tạo và phát triển Cung cấp tư vấn cho việc thành lập hoặc nâng cấp hệ thống BHTG, giúp nâng cao hiệu quả và hiểu biết trong lĩnh vực này.

- Tiến hành nghiên cứu về các vấn đề của BHT;

- Có những biện pháp, hành động cần thiết hoặc có lợi cho mục tiêu và hoạt động của mình

Các hoạt động chính của IADI bao gồm:

Phát triển nguyên tắc, tiêu chuẩn và hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cần thiết, đặc biệt khi xem xét các điều kiện và hình thức cấu trúc đa dạng của các tổ chức.

- Khuyến khích các tổ chức BHTG xem xét và áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và hướng dẫn;

- Phát triển các phương pháp đánh giá tuân thủ Bộ nguyên tắc cơ bản, tiêu chuẩn, hướng dẫn và hỗ trợ quá trình đánh giá

- Nâng cao sự hiểu biết chung về các vấn đề của BHTG

Chúng tôi cung cấp hỗ trợ trong việc chia sẻ và trao đổi kiến thức về các vấn đề liên quan đến Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) thông qua các chương trình đào tạo và phát triển Đồng thời, chúng tôi tổ chức các chương trình giáo dục và cung cấp tư vấn cho việc thành lập hoặc nâng cấp hệ thống BHTG, giúp nâng cao nhận thức và hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này.

- Tiến hành nghiên cứu về các vấn đề của BHTG

Hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, là yếu tố quan trọng để tăng cường sự phát triển, ổn định và thống nhất trong thị trường tài chính.

Nâng cao nhận thức cho các cơ quan giám sát và quản lý của tổ chức tài chính về vai trò thiết yếu của bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là rất quan trọng để duy trì sự ổn định tài chính Việc hiểu rõ chức năng của BHTG giúp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

- Có những biện pháp, hành động cần thiết hoặc có ích cho mục tiêu và hoạt động của mình

Cơ cấu tổ chức IADI:

Thủ quỹ Phó chủ tịch Hội đồng điều hành

Chủ tịch,kiêm TGĐ Hội đồng điều hành Tổng thư ký

Các Uỷ ban thường trực

Các Uỷ ban khu vực

Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế

Hiện tại, IADI đã thu hút 94 tổ chức BHTG từ các quốc gia thành viên, cùng với 11 hiệp hội và 17 đối tác Sự gia tăng này thể hiện sự quan tâm chung của nhiều quốc gia đối với hoạt động BHTG, đồng thời hứa hẹn tạo ra động lực mới để phát triển lĩnh vực này trên toàn cầu.

Vai trò của BHTG

BHTG được thành lập để đảm bảo an toàn cho tiền gửi của người gửi tại các tổ chức tham gia, đồng thời góp phần duy trì sự ổn định và phát triển an toàn cho các tổ chức tín dụng Mục tiêu chính của BHTG là bảo vệ người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ, thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và phân tích tổ chức nhận tiền gửi BHTG hoạt động như một hình thức bảo hiểm phi thương mại, không nhằm mục tiêu sinh lời mà tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Nghiên cứu và hướng dẫn

Ca-ri-be Á-Âu Châu Âu Châu Mỹ La tinh

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng, khác với các loại bảo hiểm khác như bảo hiểm nhân thọ hay bảo hiểm tài sản Là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, BHTG gắn liền với yếu tố niềm tin và có tính nhạy cảm cao, giúp củng cố lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Tổ chức BHTG có nhiệm vụ đại diện cho Chính phủ để bảo vệ tiền gửi của người dân, và trong trường hợp tổ chức tín dụng gặp khó khăn, BHTG phải chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền.

Niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính-ngân hàng là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự ổn định của cả nền kinh tế Khi niềm tin này bị khủng hoảng, người dân sẽ lo ngại về sự an toàn của tiền gửi và khả năng thanh khoản của ngân hàng, dẫn đến việc rút tiền ồ ạt Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ từ năm 2017 là một ví dụ điển hình cho thấy sự suy giảm niềm tin của người dân đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế Khi công chúng không còn tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, họ thường chuyển sang đầu tư vào vàng hoặc bất động sản, gây cản trở sự phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển lành mạnh của hoạt động ngân hàng BHTG tạo ra sự công bằng và "sân chơi bình đẳng" cho tất cả các tổ chức tín dụng, đặc biệt là những tổ chức có quy mô nhỏ Hơn nữa, yếu tố tâm lý cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng; nếu không có BHTG, người gửi tiền sẽ cảm thấy không an tâm hơn.

Gửi tiền vào các ngân hàng lớn mang lại cảm giác yên tâm hơn cho khách hàng Tuy nhiên, với sự hoạt động của hệ thống BHTG, người gửi có thể lựa chọn các tổ chức tín dụng nhỏ mà vẫn đảm bảo an toàn cho tiền gửi Điều này khuyến khích sự phát triển tín dụng bình đẳng, giúp mở rộng cơ hội cho khách hàng tiếp cận các tổ chức tín dụng quy mô nhỏ và các loại hình khác nhau.

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng thông qua các nghiệp vụ kiểm tra và giám sát rủi ro đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) Nhờ vào những nghiệp vụ này, BHTG có khả năng cảnh báo kịp thời cho các cơ quan chức năng và TCTD về những vấn đề trong hoạt động của các tổ chức này, từ đó giúp họ thực hiện các biện pháp điều chỉnh cần thiết để duy trì an toàn Hơn nữa, trong trường hợp TCTD gặp khó khăn, BHTG sẽ cung cấp hỗ trợ để phục hồi hoạt động của tổ chức, cũng như xử lý các TCTD bị đổ vỡ.

BHTG đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế và ổn định xã hội, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Bằng cách bảo vệ người gửi tiền và xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, BHTG giúp thu hút nguồn vốn từ dân cư Để khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng thay vì cất giữ dưới dạng vàng, bất động sản hoặc tại nhà, họ cần cảm thấy an tâm với sự bảo vệ của BHTG Khi người dân nhận thức được rằng BHTG đại diện cho Chính phủ bảo vệ tiền gửi của họ, họ sẽ có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ

Sự ra đời và phải triển của Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC)

Từ năm 1921 đến 1929, trung bình hơn 600 ngân hàng mỗi năm đã phá sản, gấp 10 lần so với thập kỷ trước Nguyên nhân chủ yếu là do sự mất thanh khoản nghiêm trọng khi người dân rút tiền gửi ồ ạt sau cú sập thị trường chứng khoán năm 1929, khi nhiều ngân hàng đã cho các nhà đầu tư vay những khoản vay rủi ro.

Trong bối cảnh thanh khoản giảm sút, nhiều ngân hàng đã bắt đầu siết chặt tín dụng và tiến hành thanh lý tài sản, dẫn đến lượng tiền lưu hành trong cộng đồng giảm Điều này làm gia tăng nhu cầu tiền mặt, khiến người dân tiếp tục rút tiền gửi khỏi ngân hàng Sự thanh lý tài sản cũng gây ra tình trạng giảm giá, làm trầm trọng thêm vấn đề thanh khoản Năm 1931, tình hình này trở nên nghiêm trọng hơn.

Trong giai đoạn từ 1921 đến 1929, số lượng ngân hàng phá sản lên tới 2300, gấp gần 4 lần mức trung bình hàng năm Vào mùa đông năm 1932-1933, ngành ngân hàng rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Sự đắc cử của Tổng thống Franklin D Roosevelt vào tháng 11/1932 đã khiến nhiều người lo ngại về việc chính quyền sẽ phá giá đồng đô la, dẫn đến tình trạng đầu cơ ngoại tệ, vàng và chứng chỉ vàng Đỉnh điểm của sự hoảng loạn ngân hàng xảy ra trong ba ngày đầu tháng 3/1933 khi người dân đổ xô rút tiền gửi Để đối phó, Tổng thống Roosevelt đã ban hành sắc lệnh “kỳ nghỉ ngân hàng” từ ngày 6/3/1933, kéo dài 4 ngày nhằm ngăn chặn tình trạng rút tiền ồ ạt và trấn an người dân Khi các ngân hàng mở cửa trở lại, niềm tin của công chúng đã được khôi phục đáng kể và tình trạng rút tiền đã chấm dứt.

2.1.2 Sự thành lập của FDIC ( 1934)

Khi trật tự tài chính được phục hồi, Quốc hội đã đề xuất ban hành Luật BHTG, thiết lập một hệ thống BHTG cần thiết để ổn định tình hình tài chính Mặc dù gặp nhiều phản đối trong chính quyền Roosevelt vào tháng 1/1934, Tổ chức BHTG liên bang Mỹ (FDIC) đã ra đời, với mô hình giảm thiểu rủi ro FDIC thực hiện các chức năng như kiểm tra, giám sát và quản lý thanh khoản của ngân hàng và quỹ tiết kiệm, đồng thời chi trả cho người gửi tiền khi ngân hàng phá sản, củng cố niềm tin công chúng Ngoài ra, FDIC còn quản lý rủi ro thông qua việc truy cập thông tin, kiểm tra tại chỗ và giám sát các tổ chức tham gia BHTG, phối hợp và chia sẻ thông tin trong toàn hệ thống FDIC cũng thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời đối với các tổ chức gặp sự cố, áp dụng hình phạt tài chính và cưỡng chế các vi phạm Từ tháng 7/1935, sau giai đoạn thử nghiệm ngắn, FDIC đã hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu của mình qua nhiều cuộc khủng hoảng.

2.1.3 Một số cuộc khủng hoảng tài chính và sự thay đổi các chính sách liên quan BHTG

Khủng hoảng ngân hàng vào những năm 1980 và đầu 1990 ở Mỹ đặc trưng bởi sự gia tăng đáng kể các vụ vỡ nợ ngân hàng Từ năm 1980 đến 1994, hơn 1.600 ngân hàng được FDIC bảo hiểm đã phải đóng cửa hoặc nhận hỗ trợ tài chính, đánh dấu giai đoạn khó khăn nhất kể từ khi hệ thống bảo hiểm tiền gửi ra đời vào những năm 1930 Tình trạng này đã gây áp lực lớn lên quỹ bảo hiểm FDIC, đặt ra nhiều câu hỏi về hiệu quả của hệ thống quản lý ngân hàng và bảo hiểm tiền gửi, dẫn đến các cải cách lập pháp và quản lý sâu rộng.

Trong những năm 1970, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền chính trên thế giới đã trở nên biến động do việc cho phép thả nổi, dẫn đến giá cả tăng mạnh để đối phó với lệnh cấm vận dầu mỏ và lãi suất biến động mạnh Chính sách tiền tệ chống lạm phát của FED và kỳ vọng lạm phát đã ảnh hưởng đến lãi suất thị trường Việc chính phủ dỡ bỏ các hạn chế trong ngành ngân hàng, như nới lỏng quy định lãi suất tiền gửi và phát triển quỹ thị trường tiền tệ, đã tạo áp lực tăng chi phí lãi vay Cạnh tranh trong ngành ngân hàng gia tăng, khiến nhiều ngân hàng chuyển nguồn vốn sang cho vay bất động sản thương mại, lĩnh vực có rủi ro cao hơn.

Luật ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng trong khủng hoảng ngân hàng vào những năm 1980 và đầu những năm 1990 Đầu những năm 1980, Quốc hội tập trung vào việc hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, ban hành nhiều điều luật nới lỏng quy định cho sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, dẫn đến hàng loạt vụ phá sản Các điều luật như Đạo luật nới lỏng quy định và kiểm soát tiền tệ năm 1980 đã loại bỏ dần mức trần lãi suất tiền gửi, mở rộng quyền hạn cho các định chế tiết kiệm và nâng mức bảo hiểm tiền gửi từ 40.000 đô la lên 100.000 đô la Tuy nhiên, sự gia tăng lãi suất đã gây ra khủng hoảng cho các định chế tiết kiệm.

Năm 1982, đạo luật Garn-St.Germain được ban hành nhằm mở rộng quyền hạn cho các định chế tiết kiệm trong việc đầu tư vào các khoản vay thương mại, từ đó tăng cường khả năng tồn tại lâu dài của chúng Đạo luật này cũng nới lỏng các hạn chế cho vay bất động sản Tuy nhiên, thị trường bất động sản ở nhiều khu vực đã sụp đổ do chi phí lãi vay tăng, làm trầm trọng thêm khủng hoảng của các định chế tiết kiệm và ngân hàng.

Khi số lượng ngân hàng phá sản gia tăng, các nhà hoạch định chính sách đã chuyển hướng sang việc tái cấp vốn cho quỹ BHTG và cung cấp cho các cơ quan quản lý công cụ mạnh mẽ hơn để hạn chế các hành động liều lĩnh của ngân hàng Nhiều đạo luật đã được ban hành nhằm khắc phục hậu quả, bao gồm việc chuyển bảo hiểm gửi tiết kiệm sang FDIC và yêu cầu tăng dự trữ quỹ bảo hiểm của ngân hàng và các định chế tiết kiệm lên 1,25% tổng số tiền gửi được bảo hiểm.

Năm 1991, Đạo luật Cải tiến của FDIC được ban hành nhằm tăng cường giám sát và hạn chế hành động tùy tiện của cơ quan quản lý, đồng thời giảm tỷ lệ vốn bắt buộc của ngân hàng và định chế tiết kiệm Đạo luật này cũng quy định kiểm toán hàng năm và thiết lập hệ thống đánh giá BHTG dựa trên rủi ro.

Vào đầu những năm 2000, chính phủ đã áp dụng các chính sách kích thích kinh tế và thực hiện một số điều chỉnh để nới lỏng các điều khoản trong đạo luật Tuy nhiên, sự kiện suy thoái toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế, buộc nhiều quốc gia phải xem xét lại các chính sách này.

Năm 2008, Hoa Kỳ đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng nhất kể từ Đại suy thoái 1929, dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngân hàng với sự gia tăng nhanh chóng số lượng tổ chức tiền gửi gặp khó khăn và phá sản từ năm 2008 đến năm 2013.

Hai cuộc khủng hoảng đã đặt FDIC vào tình thế đối mặt với nhiều thách thức, buộc tổ chức này phải ngăn chặn rủi ro hệ thống và khôi phục sự ổn định tài chính Để ứng phó, FDIC đã thực hiện các hành động chưa từng có bằng cách sử dụng các cơ quan chức năng khẩn cấp Trong bối cảnh khủng hoảng ngân hàng, FDIC đã phải giải quyết các thách thức liên quan đến giám sát ngân hàng, quản lý quỹ BHTG và xử lý các ngân hàng phá sản, tương tự như những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng ngân hàng và định chế tiết kiệm vào những năm 1980 và đầu những năm 1990.

Cuộc khủng hoảng tài chính một phần xuất phát từ sự bùng nổ và sụp đổ của thị trường nhà ở vào giữa những năm 2000, đồng thời cũng liên quan đến những vấn đề trong hệ thống tài chính của Hoa Kỳ.

Kỳ và hệ thống tài chính toàn cầu có mối liên hệ chặt chẽ Cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại nghiêm trọng đến mức chính phủ Mỹ lần đầu tiên phải áp dụng lại điều khoản trong Đạo luật Cải tiến FDIC năm 1991.

Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động

2.2.1 Cơ cấu tổ chức của FDIC

FDIC là cơ quan độc lập do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ duy trì sự ổn định và niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính quốc gia Cơ quan này, cùng với Cục Quản Trị Nghiệp Đoàn Tín Dụng Quốc Gia, cung cấp bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tiền gửi ở Mỹ.

FDIC, được thành lập bởi Quốc hội, không nhận được ngân sách từ chính phủ mà được tài trợ thông qua phí bảo hiểm từ các ngân hàng và định chế tiết kiệm Tổ chức này đảm bảo hàng nghìn tỷ đô la tiền gửi trong các ngân hàng và định chế tiết kiệm tại Hoa Kỳ, góp phần bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Cơ cấu tổ chức của FDIC bao gồm Hội đồng Quản trị với năm thành viên được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm, cùng với bảy phòng ban: Phòng Tài chính, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Hành chính, Phòng Kiểm soát và Bảo vệ người tiêu dùng, Phòng Xử lý nợ, Phòng Pháp chế, và Phòng Nghiên cứu và Bảo hiểm.

Bộ phận Tài chính của FDIC đảm nhận việc quản lý tài chính cho tất cả các khoản thu và chi phí, đồng thời quản lý tài sản của FDIC, bao gồm cả việc kiểm toán phí Bảo hiểm Tiền gửi (BHTG).

Bộ phận pháp lý của FDIC là một đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý toàn diện, bao gồm cả kiện tụng và tư vấn về giao dịch, quy định và hành chính Bộ phận này hỗ trợ phát triển chính sách và quy trình hợp đồng, đồng thời giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến việc tuân thủ luật định Ngoài ra, họ còn tư vấn về các vấn đề hợp đồng phức tạp, như khiếu nại và tranh chấp, cũng như các vấn đề khác do nhân viên hợp đồng nêu ra.

Phòng hành chính của FDIC đảm nhiệm tất cả các dịch vụ hành chính thiết yếu, bao gồm quản lý nguồn nhân lực, đào tạo và tư vấn, ký hợp đồng, cho thuê, cũng như quản lý cơ sở vật chất và dịch vụ an ninh, nhằm hỗ trợ hạ tầng vật chất và hành chính của tổ chức.

Phòng Công nghệ Thông tin của FDIC đảm nhiệm việc cung cấp và quản lý công nghệ thông tin, bao gồm lập kế hoạch chiến lược cho việc mua sắm phần cứng, phần mềm, kiến trúc doanh nghiệp, cũng như phát triển và triển khai hệ thống Bộ phận này còn thực hiện các hoạt động công nghệ thông tin hàng ngày, đóng vai trò là nhà lãnh đạo công nghệ, cung cấp các giải pháp sáng tạo và hiệu quả về chi phí nhằm hỗ trợ quy trình kinh doanh cốt lõi và đạt được các mục tiêu quan trọng của FDIC.

Phòng Nghiên cứu và Bảo hiểm của FDIC chịu trách nhiệm xác định và phân tích rủi ro, đồng thời xây dựng chính sách liên quan đến quỹ Bảo hiểm Tiền gửi (BHTG) Công việc này dựa trên việc phân tích và dự báo các xu hướng trong lĩnh vực kinh tế, tài chính và ngân hàng.

Bộ phận Giám sát và Bảo vệ Người tiêu dùng của FDIC thực hiện kiểm tra rủi ro và tuân thủ tại các tổ chức tài chính trên toàn nước Mỹ và các vùng lãnh thổ Bộ phận này thúc đẩy việc tuân thủ các luật cho vay công bằng và bảo vệ người tiêu dùng, đồng thời nâng cao hiểu biết và niềm tin của công chúng vào hệ thống BHTG Nhân viên của bộ phận thực hiện kiểm tra cả ngoài cơ sở lẫn tại chỗ, đồng thời khuyến khích bảo tồn các tổ chức lưu ký thiểu số.

Phòng xử lý nợ của FDIC chịu trách nhiệm giải quyết các tổ chức tài chính gặp khó khăn và cung cấp dịch vụ quản lý hiệu quả nhằm duy trì niềm tin trong hệ thống tài chính Họ thực hiện các sáng kiến bán tài sản để giảm thiểu tổn thất, bao gồm việc bán toàn bộ hoặc một phần các tổ chức tài chính thất bại cho các tổ chức khác Ngoài ra, phòng cũng tiến hành bán các tài sản cá nhân hoặc nhóm từ các tổ chức này, như danh mục cho vay, bất động sản, đồ nội thất, và thiết bị, cho các nhà đầu tư hoặc người mua khác.

2.2.2 Mô hình hoạt động của FDIC

Phân theo chức năng nhiệm vụ,trên thế giới có 3 mô hình BHTG phổ biến là:

(1): Mô hình chi trả: Chức năng của tổ chức BHTG là thực hiện chi trả cho người gửi tiền sau khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản

Mô hình chi trả có quyền hạn mở rộng không chỉ thực hiện chi trả cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, mà còn đảm nhiệm chức năng giám sát hệ thống ngân hàng.

Mô hình giảm thiểu rủi ro của tổ chức BHTG có chức năng và quyền hạn rộng lớn, không chỉ chi trả cho người gửi tiền mà còn tham gia quản lý giám sát, cảnh báo hoạt động của các TCTD Tổ chức này còn đóng vai trò quan trọng trong việc tái thiết hệ thống tài chính - ngân hàng, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.

Mỹ là quốc gia tiên phong trong việc thiết kế và áp dụng mô hình giảm thiểu rủi ro hiệu quả, trong đó chức năng giám sát và xử lý được coi là những yếu tố then chốt của tổ chức BHTG Mô hình này không chỉ mang lại nhiều ưu điểm mà còn thể hiện rõ vai trò bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia Nhiều quốc gia khác cũng đang xây dựng mô hình BHTG của riêng mình dựa trên thành công của Mỹ.

Phân theo chủ thể quản lý, hệ thống BHTG được phân chia thành 4 loại:

- Cơ quan thuộc Chính phủ

- Doanh nghiệp nhà nước độc lập

- 1 tổ chức do các ngân hàng thương mại góp vốn thành lập và quản lý

- 1 đơn vị thuộc ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát

Trên toàn cầu, nhiều tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình độc lập thuộc chính phủ hoặc doanh nghiệp đặc biệt do nhà nước sở hữu và quản lý theo luật pháp FDIC cũng áp dụng mô hình này, mặc dù yêu cầu đầu tư cao hơn so với các mô hình khác Tuy nhiên, mô hình này cho phép các tổ chức BHTG thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người gửi tiền.

Những vấn đề liên quan

2.3.1 Các chủ thể tham gia và đối tượng

2.3.1.1 Các chủ thể tham gia gồm:

 Bắt buộc: Tất cả các ngân hàng quốc gia, ngân hàng được cấp phép của các bang, các tổ chức tiết kiệm ở Mỹ

 Tự nguyện: Các ngân hàng Mỹ đăng ký hoạt động ở nước ngoài

FDIC chỉ bảo hiểm với các tổ chức, ngân hàng có đủ vốn hoạt động a Khung pháp lý cho hoạt động tiền gửi tại Mỹ

 Đạo luật Ngân hàng (1933 Banking Act)

 Sắc Luật số 13579 mang tên “ Cơ sở pháp lý và các Cơ quan quản lý độc lập”

 Luật cải cách phố Wall và bảo vệ người tiêu dùng tài chính mang tên Dodd-Frank

BHTG đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính Hoa Kỳ thông qua FDIC FDIC bảo vệ người gửi tiền tại các ngân hàng tham gia bảo hiểm, đảm bảo rằng họ không bị mất tiền gửi nếu ngân hàng gặp khó khăn Tất cả cá nhân và tổ chức đều có thể được FDIC bảo hiểm, không yêu cầu phải là công dân hay cư dân Hoa Kỳ Bảo hiểm FDIC được hỗ trợ bởi uy tín và tín dụng của Chính phủ Hoa Kỳ, với mức bảo hiểm tiêu chuẩn là 250.000 USD cho mỗi người gửi tiền tại mỗi ngân hàng bảo hiểm, cho mỗi loại tài khoản Kể từ khi bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 1 năm, FDIC đã đóng góp vào sự an toàn tài chính của người dân.

Kể từ năm 1934, không có người gửi tiền nào bị mất tiền bảo hiểm do thất bại, nhờ vào sự đảm bảo của FDIC Tuy nhiên, FDIC chỉ bảo vệ tiền gửi, không bao gồm bảo hiểm cho chứng khoán, quỹ tương hỗ hoặc các loại đầu tư khác mà ngân hàng và tổ chức tiết kiệm có thể cung cấp.

FDIC chịu trách nhiệm giám sát và kiểm tra hơn 5.000 ngân hàng và hiệp hội tiết kiệm nhằm đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh Các ngân hàng có thể được cấp phép bởi tiểu bang hoặc bởi văn phòng kiểm soát tiền tệ, và các ngân hàng do tiểu bang thành lập có quyền lựa chọn tham gia vào FED FDIC là cơ quan quản lý liên bang chủ yếu cho các ngân hàng không tham gia FED và cũng đóng vai trò giám sát dự phòng cho các ngân hàng được bảo hiểm còn lại cùng các hiệp hội tiết kiệm.

FDIC kiểm tra các ngân hàng để đảm bảo tuân thủ các luật bảo vệ người tiêu dùng như Đạo luật thanh toán tín dụng công bằng, Đạo luật báo cáo tín dụng công bằng, Đạo luật cho vay trung thực và Đạo luật thực hành thu hồi nợ công bằng Đồng thời, FDIC cũng giám sát việc tuân thủ Đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng, yêu cầu ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng của cộng đồng mà họ phục vụ Để bảo vệ người gửi tiền, FDIC phản hồi ngay lập tức khi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm gặp khó khăn Các tổ chức thường bị đóng cửa bởi cơ quan quản lý nhà nước hoặc văn phòng kiểm soát tiền tệ FDIC có nhiều lựa chọn để xử lý các trường hợp đổ vỡ, trong đó phổ biến nhất là bán các khoản tiền gửi và khoản vay của tổ chức gặp khó khăn cho một tổ chức khác, giúp khách hàng tự động trở thành khách hàng của tổ chức mới.

22 định Hầu hết thời gian, quá trình chuyển đổi diễn ra liền mạch theo quan điểm của khách hàng c Quỹ bảo hiểm tiền gửi (DIF)

FDIC duy trì sự ổn định và niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính Hoa Kỳ thông qua việc cung cấp bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Mục đích chính của Quỹ BHTG là bảo vệ tiền gửi của người dân, đảm bảo rằng họ sẽ không mất tiền nếu ngân hàng gặp khó khăn tài chính.

(1) BHTG và bảo vệ người gửi tiền của các ngân hàng được bảo hiểm

DIF, mặc dù được chính phủ Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ, vẫn có hai nguồn vốn chính: phí bảo hiểm từ các tổ chức được FDIC bảo hiểm và lãi suất từ các khoản đầu tư vào nghĩa vụ của chính phủ Doanh thu từ phí bảo hiểm và lãi suất này giúp tăng cường số dư của DIF, trong khi các khoản lỗ chủ yếu do ngân hàng phá sản và chi phí hoạt động lại làm giảm số dư này.

FDIC quản lý Quỹ Bảo hiểm Tiền gửi (DIF) nhằm duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính và xử lý các ngân hàng gặp khó khăn Ngoài các khoản phí bảo hiểm, DIF cũng thu nhập từ lãi suất của các chứng khoán Tuy nhiên, DIF có thể bị giảm do các khoản dự phòng tổn thất từ các ngân hàng đổ vỡ và chi phí hoạt động của FDIC.

DIF cần duy trì tính khả thi để bảo vệ các khoản tiền gửi được bảo hiểm khi tổ chức tài chính gặp khó khăn FDIC liên tục đánh giá khả năng tài chính của DIF bằng cách phân tích các rủi ro từ sự phát triển kinh tế và tài chính ở các cấp độ khu vực, quốc gia và toàn cầu, đồng thời thu thập và đánh giá thông tin qua quá trình giám sát.

Bảo hiểm FDIC bao trả tất cả các loại tiền gửi tại ngân hàng được bảo hiểm, kể cả tài khoản ký thác trong:

 Tài khoản lệnh rút tiền để chi trả

 Tài khoản ký thác trên thị trường tiền tệ

 Tài khoản ký thác có thời hạn như chứng chỉ ký thác

Bảo hiểm ký thác FDIC đảm bảo bồi hoàn số tiền còn lại trong tài khoản của mỗi người ký thác bằng đô la Mỹ, bao gồm cả tiền vốn và lãi suất tích lũy cho đến ngày ngân hàng được bảo hiểm đóng cửa, với mức bảo hiểm tối đa Tuy nhiên, FDIC không bảo hiểm cho các khoản đầu tư vào cổ phiếu, chứng khoán, quỹ tương hỗ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, niên kim hoặc trái phiếu đô thị, ngay cả khi chúng được mua từ ngân hàng được bảo hiểm Ngoài ra, FDIC cũng không bảo hiểm cho hộp ký quỹ hoặc các vật chứa bên trong đó.

Khách hàng không cần thực hiện bất kỳ hành động nào để hưởng lợi từ phạm vi bảo hiểm này Nếu bạn có tiền gửi tại một ngân hàng là thành viên của FDIC, bạn sẽ tự động được bảo hiểm Các ngân hàng và tổ chức tài chính sẽ trả phí bảo hiểm cho FDIC, trong khi khách hàng hoàn toàn miễn phí.

2.3.2.2 Với các tổ chức tài chính

FDIC áp dụng hệ thống định phí dựa trên rủi ro để xác định tỷ lệ phí cho các ngân hàng nhỏ, lớn và phức tạp, với DIF chủ yếu được tài trợ qua phí bảo hiểm hàng quý Phí bảo hiểm của mỗi ngân hàng được tính bằng cách nhân tỷ lệ phí với cơ sở phí bảo hiểm, mà cả hai đều được xác định và thanh toán hàng quý Cơ sở phí bảo hiểm không chỉ bao gồm tiền gửi được bảo hiểm; từ năm 1935 đến 2010, nó gần như tương đương với tổng tiền gửi trong nước Tuy nhiên, theo Đạo luật Dodd-Frank năm 2010, FDIC đã điều chỉnh các quy định liên quan đến cơ sở phí bảo hiểm.

Năm 2011, để xác định cơ sở phí bảo hiểm của ngân hàng, cần tính tổng tài sản hợp nhất trung bình trừ đi vốn chủ sở hữu hữu hình trung bình Điều này có nghĩa là ngân hàng sẽ trả phí bảo hiểm dựa trên tổng nợ phải trả của mình, không chỉ giới hạn ở các khoản tiền gửi được bảo hiểm.

Các ngân hàng nhỏ, thường có tài sản dưới 10 tỷ đô la, được áp dụng một tỷ lệ riêng biệt dựa trên công thức sử dụng dữ liệu tài chính và xếp hạng CAMELS, bao gồm các yếu tố như mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản và độ nhạy.

Các ngân hàng lớn, với tài sản từ 10 tỷ đô la trở lên, được áp dụng một tỷ lệ phí riêng biệt dựa trên thẻ điểm Có hai phiên bản thẻ điểm: một cho các tổ chức lớn và một cho các tổ chức phức tạp, có những thách thức và rủi ro riêng Thẻ điểm này kết hợp các yếu tố như xếp hạng CAMELS, các biện pháp tài chính đánh giá khả năng chịu đựng căng thẳng của ngân hàng, và mức độ nghiêm trọng của tổn thất để ước tính các khoản lỗ có thể xảy ra cho FDIC trong trường hợp ngân hàng thất bại.

Tất cả các mức phí dưới đây được tính hàng năm theo điểm cơ bản là xu trên $100,00 của cơ sở phí Để chuyển đổi tỷ lệ hàng năm thành hệ số nhân hàng quý trên hóa đơn, ta chia tỷ lệ hàng năm cho 10.000, sau đó chia cho 4 và làm tròn đến 7 chữ số thập phân Ví dụ, tỷ lệ hàng năm 24,67 điểm cơ bản tương ứng với hệ số nhân hàng quý là 0,0006168.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM

Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ( DIV)

3.1.1 Sự ra đời và phát triển của DIV

Bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới, và hệ thống ngân hàng cũng đã triển khai kế hoạch cải cách từ năm 1988 Qua quá trình này, hoạt động ngân hàng đã phát triển đáng kể với sự gia tăng số lượng tổ chức tín dụng (TCTD) Ngành ngân hàng dần chuyển mình theo hướng thị trường, với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong việc huy động tiền gửi và cho vay Tuy nhiên, sự phức tạp của các yếu tố rủi ro trong hoạt động ngân hàng yêu cầu cần có các giải pháp phòng ngừa kịp thời.

Giữa năm 1988 và 1990, nhiều quỹ tín dụng đô thị trên toàn quốc đã sụp đổ, dẫn đến việc lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng bị tổn hại nghiêm trọng.

Khi triển khai mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) theo quyết định 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993, quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hành, và sau đó là quyết định số 10/TCQĐ-BH ngày 1/2/1994 của Bộ Tài chính Bảo Việt đã khởi động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG), đánh dấu bước đầu tiên của chính sách BHTG tại Việt Nam Mặc dù cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997 không tác động lớn đến Việt Nam, nhưng đã cảnh báo hệ thống ngân hàng về tầm quan trọng của BHTG Thêm vào đó, với xu hướng toàn cầu hóa và sự hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam, việc thành lập tổ chức BHTG trở nên hết sức cần thiết.

Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Deposit Insurance of Vietnam - DIV) được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 09/11/1999 và chính thức hoạt động từ ngày 07/7/2000 Đây là tổ chức duy nhất tại Việt Nam thực hiện hoạt động bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

28 của người gửi tiền, hỗ trợ các TCTD gặp khó khăn, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Hiện nay BHTG Việt Nam có mạng lưới hoạt động gồm: Trụ sở chính tại Thủ đô

Hà Nội và 8 chi nhánh tại các khu vực kinh tế trong điểm gồm

 Chi nhánh tại thành phố Hà Nội

 Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh

 Chi nhánh tại thành phố Đà Nẵng

 Chi nhánh khu vực Đông Bắc Bộ tại TP.Hải Phòng

 Chi nhánh khu vực Tây Bắc Bộ tại TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

 Chi nhánh khu vực Bắc Trung bộ tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An

 Chi nhánh khu vực Đồng bằng sông Cửu long tại TP Cần Thơ

 Chi nhánh khu vực Nam Trung bộ & Tây nguyên tại TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG) tại Việt Nam là Luật BHTG, được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2013, cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ quy định về bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 Những nghị định này tạo ra khung pháp lý quan trọng cho hoạt động BHTG, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

- Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập BHTG Việt Nam;

- Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật BHTG;

- Quyết định số 1394/QĐ-TTg ngày 13/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập BHTG Việt Nam và quy định chức năng, nhiệm vụ của BHTG Việt Nam;

- Quyết định 1395/QĐ-TTg ngày 13/8/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam;

Quyết định số 527/QĐ-TTg ngày 01/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã sửa đổi và bổ sung một số điều trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, theo Quyết định số 1395/QĐ-TTg ngày 13/8/2013.

- Quyết định số 3090/QĐ-NHNN ngày 31/12/2013 của Thống đốc NHNN về cơ cấu tổ chức của BHTG Việt Nam

- Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg ngày 20/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về hạn mức trả tiền bảo hiểm

Ngoài ra, các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng với các quy chế và quy định liên quan do BHTG Việt Nam ban hành cũng rất quan trọng.

Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động

Hội đồng quản trị Kiểm soát viên

Trụ sở chính Các chi nhánh BHTG

Việt Nam Phòng giám sát

Phòng tham gia kiểm soát đặc biệt&thu hồi tài sản

Phòng tổ chức cán bộ

Phòng quản lý thu phí & chi trả BHTG

Phòng nghiên cứu tổng hợp

Tp Hà Nội Đông Bắc Bộ

Ban kiểm soát nội bộ

Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

BHTG Việt Nam hiện có cơ cấu tổ chức tương tự như doanh nghiệp nhà nước 100% vốn, bao gồm Hội đồng Quản trị, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc cùng với bộ máy hỗ trợ gồm Phó Tổng giám đốc, trụ sở chính, 8 chi nhánh khu vực và các văn phòng đại diện.

HĐQT BHTG Việt Nam hiện có 05 thành viên, bao gồm một Chủ tịch do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và 04 thành viên còn lại do Thống đốc NHNN bổ nhiệm Nhiệm kỳ của các thành viên HĐQT là 5 năm, với quyền hạn và nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam HĐQT có trách nhiệm nhận vốn và các nguồn lực từ nhà nước, trình Thủ tướng phê duyệt chiến lược phát triển dài hạn về BHTG, đồng thời phê duyệt kế hoạch và hoạt động của ngành, ban hành các văn bản quy phạm liên quan đến tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam.

Phòng nguồn vốn & đầu tư

Phòng thông tin tuyên truyền

Phòng kiểm soát nội bộ

Phòng công nghệ tin học

Tp Hồ Chí Minh Đồng bằng D sông Cửu Long

BHTG Việt Nam là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên với 100% vốn do Nhà nước sở hữu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu đối với BHTG Việt Nam theo quy định của Luật BHTG và Nghị định số 68/2013/NĐ-CP, hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật BHTG cùng các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu Nhà nước.

Việt Nam đang áp dụng mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước, như quy định trong Luật BHTG 2012 Đồng thời, theo Điều 8 của Luật BHTG 2012, cơ quan BHTG trực thuộc chính phủ, với NHNN chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về BHTG, thể hiện sự thống nhất trong quản lý nhà nước về lĩnh vực này.

Những vấn đề liên quan

3.3.1 Các chủ thể tham gia và đối tượng a Người được bảo hiểm BHTG

Người được BHTG là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG ( khoản 2 Điều 4 Luật BHTG)

Quyền và nghĩa vụ của người được BHTG: quy định tại Điều 11 Luật BHTG 2012

- Được bảo hiểm số tiền gửi của mình tại tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Luật BHTG

- Được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn theo quy định của Luật BHTG

- Yêu cầu tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, chế độ về BHTG

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHTG theo quy định của pháp luật

Tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực về tiền gửi khi được yêu cầu bởi tổ chức BHTG trong quá trình thực hiện thủ tục trả tiền bảo hiểm.

Các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) bao gồm các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép nhận tiền gửi từ cá nhân Điều này bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động theo quy định của Luật các TCTD Ngoài ra, tổ chức tài chính vi mô cũng được quy định trong khoản 3 Điều 4 của Luật BHTG.

2012 và khoản 1, 2 Điều 4 Nghị định 68/2013/NĐ-CP)

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG: quy định tại Điều 12 Luật BHTG

- Nộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia BHTG

- Được cấp Chứng nhận tham gia BHTG

- Nộp phí BHTG đầy đủ và đúng thời hạn

- Yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG tại tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHTG theo quy định của pháp luật

- Cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm cho tổ chức BHTG theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của tổ chức BHTG c Tổ chức BHTG

Tổ chức BHTG là một cơ quan tài chính nhà nước được Thủ tướng Chính phủ thành lập, có chức năng và nhiệm vụ được quy định theo đề nghị của Thống đốc NHNN Việt Nam Đây là một pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm đảm bảo an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật BHTG 2012 và khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 68/2013/NĐ-CP.

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG: quy định tại Điều 13 Luật BHTG 2012

- Xây dựng chiến lược phát triển BHTG để NHNN Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện

Đề xuất gửi đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG).

- Chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Cấp và thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG

- Yêu cầu tổ chức tham gia BHTG cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm

- Tính và thu phí BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Luật này

- Quản lý, sử dụng và bảo toàn nguồn vốn BHTG

- Chi trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG theo quy định của Luật này

Theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là rất quan trọng Đồng thời, cần kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về BHTG để đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong hệ thống tài chính.

Tổng hợp và phân tích thông tin về các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cần thiết để phát hiện và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý kịp thời các vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng.

- Bảo đảm bí mật số liệu tiền gửi và tài liệu liên quan đến BHTG của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của pháp luật

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức BHTG có thể tiếp nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc hoàn trả hoặc vay từ các TCTD và tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ khi nguồn vốn tạm thời không đủ để chi trả tiền bảo hiểm Đồng thời, tổ chức cũng có thể nhận các nguồn tài trợ từ các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm tăng cường năng lực hoạt động.

Tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đồng thời tham gia quản lý và thanh lý tài sản của các tổ chức này theo quy định của Chính phủ.

Tổ chức tuyên truyền về chính sách và pháp luật liên quan đến bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là rất quan trọng Đồng thời, cần thiết phải tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ về BHTG để nâng cao năng lực cho nhân viên Ngoài ra, việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ cũng như phát triển các phương thức quản lý phù hợp sẽ giúp tổ chức BHTG đáp ứng tốt hơn với yêu cầu phát triển hiện tại.

Phí BHTG là khoản tiền mà các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG) phải nộp để đảm bảo bảo hiểm cho tiền gửi của khách hàng Khoản phí này được ghi nhận vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia BHTG.

Tại Việt Nam, phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được quy định là 0,15% mỗi năm, tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại các tổ chức tham gia BHTG Mức phí này đã được áp dụng kể từ khi BHTG Việt Nam được thành lập cho đến nay.

Phí BHTG được tính toán và nộp cho BHTG Việt Nam theo định kỳ hàng quý, cụ thể là 4 lần trong một năm Mức phí này dựa trên số dư tiền gửi được bảo hiểm bình quân của quý trước, gần sát với quý thu phí bảo hiểm.

Tiền gửi được bảo hiểm bao gồm:

Tiền gửi bằng đồng Việt Nam trên tài khoản của khách hàng được quy định bởi NHNN, bao gồm các loại: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi vốn chuyên dùng.

Tiền gửi Tiết kiệm bằng đồng Việt Nam theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bao gồm các loại: tiền gửi Tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi Tiết kiệm có kỳ hạn, và tiền gửi Tiết kiệm khác.

Tiền mua các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, và kỳ phiếu bằng đồng Việt Nam được phát hành bởi các tổ chức tham gia BHTG, theo sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ngày đăng: 18/10/2023, 18:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thuỳ Dương (2008), “ Bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro mô hình cho mạng lưới an toàn tài chính hiệu quả” , Tạp chí Ngân hàng số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro mô hình cho mạng lưới an toàn tài chính hiệu quả
Tác giả: Thuỳ Dương
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng số
Năm: 2008
3. Đào Thị Hồ Hương (2022), “Mô hình và vị trí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính quốc gia: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình và vị trí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính quốc gia: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam
Tác giả: Đào Thị Hồ Hương
Năm: 2022
4. Đỗ Lê Phương (2011), “Mong manh lá chắn bảo hiểm tiền gửi”, Nhịp cầu đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mong manh lá chắn bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Đỗ Lê Phương
Nhà XB: Nhịp cầu đầu tư
Năm: 2011
5. Quốc hội (2012), “Luật Bảo hiểm tiền gửi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
6. Chính phủ (2013), “ Nghị định 68/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật bảo hiểm tiền gửi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 68/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
7. Thủ tướng (2021), “ Quyết định số 32/2021/QĐ – Ttg quy định về hạn mức trả tiền bảo hiểm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 32/2021/QĐ – Ttg quy định về hạn mức trả tiền bảo hiểm
Tác giả: Thủ tướng
Năm: 2021
10. Phòng Tổng hợp, Nhân sự & Kiểm soát nội bộ – NHNN Chi nhánh Thanh Hoá (2020), “Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi”, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Phòng Tổng hợp, Nhân sự & Kiểm soát nội bộ – NHNN Chi nhánh Thanh Hoá
Nhà XB: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Thanh Hoá
Năm: 2020
11. FDIC (1998), “A brief history of deposit insurance in the United States prepared for the international conference on Deposit InsuranceWashington.DC” Sách, tạp chí
Tiêu đề: A brief history of deposit insurance in the United States prepared for the international conference on Deposit InsuranceWashington.DC
Tác giả: FDIC
Năm: 1998
12. FDIC (2022), “Annual performance plan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual performance plan
Tác giả: FDIC
Năm: 2022
13. FDIC (2022), “Deposit insurance – Assessment” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Deposit insurance – Assessment
Tác giả: FDIC
Năm: 2022
14. FDIC (2022), “ Deposit insurance – The deposit insurance fund” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Deposit insurance – The deposit insurance fund
Tác giả: FDIC
Năm: 2022
15. FDIC, “ The banking crises of the 1980s and early 1990s: Summary and implication” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The banking crises of the 1980s and early 1990s: Summary and implication
Tác giả: FDIC
16. FDIC, “ Crisis and response: An FDIC history, 2008-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crisis and response: An FDIC history, 2008-2013
Tác giả: FDIC
Năm: 2013
17. FDIC, “ Marketing to the FDIC: Understanding the FDIC Service Categories. Understanding typical FDIC contractor service categories” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing to the FDIC: Understanding the FDIC Service Categories. Understanding typical FDIC contractor service categories
Tác giả: FDIC
2. TS. Hồ Thuỷ Ái – TS. Nguyễn Chí Đức (2020), “Đánh giá bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam từ khía cạnh pháp lý”, Tạp chí Thị trường tiền tệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng tý lệ phí cơ bản ( sau khi điều chỉnh) cho các tổ chức đã thành  lập ( được bảo hiểm hiểm từ 5 năm trở lên) - NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM QUA BÀI HỌC TỪ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ
Bảng 2.1 Tổng tý lệ phí cơ bản ( sau khi điều chỉnh) cho các tổ chức đã thành lập ( được bảo hiểm hiểm từ 5 năm trở lên) (Trang 24)
Bảng 2.2. Tổng tỷ lệ phí cơ bản (sau khi điều chỉnh) đối với các tổ chức nhỏ  mới được bảo hiểm (những tổ chức được bảo hiểm dưới 5 năm) - NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM QUA BÀI HỌC TỪ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ
Bảng 2.2. Tổng tỷ lệ phí cơ bản (sau khi điều chỉnh) đối với các tổ chức nhỏ mới được bảo hiểm (những tổ chức được bảo hiểm dưới 5 năm) (Trang 25)
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam - NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM QUA BÀI HỌC TỪ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI MỸ
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam (Trang 30)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w