1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế lâm nghiệm ở huyện sơn động tỉnh bắc giang từ năm 2000 đến 2010

99 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế lâm nghiệp ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ năm 2000 đến 2010
Tác giả Hoàng Văn Nam
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Ngọc Cơ
Trường học Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế cả địa phương, từ năm 2000 thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế rừng, các cấp lãnh đạo huyện Sơn Độn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN NAM

KINH TẾ LÂM NGHIỆP Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN NAM

KINH TẾ LÂM NGHIỆP Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày cô giáo trong tổ Lịch Sử Việt Nam khoa Lịch Sử trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn khoa học Giáo Sư - Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc

Cơ đã chỉ bảo tận tình, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trong thời gian thực hiện luận văn, Tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Giang, Huyện Uỷ, UBND huyện Sơn Động, cùng các ban ngành, đoàn thể trong huyện Sơn Động đã cung cấp tư liệu, để tác giả hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp

đỡ quý báu đó

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013

Người thực hiện

Hoàng Văn Nam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

Hoàng Văn Nam

XÁC NHẬN CỦA TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 0

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài 6

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SƠN ĐỘNG TRƯỚC NĂM 2000 9

1.1 Khái quát chung về huyện Sơn Động 9

1.1.1 Về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 12

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 14

1.2.1 Đặc điểm kinh tế 14

1.2.2 Đặc điểm xã hội và các di sản văn hóa 16

1.3 Tình hình kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động trước năm 2000 17

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2: KINH TẾ LÂM NGHIỆP HUYỆN SƠN ĐỘNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010 21

2.1 Bối cảnh lịch sử 21

2.2 Đường lối đổi mới của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Giang nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn từ năm 2000-2010 23

Trang 6

2.3 Chuyển biến của ngành lâm ở huyện Sơn Động từ năm 2000-2010 25

2.3.1 Diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng 25

2.3.2 Phát triển rừng trồng mới 31

2.3.3 Phát triển rừng phòng hộ 35

2.3.4 Phát triển rừng đặc dụng 38

2.3.5 Khai thác và chế biến lâm sản 43

2.3.6 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế lâm nghiệp ở huyện Sơn Động 49

Chương 3: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ LÂM NGHIỆP TỚI ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN SƠN ĐỘNG 56

3.1 Kinh tế lâm nghiệp với công cuộc xóa đói giảm nghèo 56

3.2 Phát triển lâm nghiệp cải thiện môi sinh, môi trường, cảnh quan 62

3.3 Kinh tế lâm nghiệp góp phần nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên của con người 67

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU

Thứ

tự

Tên biểu đồ, bảng biểu Trang

1 Biểu đồ 2.3a : Sự chuyển dịch của diện tích rừng phòng hộ

2 Biểu đồ 2.3b:Đất rừng và diện tích rừng đã gia cho các hộ gia

3 Biểu đồ 3.2a :Diện tích rừng trồng mới từ năm 2000 - 2005 32

4 Biểu đồ3.2b: Diện tích rừng trồng mới từ năm 2006 - 2010 32

5 Biểu đồ3.3: Sự biến động diện tích rừng phòng hộ theo từng

6 Biểu đồ 3.4: Sự biến động diện tích rừng đặc dụng qua từng

7 Bảng 1: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 48

8 Bảng 2: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 65

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Rừng gắn bó mật thiết với lịch sử loài người, từ thủa xa xưa đời sống con người hoàn toàn phụ thuộc vào rừng, con người sống bằng săn bắt, săn bắn và hái lượm những sản phẩm tự nhiên của rừng Rừng núi, hang động là nhà ở, là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người nguyên thuỷ Trong nhiều thập kỉ qua, rừng được coi là một trong các nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng cung cấp nguồn sản vật phục vụ đời sống con người như gỗ, củi đốt, nhựa cây, nguyên vật liệu làm giấy

Rừng giữ không khí trong lành: do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận cácbôníc và cung cấp ôxy Đặc biệt ngày nay khi hiện tượng nóng dần lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính, vai trò của rừng trong việc giảm lượng khí Cácbôníc là rất quan trọng

Rừng điều tiết nguồn nước, phòng chống lũ lụt và chống xói mòn: rừng

có vai trò điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt của nước và làm tăng lượng nước ngấm vào đất, vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa)

Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt

Trang 9

Rừng góp phần duy trì chất lượng và nguồn nước sạch Hơn ¾ lượng nước sạch trên thế giới bắt nguồn từ rừng, rừng có vai trò như cỗ máy điều hoà

tự nhiên làm cho môi trường trong lành, bớt độc hại, rừng có khả năng hấp thụ, lọc và hút bớt các khí độc hại, chống ô nhiễm, làm sạch không khí, giảm tiếng

ồn, giúp tránh được những nguy hại cho sức khoẻ con người và tạo được quá trình sinh thái bình thường cho sinh vật Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, rừng cũng giữ vai trò to lớn góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta Vì vậy, hình ảnh của rừng còn được nhà thơ

Tố Hữu ca ngợi qua những vần thơ:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt giày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”

Có thể nói, rừng là người bạn thân thiện với mọi người, mọi nhà Từ ngôi nhà nhỏ bé đến trang trí nội thất, đồ gia dụng, công cụ lao động, Tất cả đều không thể thiếu tài nguyên rừng

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, có khả năng tái tạo, nếu được quản lý bảo vệ và khai thác đúng kĩ thuật thì nguồn tài nguyên này không bao giờ vơi cạn Rừng là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế lũ lụt, chống xói mòn, tái tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, hạn chế quá trình biến đổi khí hậu Vì vậy, rừng được ví như lá phổi của trái đất, có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, gắn liền với đời sống của nhân dân và sức sống của toàn dân tộc

Hiểu rõ tầm quan trọng của rừng, trên con đường đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách ưu tiên phát triển kinh tế lâm nghiệp Để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâm nghiệp trên con đường đổi mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân

Trang 10

tế lâm nghiệp nhằm năng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân và góp phần đưa kinh tế huyện nhà ngày càng tiến nhanh và thu hẹp dần so với mặt bằng chung của tỉnh

Sơn Động là một huyện miền núi cao, nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Giang trên trục đường quốc lộ 31, cách thành phố Bắc Giang 80 km về phía Đông Bắc Với diện tích là 844,32 km2, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 34.682 ha Là huyện có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống, gồm người Kinh, người Tày, người Nùng, Cao Lan, Sán Chí Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính ( trong đó có 21 xã và 02 thị trấn ) Dân số toàn huyện năm

2000 là 67.205 người, đến năm 2010 tăng lên 69.112 người [Nguồn: 44-tr.49, 45-tr.75] Các vùng thung lũng đất đai mầu mỡ nằm chủ yếu ở thượng nguồn sông Lục Nam thích hợp cho việc canh tác cây lúa và các loại cây hoa màu Ngoài các loại cây lương thực và hoa màu là cây trồng chính, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động còn biết dựa vào địa hình đồi núi rộng lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp Trước năm 2000 đời sống của đại bộ phận nhân dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng chặt phá, khai thác rừng bừa bãi, đốt nương, làm rãy còn khá phổ biến Đặc biệt, nạn du canh, du cư vẫn còn khá phổ biến ở một số đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế cả địa phương, từ năm 2000 thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế rừng, các cấp lãnh đạo huyện Sơn Động đã có những bước đi mới trong quá trình phát triển kinh tế lâm nghiệp, cùng với đó là sự cần cù chịu khó trong lao động của nhân dân các dân tộc huyện nhà Vì vậy, đời sống của nhân dân cũng từng bước được cải thiện, bộ mặt nông thôn miền núi Sơn Động đã thay

da đổi thịt từng ngày

Vậy thành công của chương trình phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện nhà là do đâu ? Trong quá trình trồng rừng có những thuận lợi và khó khăn gì ? Bài học rút ra từ trồng rừng trong những thập niên tiếp theo Xuất

Trang 11

phát từ những vấn đề thực tế như biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên tai, hạn

hán, lũ lụt thường xuyên diễn ra ở nước ta nói chung và huyện Sơn Động nói

riêng là tiếng chuông “cảnh tỉnh sinh thái”, là sự trả giá đắt của con người cho

nguồn tài nguyên rừng bị suy thoái

Để cung cấp những kiến thức cơ bản về tác dụng của kinh tế lâm nghiệp,

tác dụng của rừng, tư vấn chọn nghề đối với học sinh dân tộc miền núi trong

những buổi hoạt động ngoại khoá là hết sức cần thiết, với lý do trên tôi đã chọn

đề tài “Kinh tế lâm nghiệp ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ năm 2000 đến

2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cá nhân, tập thể và các tổ chức

viết về đề tài kinh tế lâm nghiệp

Kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và các địa phương nói riêng luôn

là vấn đề được các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học, kinh tế và chính trị quan

tâm nghiên cứu dưới nhiều hình thức và nhiều góc độ khác nhau Trong văn

kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng, có nêu lên hai nội dung rất

quan trọng, mang tính chất định hướng cho sự phát triển là “ Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010” và “ Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội năm năm 2001 – 2005” Ban chấp hành trung ương

Đảng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Những bài viết, phát biểu của các nhà lãnh đạo:

- Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên

xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh (Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1986)

- Nguyễn Văn Linh: Đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt

động ( Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1992)

Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học:

- Trần Xuân Kiên: Các giải pháp kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XXI

Trang 12

- Nguyễn Mạnh Hùng: Kinh tế - xã hội Việt Nam hướng tới tăng trưởng, hội nhập phát triển bền vững (Nhà xuất bản Thống Kê – Hà Nội 2004)

- Nguyễn Trần Quế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI ( Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội – Hà Nội 2004)

Tất cả những công trình nêu trên đều nói đến kinh tế xã hội Việt Nam, khi nói đến kinh tế các tác giả cũng đã đề cập đến kinh tế lâm nghiệp của nước

ta trong thời kỳ đổi mới Phát triển kinh tế lâm nghiệp là vấn đề quan trọng trong sự phát triển của đất nước nói chung Ngoài những công trình nêu trên, tỉnh Bắc Giang nói chung và huyện Sơn Động nói riêng, vấn đề kinh tế xã hội còn được đề cập ở trong các báo cáo của các cơ quan Đảng, chính quyền địa phương, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tổ chức và cá nhân Trong đó đáng chú ý:

- Ủy ban nhân dân huyện Sơn Động: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2000-2010

- Ủy ban nhân dân huyện Sơn Động: Báo cảo tổng hợp quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010

Tình hình kinh tế xã hội huyện Sơn Động giai đoạn 2000-2010, còn được

đề cập trong hệ thống niên giám của chi cục thống kê huyện Sơn Động

Những công trình nghiên cứu và tài liệu nói trên, ở mức độ khác nhau đã đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội của huyện Sơn Động từ năm

2000 - 2010 Những công trình này nghiên cứu tổng hợp cả kinh tế - xã hội, trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến kinh tế lâm nghiệp, nhưng chỉ giới hạn ở mức độ nghiên cứu chung chung, chưa cụ thể, mang tính chất khái quát Đề tài kinh tế lâm nghiệp ở huyện Sơn Động chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết, cụ thể Những công trình nghiên cứu và tài liệu nói trên, chúng tôi vẫn đánh giá cao và coi đó là nguồn tư liệu tham khỏa quan trọng cho chúng tôi thực hiện đề tài kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động 2000 – 2010

Trang 13

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế lâm nghiệp và những nguyên nhân thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động phát triển

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: đề tài được thực hiện trong thời gian 8 tháng Từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 Nghiên cứu một số cây trồng chủ yếu đem lại năng suất cao tại huyện Sơn Động Đánh giá hiệu quả trên cả 3 mặt ( kinh tế, xã hội và môi trường ) Để làm sáng tỏ sự phát triển kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động, luận văn còn đề cập khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện từ sau công cuộc đổi mới của Đảng (1986) đến năm 2000

Về không gian: tìm hiểu những xã, thị trấn có nền kinh tế lâm nghiệp phát triển

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Khái quát về huyện Sơn Động, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí,

tài nguyên thiên nhiên, thành phần dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội của huyện trước năm 2000

Thứ hai: Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện những chuyển biến về

kinh tế lâm nghiệp thúc đẩy sự phát triển về văn hoá, xã hội từ năm 2000 đến

2010 Qua đó rút ra những mặt mạnh của kinh tế lâm nghiệp và những hạn chế tồn tại cần khắc phục

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

4.1 Các nguồn tư liệu

Thực hiện đề tài này ngoài việc khai thác các công trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố, chúng tôi sử dụng nhiều tài liệu tại địa phương (huyện Sơn Động)

Trang 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch

sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, còn sử dụng nhiều phương pháp khác như thống kê, so sánh và điều tra điền dã tại chỗ

5 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở hiểu biết về tác dụng của rừng, ứng dụng vào thực tế góp phần giúp học sinh và các tầng lớp nhân dân nâng cao sự hiểu biết về tác dụng của việc trồng rừng và bảo vệ rừng Đánh giá đúng thành tựu công cuộc phát triển kinh tế xã hội của huyện Sơn Động, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế lâm nghiệp địa phương

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Sơn Động trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời làm tư liệu giảng dạy lịch sử địa phương, những buổi ngoại khoá, tư vấn nghề cho học sinh dân tộc miền núi

6 Kết cấu luận văn

Đề tài được chia làm 3 phần:

Trang 16

Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SƠN ĐỘNG

TRƯỚC NĂM 2000

1.1 Khái quát chung về huyện Sơn Động

1.1.1 Về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Sơn Động là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Giang trên vòng cung Đông Sơn - Ngân Triều, có diện tích tự nhiên là 844,32 km2

(84.577 ha), bằng 22,12% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Giang và là huyện có diện tích tự nhiên lớn thứ hai trong tỉnh (sau huyện Lục Ngạn: 1.012 km2

) Huyện Sơn Động nằm trong toạ độ địa lý:

- Từ 1060 41’11” đến 1070 02’ 40” kinh độ Đông

- Từ 210 08’ 46” đến 210 30’ 28” vĩ độ Bắc

- Phía Đông giáp các huyện Lộc Bình, Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn

- Phía Nam giáp các huyện Ba Chẽ, Hoàng Bồ và Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh

- Phái Tây giáp các huyện Lục Ngạn, Lục Nam thuộc tỉnh Bắc Giang Huyện Sơn Động có 23 đơn vị hành chính, trong đó có 02 thị trấn và 21

xã, với nhiều thôn xóm và điểm dân cư nằm rải rác ở nhiều khu vực, huyện có

02 tuyến đường quốc lộ (gồm quốc lộ 279 và quốc lộ 31) và 02 tuyến tỉnh lộ (gồm tỉnh lộ 291 và tỉnh lộ 293) chạy qua Vì vậy, Sơn Động có điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế, văn hoá với các huyện khác trong tỉnh, cũng như các tỉnh lân cận, với Trung Quốc qua cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn

* Đặc điểm địa hình

Sơn Động có địa hình đặc trưng của miền núi, bị chia cắt mạnh Hướng dốc từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven dãy núi Yên Tử (bình quân trên 250

) Huyện có độ cao trung bình

450 m, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử 1068 m, đỉnh Bảo Đài 875 m và đỉnh Ba

Trang 17

Nồi 862 m (đều thuộc dãy Yên Tử), thấp nhất là 52 m thuộc khu vực thung lũng sông Lục Nam Ngoài ra huyện còn có các cánh đồng nhỏ, hẹp nằm xen

kẽ với các dải đồi núi Nói chung huyện Sơn Động nằm trong khu vực núi cao, có đặc điểm địa hình, địa mạo khá đa dạng, cao hơn các khu vực xung quanh, độ dốc lớn là đầu nguồn của sông Lục Nam, nên việc khai thác và sử dụng đất đai phải gắn với phát triển rừng, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Nó

có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống nhân dân trong huyện nói riêng

và cả khu vực hạ lưu nói chung

* Đặc điểm khí hậu

Huyện Sơn Động nằm cách bờ biển Quảng Ninh không xa, nhưng do án ngữ bởi dãy núi Yên Tử ở phía Đông nên Sơn Động có đặc điểm khí hậu lục địa miền núi Hàng năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà, mùa Hạ nóng và mùa Đông lạnh Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành 2 mùa:

- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam, nhiệt độ cao nhất trung bình tháng là 32,90

C, mưa nhiều, chiếm khoảng 85% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7 và tháng 8 (trung bình tháng

Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,60C

- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 32,90C

Trang 18

Biên độ giữa ngày và đêm không quá cao: từ 6,40C đến 9,90

C

Lượng mưa bình quân hàng năm 1.564 mm nhưng phân bố không đồng đều Huyện Sơn Động thuộc khu vực có lượng mưa trung bình của vùng, số ngày mưa trung bình trong năm là 128 ngày, trong đó ngày có lượng mưa lớn nhất thuộc mùa mưa, đạt 310,6 mm

Lượng bốc hơi: trung bình hàng năm là 961,2 mm, tháng có lượng bốc hơi cao nhất là tháng 5 (112,3 mm) và thấp nhất vào tháng 02 (61,8 mm)

Nắng: huyện Sơn Động nằm trong khu vực có lượng bức xạ trung bình

so với vùng khí hậu nhiệt đới Số giờ nắng trung bình cả năm là 1.571 giờ, bình quân số giờ nắng trong ngày đạt 4,3 giờ, tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 7 (199 giờ), cho phép nhiều loại cây trồng sinh trưởng, phát triển và trồng được nhiều vụ trong năm

Độ ẩm không khí: trung bình cả năm là 81%, các tháng có độ ẩm cao thường rơi vào mùa mưa, cao nhất là tháng 8 (86%), thấp nhất vào tháng 12 (77%) và tháng 1 (78%)

Chế độ gió, bão: huyện Sơn Động nằm trong khu vực chịu nhiều hưởng của gió mùa, với hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Tốc độ gió trung bình là 1,1 m/s Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều, nên huyện ít chịu ảnh hưởng của bão

* Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn các sông ở huyện Sơn Động phụ thuộc chủ yếu vào chế

độ mưa và khả năng điều tiết của khu vực Do đó, cùng với điều kiện, diễn biến lượng mưa hàng tháng trong năm thì chế độ thuỷ văn trên các sông cũng thay đổi theo Sơn Động là thượng nguồn của sông Lục Nam, trên địa bàn huyện có

3 nhánh sông chính gặp nhau ở xã Yên Định:

- Nhánh sông Cẩm Đàn bắt nguồn từ khu vực 2 xã Thạch Sơn và xã Phúc Thắng, chảy theo hướng Bắc - Nam, dài 21 km, qua xã Cẩm Đàn và đổ về sông chính ở xã Yên Định

Trang 19

- Nhánh sông Tuấn Đạo bắt nguồn từ hai xã Thanh Luận, Tuấn Mậu và thị trấn Thanh Sơn, chảy qua địa bàn xã Tuấn Đạo dài 11 km

- Nhánh sông An Châu bắt nguồn từ các xã Hữu Sản, An Lạc nơi có khu rừng nhiệt đới tự nhiên Khe Rỗ, đây là nguồn sinh thuỷ lớn nhất của sông Lục Nam Nhánh chính chảy trong địa phận huyện Sơn Động dài khoảng 40 km, từ Khe Rỗ sông chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, đến địa phận xã Lệ Viễn sông chảy theo hướng Đông - Tây về xã Yên Định gặp các nhánh sông Thanh Luận và sông Cẩm Đàn rồi chảy sang đất Lục Ngạn

Nhìn chung mật độ sông suối của huyện khá dày, nhưng đa phần là đầu nguồn, nên lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn, lượng nước hạn chế, đặc biệt là

- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (Fs), là loại đất có diện tích lớn nhất, phân bổ ở hầu hết ở các xã trên địa bàn huyện Loại đất này phân bổ trên các vùng đồi núi, có độ dốc tương đối lớn, tầng lớp đất dày từ 0,3 m đến 1,0 m Đất

có kết cấu tốt, khả năng giữ nước và giữ phân khá, thích hợp cho phát triển ngành lâm nghiệp, nhiều khu vực thuận lợi cho trồng cây công nghiệp và cây

ăn quả

- Đất vàng nhạt trên đá cát và đá dăm cuội kết (Fq), loại đất này có diện tích nhỏ (khoảng 7.000 ha), nhưng khá tập trung phân bố ở các vùng núi cao và có độ dốc thuộc các xã An Lạc, An Châu, Vĩnh Khương và Dương Hưu Loại đất này chủ yếu thích hợp cho phát triển rừng, một số diện tích có thể trồng cây ăn quả

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước(Fl), diện tích khoảng 3.500 ha,

Trang 20

Yên Định, An Châu, An Lập loại đất này có tầng khá dày thích hợp cho trồng lúa Tuy nhiên, do quá trình sử dụng chưa hợp lí, chủ yếu là khai thác mà không chú ý đến bồi dưỡng đất, nên đất ngày càng bị bạc màu

- Đất phù sa ngoài suối (Pj), diện tích khoảng 2.700 ha, phân bổ thành các dải nhỏ ven suối trong huyện, tập trung nhiều ở các xã An Châu, Yên Định, Cẩm Đàn, Bồng Am, Thạch Sơn, có địa hình bằng phẳng (độ dốc từ 0 đến 80)

Là loại đất chủ yếu trồng các loại cây lúa nước, rau màu và lương thực

- Đất bạc màu trên phù sa cổ (B), diện tích nhỏ, tập trung ở vùng đồi núi trọc thuộc các xã Bồng Am, Tuấn Đạo, TT Thanh Sơn, Thanh Luận, Vĩnh Khương

- Đất tím trên đất sét màu tím và đất dốc tụ, hai loại đất này chỉ có ở xã Dương Hưu, phía Đông Nam của huyện, là loại đất phân bổ kẹp giữa các núi đồi, là sản phẩm dốc tụ thung lũng

Như vậy, đặc điểm đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân bố ở các địa hình bằng phẳng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông - lâm nghiệp Đặc biệt, nên sử dụng hợp lí đất đai vừa tạo độ che phủ tránh xói mòn, vừa trồng cây công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao

* Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê năm 2000, huyện Sơn Động có 39.125 ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên có 34.682 ha, chiếm 88,64% diện tích đất có rừng, diện tích rừng trồng là 4.443 ha chiếm 11,36% diện tích đất có rừng Rừng tự nhiên phân bổ chủ yếu ở các xã An Lạc, Dương Hưu, Vân Sơn, Hữu Sản, Bồng Am, Tuấn Đạo Đặc biệt là khu rừng : Khu bảo tồn thiên nhiên Khe

Rỗ (thuộc địa phận xã An Lạc), thảm thực vật rừng ở nơi đây vẫn còn có độ che phủ lớn (68%), chủ yếu là các loại cây bản địa và các loại gỗ quí như: Lim, Lát, Pơmu, Sến, Táu, Dẻ Tổng trữ lượng gỗ rừng tự nhiên của huyện khoảng 600.000 - 700.000 m3 [Nguồn: 37, tr:14,15]

Trang 21

Diện tích rừng trồng ngày càng tăng, chủ yếu là các loại cây phù hợp với đặc điểm của địa phương như: Keo tai tượng, Trám, Thông, Lát Những năm gần đây nhân dân đã chú ý đến việc trồng các loại cây ăn quả, trồng rừng kinh

tế theo chương trình 327, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc Do đó, thảm thực vật ở các vùng dự án rừng trồng ngày càng lớn

Về động vật, trước đây khi diện tích rừng còn lớn, rừng Sơn Động có rất nhiều loại thú quí hiếm như: Hổ, Báo, Hươu, Nai, Gấu Hiện nay, do tình trạng khai thác bừa bãi làm cho diện tích rừng bị thu hẹp và do con người săn bắt trái phép, nên chỉ còn một số loài như: Khỉ, Nai, Lợn rừng, Tắc kè, Ong Đặc biệt là ở khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ còn có loài Vọoc Đen khoảng 60 con, đây là loài động vật quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới

* Tài nguyên nước

- Nước mặt: Tài nguyên nước mặt của huyện bao gồm các sông suối và

hồ ao, trong đó sông Lục Nam là sông lớn nhất của huyện Các sông, suối đều

là đầu nguồn nên lòng sông nhỏ hẹp và độ dốc lớn, chênh lệch lưu lượng nước giữa các mùa khá lớn Mùa khô thường gây hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông - lâm nghiệp Trên địa bàn huyện Sơn Động còn có 65 hồ, đập lớn nhỏ, trong đó có 50 đập dâng các loại, nằm rải rác trong huyện cung cấp nước phục

vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và là nơi cung cấp nước chủ yếu cho các nhà máy sản xuất nước sạch sinh hoạt cho nhân dân trong toàn huyện

- Nước ngầm: Qua khảo sát sơ bộ cho thấy mực nước ngầm khá tốt, có thể khai thác dùng cho sinh hoạt của nhân dân Nhưng do địa hình cao, nên mực nước ngầm khá sâu, việc tổ chức khoan, khai thác gặp nhiều khó khăn

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Do vị trí, đặc điểm và tiềm năng của một huyện miền núi với nhiều khó khăn, từ xa xưa nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động sống chủ yếu dựa vào

Trang 22

định cư Tuy là một huyện miền núi đặc biệt khó khăn, nhưng Sơn Động vẫn có những cánh đồng bằng phẳng, mầu mỡ tập trung đông dân cư, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp Bên cạnh đó, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước, các ngành công nghiệp và thủ công nghiệp cũng từng bước hình thành và góp phần mang lại thu nhập cho người dân, đóng góp vào nền kinh tế của cả huyện Với những ngành nghề truyền thống như: mộc, rèn đúc kim loại, khai thác quặng Tuy nhiên, trước năm

2000, các ngành này chưa được quan tâm phát triển đúng mức, bởi vậy hiệu quả kinh tế chưa cao Với nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, nguồn lao động dồi dào, đó là những điều kiện thuận lợi cơ bản cho huyện Sơn Động phát triển công nghiêp và thủ công nghiệp Trong những năm gần đây, do tận dụng được thế mạnh của địa phương, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp

và chế biến vật liệu đã có bước phát triển rõ rệt, nhiều đơn vị nhà máy đã đầu

tư trang thiết bị, máy móc công nghệ tiên tiến, mở rộng quy mô, đầu tư vốn sản xuất Do đó, thu hút được số lượng lớn lao động địa phương tham gia và bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân

Huyện Sơn Động có các tuyến đường quốc lộ 31 và quốc lộ 279 chạy qua

và có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh Do vậy, khá thuận lợi cho hoạt động giao lưu văn hóa và hàng hóa Cùng với sự phát triển của đất nước theo hướng công nghệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế của huyện Sơn Động cũng phát triển theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng các ngành kinh tế nông - lâm nghiệp Mặc dù vậy, trong những năm gần đây các ngành này vẫn giữ

vị trí - vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của cả huyện

Bước vào thời kì hội nhập, đặc biệt là thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động cần tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng hợp lý hóa, cùng với cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 23

1.2.2 Đặc điểm xã hội và các di sản văn hóa

Sơn Động là một huyện miền núi có bề dày văn hóa, có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, qua nhiều thế kỉ đã sát cánh bên nhau cùng phát triển kinh tế xã hội, bảo về quê hương, đất nước Đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc huyện Sơn Động rất phong phú và đa dạng, chủ yếu là văn hóa phi vật thể, văn hóa tinh thần giàu bản sắc của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao lan Đặc biệt là vùng giao thoa văn hóa giữa miền núi và miền xuôi đã tạo nên vườn hoa văn hóa đa sắc mầu

Văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc huyện Sơn Động được hình thành từ truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của các dân tộc trong huyện, phản ánh quá trình chế ngự thiên nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống xã hội Năm 1975, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích công cụ đá cuội ở các xã Yên Định, An Châu có niên đại cách ngày nay khoảng từ 1->2 vạn năm Điều đó chứng tỏ từ thời tiền sử ở vùng đất Sơn Động đã có con người sinh sống

Tín ngưỡng tôn giáo chủ yếu là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị thần, thờ những người có công với làng nước Mỗi tộc người đều có cách thể hiển khác nhau, nhưng đều có điểm chung là hậu thế luôn nhớ về cội nguồn, về quê hương, bản quán Phật giáo có vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc trong huyện Hệ thống Đình làng, đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đình ở Sơn Động từng là nơi hội họp chi bộ, kết nạp đảng viên Ngoài ra, địa phương Sơn Động còn là nơi quy tụ rất nhiều anh hùng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người con Sơn Động đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ xâm lược, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhân dân các dân tộc xã Dương Hưu đã lập thành tích: bắn rơi máy bay Mĩ, đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đó là

Trang 24

1.3 Tình hình kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động trước năm 2000

Với đặc điểm là một huyện miền núi cao, Sơn Động có diện tích rừng tự nhiên khá lớn (khoảng 34.682 ha), sản phẩm lâm sản cũng rất phong phú và đa dạng, được phân bố khá đồng đều giữa các địa phương, trong đó diện tích lớn nhất thuộc các xã ở khu vực phía Đông và phía Nam của huyện như: An Lạc, Dương Hưu, Tuấn Đạo, Tuấn Mậu, Long Sơn Rừng Sơn Động có nhiều loại cây gỗ quí, như: Lim, Sến, Táu, Lát Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), cùng với cả nước, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh để lại, nên đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, một bộ phận không nhỏ người dân trong huyện sống trực tiếp dựa vào rừng Bởi vậy, diện tích rừng không những không phát triển được, mà còn bị tàn phá nặng nề

từ hoạt động kiếm kế sinh nhai của người dân

Từ sau ngày tiến hành đổi mới đất nước (năm 1986), Đảng và Nhà nước

có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, nhằm nhằm đưa đất nước từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và từng bước cải thiện đời sống cho nhân dân, trong đó, có chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã đẩy mạnh sản xuất và phát triển ngành kinh tế dựa trên tiềm năng, thế mạnh của quê hương Trong thời gian này trên địa bàn toàn huyện đã trồng mới gần 4.000 ha chủ yếu là các loại cây công nghiệp lâu năm như: Bạch Đàn, Thông, Keo và cây công nghiệp ăn quả như Vải, Nhãn, Tre măng đồng thời tiếp tục triển khai và tiến hành giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhận khoán, bảo vệ và kinh doanh sản xuất

Từ năm 1996 - 1999, công tác trồng cây gây rừng, bảo vệ chăm sóc rừng từng bước được chú trọng Hạt kiểm lâm và Lâm trường Sơn Động đã kết hợp với phòng nông nghiệp huyện triển khai việc giao đất, giao rừng cho các tổ

Trang 25

chức và hộ gia đình, cùng với đó là các trung tâm ươm và cung cấp giống cây trồng cũng được thành lập và đi vào hoạt động Vì vậy, trong vòng 4 năm (1996-1999), toàn huyện đã trồng mới gần 12.000 ha rừng Công tác bảo vệ và chăm sóc rừng tiếp tục được củng cố và tăng cường, số vụ vi phạm liên quan đến rừng ngày càng giảm Hàng năm, huyện đều hoàn thành kế hoạch khai thác lâm sản với giá trị trên 1 tỉ đồng Chính sách giao đất giao rừng và phủ xanh đất trống đồi trọc được thực hiện khá đồng bộ Bên cạnh những kết quả đạt được ở trên, trong quá trình thực hiện, ngành lâm nghiệp huyện Sơn Động vẫn còn gặp không ít khó khăn và hạn chế: phong trào trồng cây gây rừng trong nhân dân chưa phát triển mạnh, hiệu quả còn thấp do hoàn cảnh lúc bấy giờ đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, nạn du canh du cư của đồng bào miền núi, dẫn đến nạn phá rừng làm nương rẫy ngày càng trầm trọng thêm Đáng chú

ý là nạn phá rừng bừa bãi của bọn lâm tặc có sự tiếp tay của một số cán bộ kiểm lâm làm cho diện tích rừng phong hộ, rừng đặc dụng ngày càng bị thu hẹp Việc giao đất khoán rừng còn chạy theo số lượng, thiếu cụ thể, chưa mang tính đồng bộ trong phát triển và xây dựng vốn rừng

Trên đây là bức tranh kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động trước năm 2000, với những khó khăn đặc trưng của một huyện miền núi cao và những khó khăn chung của đất nước trong giai đoạn đầu sau khi hoàn thành thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và giai đoạn đất nước tiến hành mở cửa, chuyến sang nền kinh tế thị trường Sơn Động có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, cho phép mở rộng phát triển kinh tế Tuy nhiên, những năm qua phát triển sản xuất ở Sơn Động còn mang tính tự túc, tự cấp, cơ sở kinh tế đơn thuần chỉ là nông - lâm nghiệp, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm vị trí rất nhỏ trong nền kinh tế của toàn huyện Đó là những khó khăn trở ngại cho việc phát triển một nền kinh tế toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn huyện Sơn Động

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Với đặc điểm là một huyện miền núi, có xuất phát điểm về kinh tế xã hội thấp, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự hướng dẫn chỉ đạo sát sao của Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng các sở, ban ngành trong việc triển khai thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội đối với đất nước, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Đó là tiền đề quan trọng để cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện tiếp tục đi lên trong những năm tiếp theo

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, huyện Sơn Động còn nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, diện tích đất lâm nghiệp lớn là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là kinh tế lâm nghiệp Song vấn đề sử dụng, bảo vệ và khai thác tài nguyên chưa được chú ý phát triển, vì vậy cơ cấu kinh tế của huyện Sơn Động trước năm 2000 chủ yếu vẫn là thuần nông Tiềm năng của huyện là rất lớn, nhất là đối với việc phát triển các ngành nông - lâm nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn này nền kinh tế nông nghiệp của huyện vẫn mang tính chất độc canh, trồng cây lương thực là chính, năng suất lao động thấp, cơ cấu cây trồng ít có sự thay đổi

Tình hình xã hội chuyến biến chậm, do là một huyện nghèo (theo đề án 30a của Chính phủ), vì vậy ngân sách thu không đủ chi, cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, lực lượng sản xuất chưa phát triển, lao động giản đơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp nhiều khó khăn

Những đặc điểm kinh tế - xã hội và những thuận lợi khó khăn ở trên có tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì hội nhập quốc

tế, cũng như thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là những thách thức không nhỏ, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền địa phương chèo lái con

Trang 27

thường kinh tế - xã hội huyện nhà vượt qua mọi khó khăn, thử thách Từng bước đưa nền kinh tế Sơn Động ngày càng phát triển đi lên

Với đặc thù là một huyện miền núi, diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, vì vậy ngành lâm nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của địa phương Lâm nghiệp là tiềm năng, là thế mạnh của huyện, để thức đẩy lâm nghiệp theo hướng đi mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Sơn Động

đã và đang nỗ lực tìm ra các giải pháp cụ thể như: mô hình tổ chức, giải pháp công nghệ, giống cây trồng phù hợp với địa hình đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu của đia phương, các loại cây có giá trị kinh tế cao để góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn địa phương là nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế của huyện mà Đảng bộ huyện Sơn Động thực hiện trong thời gian tới - thời kì hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 28

Chương 2 KINH TẾ LÂM NGHIỆP HUYỆN SƠN ĐỘNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010

2.1 Bối cảnh lịch sử

Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng, nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, lập lại trật tự thế giới mới Nhất là từ sau những sai lầm về đường lối cải tổ dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội

ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm cuối thế kỉ XX Các thế lực thù địch đã lớn tiếng rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị phủ định ngay tại quê hương của nó bởi sự lỗi thời, hơn nữa khi du nhập vào Việt Nam đã bị bóp méo, biến dạng thành bạo lực đấu tranh, kinh tế trì trệ, suy thoái, khủng hoảng, là những biểu hiện của “hồi kết”, “ chương thủ nghiệm cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản”, “sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản” Cùng thời điểm này, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ hai phát triển mạnh mẽ,

đã làm thay đổi một cách cơ bản các nhân tố sản xuất, nhờ đó con người đã tạo ra được lực lượng sản xuất và khối lượng sản phẩm đồ sộ, đưa con người chuyến sang nền “ văn minh trí tuệ ”, nhờ đó con người có thể phát huy hơn nữa năng lực, khả năng sáng tạo trong lao động, sản xuất, tiến lên làm chủ thiên nhiên và cuộc sống xã hội, làm cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ ngày càng quốc tế hóa cao, làm cho tất cả các vấn đề của đời sống xã hội đều mang tính quốc tế Sự hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới ngày càng cao Khuôn khổ kinh tế bó hẹp chỉ giao lưu giữa các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn phù hợp, lỗi thời Ngoài ra, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ còn tạo ra các loại vụ khí chiến tranh mới, nguy hiểm có sức tàn phá, hủy diệt sự sống, kĩ thuật quân sự phát triển tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh, nhất là khi khoa học công nghệ đang nằm trong tay các nước tư bản chủ nghĩa

Trang 29

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm thay đổi bộ mặt, cũng như nhận thức của toàn thế giới, ngoài những tác động tích cực mà nó đem lại, đằng sau đó là sự đe dọa về đạo đức xã hội và an ninh đối với con người Đứng trước bối cảnh lịch sử đầy biến động, đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải có sự chuyển biến về nhận thức và chiến lược mới nhằm thích nghi với tình hình phức tạp trên, đồng thời vẫn kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn Nhìn thẳng vào thế giới, đối diện với thực tế trong nước, kể từ sau ngày giải phóng miềm Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song vẫn còn đó vô vàn những khó khăn yếu kém, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phát huy hiệu quả, sản xuất nông nghiệp lac hậu cùng với những hậu quả của chiến tranh để lại làm cho nền kinh tế Việt Nam vốn đã khó khăn lại chồng chất khó khăn (tháng 12 năm

1986 giá bán lẻ hàng hóa tăng 854,3%) Nước ta đã không đạt được mục tiêu đề

ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ làm thay đổi thế giới theo hướng tích cực

Trước bối cảnh đó, buộc các nhà lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ

và lựa chọn những bước đi phù hợp với thực tiễn để bắt kịp và thích nghi với những biến đổi to lớn của tình hình thế giới Đứng trước sự lựa chọn của lịch sử, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 ở thủ đô Hà Nội, Đảng đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội Đảng toàn quốc lần thư VI thông qua chương trình đổi mới kinh tế theo ba hướng chính:

Một là, chuyển đổi từ chính sách đơn thành phần sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhằm phát triển sản

Trang 30

Hai là, chuyến từ cơ chế Nhà nước trực tiệp điều khiển các hoạt động của nền kinh tế bằng kế hoạch pháp lệnh gắn với cơ chế bao cấp, sang cơ chế kinh

tế thị trường với sự quản lí của Nhà nước ở tầm vĩ mô, bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của từng doanh nghiệp

Ba là, chuyển từ kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp sang kinh tế mở của với thế giới bên ngoài

2.2 Đường lối đổi mới của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Giang nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn từ năm 2000 đến 2010

Những chủ trương chính sách trên đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng sức sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có tác dụng rất to lớn đến việc hoạch định phát triển sản xuất, nâng cao đời sống xã hội ở các địa phương, trong đó có tỉnh Bắc Giang

Tháng 11 năm 1996 tại kì họp thứ X Quốc hội khóa IX đã ra nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh Ngày 01/01/1997 tỉnh Bắc Giang được tái lập, là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và Hà Nôi, phía nam giáp hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương Tỉnh lị là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 51 km

Tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố

và 9 huyện, với 229 xã, phường và thị trấn Với tổng diện tích tự nhiên là 3.823

km2 (chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam), trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%

Dân số tỉnh Bắc Giang là 1.555.720 người (theo số liệu điều tra dân số năm 2009), là tỉnh có 26 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%, người Tày chiếm 2,6%, người Sán Chay và Sán Dìu mỗi dân tộc chiếm 1,6%, người Hoa 1,2%, người Dao 0,5% [Nguồn: 61, tr:17]

Trang 31

Tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997 Trải qua 15 năm trưởng thành và phát triển, đến nay Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Thực tiễn ban đầu cho thấy, kì họp thứ X Quốc hội khóa IX quyết định tái lập lại tỉnh Bắc Giang là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp về quy mô, diện tịch và số lượng các huyện thị trực thuộc được giảm bớt, đồng thời tính truyền thống, bản sắc văn hóa của các dân tộc trong tỉnh cũng được khôi phục Việc tái lập tỉnh Bắc Giang còn tạo điều kiện để các cấp

ủy Đảng, chính quyền có điều kiện tập trung nghiên cứu, rà soát, điều tra cơ bản những tiềm năng thế mạnh, những điều kiện thiên nhiên khí hậu thuận lợi, cũng như những khó khăn hạn chế yếu kém của địa phương, làm cơ sở cho việc định hướng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương

Thực hiện các nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX về phát triển kinh tế xã hội, nhất là sau khi tỉnh Bắc Giang được tái lập lại Căn cứ và tiềm năng, thế mạnh của địa phương, Đảng bộ, chính quyền huyện Sơn Động đã xác định được hướng đi cho kinh tế huyện nhà, với chủ trương phát triển kinh tế lấy kinh tế lâm nghiệp làm trọng tâm, phát huy tối đa nguồn nội lực sẵn có và tận dụng sự giúp đỡ của các nguồn lực bên ngoài Từ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm và đầu tư trực tiếp nguồn vốn có hiệu quả của các ban, ngành, sở trong tỉnh Việc trồng rừng và phát triển kinh tế rừng tại địa phương Sơn Động được thực hiện một cách có hiệu quả, trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông Thực hiện tốt nguyên tắc “gắn vùng nguyên liệu với cơ sơ sản xuất và thị trường tiêu thụ”, đồng thời tăng cường công tác quản lí của Nhà nước đối với việc phát triển trồng rừng, qua đó đảm bảo lợi ích cho người lao động, doanh nghiệp và địa phương

Trang 32

Sau 10 năm thực hiện Đường lối đổi mới của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Giang, ngành lâm nghiệp Sơn Động đã có những bước tiến quan trọng

và phát triển nhanh cả về chất và lượng Trong 10 năm qua (2000-2010), Đảng

bộ và chính quyền huyện Sơn Động đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển trồng rừng và chế biến gỗ rừng trồng, xác định trồng rừng và chế biến rừng trồng là thế mạnh của địa phương trong phát triển kinh tế xã hội

Do vậy, chính quyền các cấp trong huyện đã tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, sản xuất chế biến gỗ rừng trồng, từng bước đưa sản phẩm gỗ rừng trồng trở thành hàng hóa chủ lực của địa phương, có sức cạnh tranh trên thị trường, đời sống của nhân dân từng bước được đảm bảo và giàu lên nhanh chóng từ việc phát triển kinh tế rừng bền vững

2.3 Chuyển biến của ngành lâm ở huyện Sơn Động từ năm 2000-2010

2.3.1 Diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần hàng đầu của môi trường sống và có

ý nghĩa quyết định trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp nói riêng và kinh tế nông thôn nói chung Với một huyện lâm nghiệp được xem là ngành kinh tế chủ đạo như Sơn Động thì rừng và đất rừng mang ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc khoanh nuôi và bảo vệ vốn rừng trên địa bàn huyện được xem là nhiệm vụ

ưu tiên hàng đầu Sự phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện được gắn liền với nhiệm vụ khoanh nuôi và bảo về rừng

Huyện Sơn Động có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 60.409,6 ha chiếm 71,3% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, trong đó diện tích đất có rừng là 53.034,0 ha, đất chưa có rừng là 7.375,6 ha [Nguồn: 52, tr:1,2]

Số diện tích đất lâm nghiệp có rừng tập trung ở các xã: Tuấn Mậu, Thanh Luận, Tuấn Đạo, Bồng Am, Long Sơn, Dương Hưu, An Lạc, Hữu Sản, Phúc Thắng, Vân Sơn, Thạch Sơn, Yên Định, An Bá, Cẩm Đàn hầu hết các xã trên

Trang 33

đều nằm ở vị trí giáp gianh với các huyện, tỉnh bạn như Lạng Sơn, Quảng Ninh Vì vậy công tác bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn Số diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Động tập trung chủ yếu ở các dạng chính: rừng tái sinh, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng trồng

Căn cứ vào tình hình rừng và diện tích rừng hiện có trên địa bàn, năm

2000 Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động đã giao cho Hạt kiểm lâm tiến hành rà soát, thống kê diện tích rừng và chọn diện tích rừng xã Phúc Thắng giao khoán bảo vệ làm điểm

Qua rà soát tại xã Phúc Thắng với tổng diện tích 266,7 ha giao cho 22 hộ gia đình nhận khoán khoanh nuôi và bảo vệ, trong đó khoán bảo vệ rừng là 108

ha gồm 9 lô; khoán khoanh nuôi tái sinh rừng 158,7 ha gồm 23 lô

Việc giao khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng được thực hiện theo các bước như: họp dân phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác khoán rừng, quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận khoán, điều kiện tham gia nhận khoán đồng thời tổ chức bình xét công khai và lập danh sách các hộ gia đình có đủ điều kiện tham gia nhận khoán, mà việc bình xét này ưu tiên các hộ sinh sống sở tại và đã có trách nhiệm trông coi quản lý, bảo vệ rừng từ trước và

có ý thức cao trong công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng Thông qua đề án giao đất và khoán bảo vệ rừng đối với các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng dưới nhiều hình thức như: bàn giao các lô rừng tại hiện trường cho từng hộ nhận khoán, lập biên bản bàn giao hiện trường, kí kết giúp hộ gia đình nhận rõ danh giới lô rừng mình phải bảo vệ, xây dựng và kí kết hợp đồng khoán, trong hợp đồng thể hiện rõ quyền lợi, nghĩa vụ 2 bên và quy định rõ trách nhiệm, nhiệm

vụ cụ thể của những hộ nhận giao khoán cũng như chế độ thù lao được hưởng trong suốt thời gian nhận chăm sóc và bảo vệ rừng Chỉ trong một thời gian ngắn, với nguồn vốn đầu tư từ dự án 661của Chính phủ, diện tích rừng phục hồi

Trang 34

dự án trồng rừng Việt - Đức đầu tư bước đầu đạt hiệu quả Các mô hình trồng

bổ sung Trám trắng ở xã Cẩm Đàn, xã Thanh Luận, mô hình trồng Lim xanh ở

An Lạc bước đầu thành công và có thể nhân rộng trong thời gian tới

Với cách làm như vậy, các hộ gia đình đều thể hiện trách nhiệm, nhiệm

vụ của mình khi được nhận khoán bảo vệ rừng và tin tưởng vào một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, người dân đã yên tâm và có trách nhiệm bảo

vệ tốt diện tích rừng nhận khoán, vì họ hiểu rằng đã được Nhà nước giao khoán bảo vệ lâu dài và tổ chức giao khoán một cách hợp lí, bài bản Qua đó, tích cực phát dọn danh giới lô, khoảnh và cắm mốc diện tích rừng được giao, thường xuyên tuần tra, canh gác nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác rừng trái phép, gia súc phá hoại, phòng cháy và chữa cháy rừng Tích cực tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, nhằm giúp họ hiểu rõ đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất và quản lí bảo vệ rừng, để từ

đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng của mỗi người dân

Các hộ nhận khoán theo Quyết định số 202 ngày 2/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ qui định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi rừng tái sinh và trồng rừng có quyền lợi được hưởng công khoán bằng tiền hoặc bằng hiện vật theo hợp đồng Được tận thu sản phẩm của rừng nhận khoán theo qui định của

Bộ Lâm nghiệp và hướng dẫn của chủ rừng Được phép lựa chọn các hình thức nhận khoán, thời gian nhận khoán theo từng loại rừng và nội dung công việc phù hợp với hoàn cảnh của mình Nhà nước khuyến khích nhận khoán ổn định với thời gian 50 năm đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và với thời gian một chu kì kinh tế đối với rừng sản xuất Được kết hợp sản xuất nông nghiệp khi rừng chưa khép tán hoặc dưới tán rừng và được hưởng toàn bộ sản phẩm do mình kết hợp sản xuất ra Khi thời gian nhận khoán theo hợp đồng chưa kết thúc, do hoàn cảnh khách quan không nhận khoán nữa, hộ nhận khoán có thể

Trang 35

chuyển quyền nhận khoán cho hộ khác hoặc thanh toán phần hợp đồng trong thời gian đã thực hiện để chủ rừng lập hợp đồng khoán với hộ khác

Việc giao nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ và khoanh nuôi rừng tái sinh tới các hộ gia đình bước đầu đã đem lại hiệu quả, rừng đã được bảo vệ và phát triển tốt, cây rừng đã lớn lên cả về đường kính, chiều cao, cây tái sinh sinh trưởng và phát triển mạnh, tạo cho rừng nhiều tầng, nhiều lớp và có tác dụng to lớn để duy trì và điều hòa nguồn nước, chống thiên tai lũ lụt và bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tốt tác dụng phòng hộ Đến năm 2003, trên địa bàn huyện Sơn Động đã khoán khoanh nuôi tái sinh bảo vệ rừng trên 1000 ha trong

đó tập trung ở các xã khu vực tây Yên Tử như: Tuấn Đạo, Long Sơn, Bồng

Am, An Lạc, Thanh luận, Thanh Sơn Các hộ yêm tâm bảo vệ diện tích rừng

Quy định về khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi rừng tái sinh được ban hành bổ sung theo từng năm cho phù hợp với tình hình thực tế để bảo vệ rừng

có hiệu quả hơn Tháng 12 năm 2002 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã có Thông tư liên tịch số 144 về việc phối hợp giữa Kiểm lâm, Công an và Quân đội trong công tác bảo vệ rừng Tháng 12 năm 2007 Hạt Kiểm lâm Sơn Động thực hiện chuyển đổi phương thức khoán bảo về rừng chu kì III giao cho Ban công an các xã vùng Tây Yên Tử bảo vệ

Qua các phương thức giao khoán bảo vệ rừng ở Sơn Động Nhìn chung các tổ chức, cá nhân nhận khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng đều có tinh thần trách nhiệm cao trong việc bảo vệ rừng Vì mỗi tổ chức và cá nhân đều nhận thức rõ: “ Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ xây dựng thì rừng rất quý ”

Sự phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Động gắn liền với công tác giao khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng, ít nhiều có sự chuyến biến về diện tích theo hướng tích cực

Trang 36

BIỂU ĐỒ 2.3a: SỰ CHUYỂN DỊCH CỦA DIỆN TÍCH RỪNG

PHÒNG HỘ QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

[Nguồn: 52, tr 5-7]

Sau 10 năm triển khai thực hiện chính sách về phát triển kinh tế rừng, diễn biến tài nguyên rừng và đất có rừng của huyện Sơn Động có nhiều biến động, sự biến động này do nhiều yếu tố tác động như chính sách phát triển lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước, sự phân định địa giới hành chính, hoạt động sản xuất của con người, thiên tai Mọi sự biến động về đất rừng đều ảnh hưởng tới

sự phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện

Trong giai đoạn từ năm 2002-2004 tổng diện tích rừng được khoanh nuôi

và bảo vệ trên địa bàn huyện Sơn Động xấp xỉ 13.017 ha, giảm hơn 1.200 ha so với giai đoạn 2000-2002 Đây là giai đoạn huyện chủ trương triển khai mạnh

mẽ các chính sách đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nguyên liệu lấy từ sản xuất lâm nghiệp là rất lớn, do vậy diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng giảm hơn so với giai đoạn trước Cũng trong giai đoạn này mỗi năm trong toàn huyện khoanh nuôi và bảo vệ thêm được nhiều diện tích rừng

Trang 37

BiỂU ĐỒ 2.3b: ĐẤT RỪNG VÀ DIỆN TÍCH RỪNG ĐÃ GIAO CHO

CÁC GIA ĐÌNH VÀ CÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ

[Nguồn: 44-49, tr 75,54.77,55,55,74,58]

Quan sát biểu đồ 2.3b, có thể nhận thấy trong giai đoạn từ năm

2006-2010 diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng ở huyện Sơn Động tăng lên rất nhanh và tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế của huyện nhà Diện tích rừng khoanh nuôi và được bảo vệ ngày một tăng đồng nghĩa với việc diện tích đất lâm nghiệp tăng theo, góp phần thúc đẩy ngành kinh tế lâm nghiệp phát triển, qua đó kinh tế của huyện trong giai đoạn này cũng có những bước chuyển biến tích cực, góp phần cải thiện đời sống nhân dân và cải tạo môi sinh trong toàn huyện Đồng thời diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng tăng lên cũng cho thấy công tác tuyên truyền pháp luật về quản lý bảo vệ và phát triển rừng được đề cao Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với các tổ chức nhận khoán, nuôi bảo vệ rừng ngày càng chặt chẽ hơn, đồng thời sự hiểu biết của nhân dân

Trang 38

về luật bảo vệ và phát triển rừng đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, số diện tích rừng được giao khoán ngày một tăng hơn

Việc xã hội hóa công tác quản lí và bảo vệ rừng đã đem lại hiệu quả

cụ thể, diện tích rừng được quản lí tốt hơn, hạn chế thấp nhất các hành vi phá hoại rừng, nâng cao được ý thức trách nhiệm của người dân, thu nhập cho người dân sống gần rừng cũng tăng hơn, đảm bảo ổn định cuộc sống Song song với việc khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng, Đảng bộ và chính quyền huyện Sơn Động đã sớm có chủ trương giao đất, giao rừng, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp đất cho các hộ gia đình thiếu đất sản xuất và các chính sách phù hợp với điều kiện từng xã, tạo điều kiện cho nhân dân ổn định sản xuất

Vì vậy, từ năm 2004 đến 2010 diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng tự nhiên ngày càng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước và gần đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Mặt khác, diện tích khoanh nuôi và bảo vệ rừng ngày càng tăng còn có tác dụng to lớn trong việc duy trì nguồn nước, điều hòa không khí, chống xói mòn đất, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân và tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp cho quê hương Sơn Động

2.3.2 Phát triển rừng trồng mới

Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng của huyện Sơn Động có nhiều biến động, sự biến động đó do nhiều nguyên nhân như chính sách phát triển lâm nghiệp của Nhà nước, sự phân định địa giới hành chính, hoạt động sản xuất của con người, thiên tai Mọi sự biến động về đất rừng đều ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện

Trang 39

BIỂU ĐỒ 3.2a: DIỄN BIẾN DIỆN TÍCH RỪNG TRỒNG MỚI

BiỂU ĐỐ 3.2b: DIỆN BIẾN DIỆN TÍCH RỪNG TRỒNG MỚI

TỪ NĂM 2006-2010

Trang 40

Qua biểu đồ 3.2a và 3.2b cho ta thấy, diện tích rừng trồng mới của toàn huyện tăng theo tỷ lệ thuận, năm sau cao hơn năm trước Điều đó đã minh chứng, việc triển khai có hiệu quả dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661) của Chính phủ ở các địa phương trong toàn huyện Nhờ đó, diện tích rừng trồng mới của huyện tăng nhanh chóng và tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nói chung và kinh tế lâm nghiệp của huyện nhà nói riêng Diện tích rừng trồng mới tăng, đồng nghĩa với việc các dự án trồng rừng từ Trung ương đến địa phương được triển khai đồng bộ, đúng kế hoạch và có hiệu quả ngay từ những ngày đầu thực hiện Mặt khác diện tích rừng trồng mới tăng làm cho diện tích phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và độ che phủ của rừng trên địa bàn toàn huyện cũng tăng lên đáng kể Do vậy, góp phần cải thiện môi sinh, môi trường, chống xói mòn sạt lở đất trong mùa mưa bão Thực tế trên cũng phản ánh tình trạng khai thác, chặt phá rừng đốt nương làm rãy trên địa bàn huyện là khá phổ biến, theo thống kê của Hạt kiểm lâm Sơn Động chỉ tính riêng trong năm 2006 diện tích rừng bị thiệt hại là 37,8 ha, trong đó có 8,1 ha bị phá và 29,7 ha bị cháy

Từ những năm 90 của thế kỉ XX, xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đất nước, của địa phương, đời sống nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang nói chung

và huyện Sơn Động nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn, do vậy tình trạng khai thác, chặt phá rừng bừa bãi diễn ra phổ biến, làm cho diện tích rừng tự nhiên của huyện giảm nhanh chóng (từ trên 40.000 ha xuống còn 27.345 ha)

Để khắc phục tình trạng trên, từ năm 1999 thực hiện dự án 661(dự án trồng mới

5 triệu ha rừng) của Chính phủ, toàn huyện đã trồng mới và khoanh nuôi tái sinh được 6.473,7 ha, trong đó trồng rừng tập trung đạt 1.795,2 ha, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và có trồng bổ sung 4.678,5 ha [Nguồn: 52]

Giai đoạn từ năm 2001-2010 triển khai dự án trồng rừng Việt - Đức, qua 10 năm thực hiện đã trồng và khoanh nuôi tái sinh được 4.438,4 ha Trong đó, rừng tập trung là 3.926,1 ha, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và có

Ngày đăng: 18/10/2023, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Văn Chi (1987). Những dẫn liệu bước đầu về khu hệ thực vật rừng cấm Nam Cát Tiên. Báo cáo khoa học, Trường Đại Học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Những dẫn liệu bước đầu về khu hệ thực vật rừng cấm Nam Cát Tiên
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1987
2. Lý Đức Chính (2005), Chuyến biến kinh tế xã hội Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986-2004). Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyến biến kinh tế xã hội Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986-2004)
Tác giả: Lý Đức Chính
Năm: 2005
3. Phan Đại Doãn (1996): Quản lí nông thôn nước ta hiện nay – Một số vấn đề giải pháp, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
4. . Nguyễn Lương Duyên (1985). Nghiên cứu một số chỉ tiêu kết cấu rừng Đông Nam Bộ (vùng Mã Đà) và thí nghiệm khai thác đảm bảo tái sinh. Báo cáo khoa học 01.1.2, Phân Viện lâm nghiệp phía Nam số 21/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu kết cấu rừng Đông Nam Bộ (vùng Mã Đà) và thí nghiệm khai thác đảm bảo tái sinh
Tác giả: Nguyễn Lương Duyên
Nhà XB: Báo cáo khoa học 01.1.2
Năm: 1985
5. Phan Tùng Dương “Chuyến biến kinh tế xã hội huyện Yên Thế (Bắc Giang)”- Luận văn Thạc sĩ – Thái Nguyên 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyến biến kinh tế xã hội huyện Yên Thế (Bắc Giang)”
6. Trần Bá Đệ (1998), Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay – Những vấn đề lí luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
7. Trền Bá Đệ (2002), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam – Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trền Bá Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
8. Vũ Xuân Đề (1989). Hiện trạng tài nguyên rừng Đông Nam Bộ, định hướng bảo vệ, phát triển và khai thác sử dụng. Tổng luận về chuyên khảo khoa học kỹ thuật lâm nghiệp số 3,4/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng tài nguyên rừng Đông Nam Bộ, định hướng bảo vệ, phát triển và khai thác sử dụng
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1989
9. Tiến sĩ Phạm Văn Điển (2009). Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ - NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Tiến sĩ Phạm Văn Điển
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
10. Bùi Đoàn (1987). Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng nhóm sinh thái trong công tác điều chế rừng ở Việt Nam. Thông tin khoa học kỹ thuật số 2/1987, Viện lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng nhóm sinh thái trong công tác điều chế rừng ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Đoàn
Năm: 1987
12. Vũ Tiến Hinh (1991). Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên – Tạp chí lâm nghiệp số 02/1991. Bộ lâm nhiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
14. Vũ Đình Huề và các tác giả khác (1989). Kết quả khảo nghiệm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn – Nghệ Tĩnh. Trong cuốn sách “Một số kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật lâm nghiệp 1976-1985”. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn – Nghệ Tĩnh." Trong cuốn sách “Một số kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật lâm nghiệp 1976-1985
Tác giả: Vũ Đình Huề và các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1989
15. Xuân Hùng (2004), Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) trong thời kì đổi mới (1986-2003), Luận văn Thạc sĩ lịch sử Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) trong thời kì đổi mới (1986-2003)
Tác giả: Xuân Hùng
Năm: 2004
16. Phan Văn Khải (2000): Đưa đất nước tiến nhanh và bền vững khi bước vào thế kỉ XXI. Tạp chí Cộng sản số 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa đất nước tiến nhanh và bền vững khi bước vào thế kỉ XXI
Tác giả: Phan Văn Khải
Năm: 2000
17. Trần Kiên và Phan Nguyên Hồng (1990). Sinh thái học đại cương, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học đại cương
Tác giả: Trần Kiên và Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1990
18. GS.TS Phùng Ngọc Lan (2002). Lâm nghiệp giáo trình sư phạm - NXB Đại học SP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp giáo trình sư phạm
Tác giả: GS.TS Phùng Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Đại học SP
Năm: 2002
19. Bế Thị Lý – Kinh nghiệm trồng 18 ha rừng tại thôn Sản 2 xã Hữu Sản. Thực tế tại địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trồng 18 ha rừng tại thôn Sản 2 xã Hữu Sản
Tác giả: Bế Thị Lý
20. Nguyễn Ngọc Lung (1989). Những cơ sở bước đầu xây dựng quy phạm khai thác gỗ. Trong cuốn sách: “Một số kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật lâm nghiệp 1976-1985”, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở bước đầu xây dựng quy phạm khai thác gỗ". Trong cuốn sách: "“Một số kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật lâm nghiệp 1976-1985”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1989
21. Vũ Văn Mễ. Giao đất lâm nghiệp-kinh tế hộ gia đình ở miền núi – NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao đất lâm nghiệp-kinh tế hộ gia đình ở miền núi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
22. Phạm Xuân Nam (2001): Mấy nét tổng quát về quá trình đổi mới kinh tế xã hội Việt Nam 15 năm qua. Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 1 trang 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét tổng quát về quá trình đổi mới kinh tế xã hội Việt Nam 15 năm qua
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

7  Bảng 1: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000 - 2010  48 - Kinh tế lâm nghiệm ở huyện sơn động tỉnh bắc giang từ năm 2000 đến 2010
7 Bảng 1: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 48 (Trang 7)
BẢNG 1: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2000-2010 - Kinh tế lâm nghiệm ở huyện sơn động tỉnh bắc giang từ năm 2000 đến 2010
BẢNG 1 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2000-2010 (Trang 55)
BẢNG 2: KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN (2006-2010) - Kinh tế lâm nghiệm ở huyện sơn động tỉnh bắc giang từ năm 2000 đến 2010
BẢNG 2 KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN (2006-2010) (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w