ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính gồm 2 kỹ thuật chính: phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) với các đối tượng cung cấp thông tin chủ yếu.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phiếu điều tra bán cấu trúc, bao gồm các câu hỏi đóng để xác định tình hình nhân lực và quản lý nhân lực Đồng thời, các câu hỏi mở được sử dụng để thu thập bối cảnh, nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến nhân lực, quản lý nhân lực, cũng như những thay đổi và thực thi chính sách y tế gần đây liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.
Chúng tôi đã thực hiện một tổng quan (desk review) về các tài liệu và báo cáo liên quan đến nhân lực, quản lý nhân lực, cũng như đào tạo và phát triển nhân lực, đồng thời xem xét các chính sách y tế có liên quan đến lĩnh vực này.
Thời gian thực hiện
Địa bàn nghiên cứu
- Tuyến trung ương: Vụ TCC Bộ Y tế, Cục Phòng chống HIV/AIDS
Sở Y tế, Sở Nội Vụ, UBND và Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS của 4 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Điện Biên và Quảng Bình được lựa chọn vì những lý do đặc thù của từng địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống HIV/AIDS.
Đại diện cho các vùng miền và một số khu vực sinh thái;
Đại diện cho các tỉnh có đặc điểm kinh tế xã hội và địa lý đa dạng;
Tỉnh nhận được nhiều tài trợ và ít tài trợ của các tổ chức quốc tế;
Tỉnh có tỷ lệ cao và thấp các nhóm quần thể có nguy cơ cao;
Tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao và tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV thấp;
Chưa có nghiên cứu một cách có hệ thống trước đây về nhân lực và quản lý nhân lực lĩnh vực HIV/AIDS.
Trong nghiên cứu về phòng chống HIV/AIDS, 37 trong số 63 trung tâm phòng chống HIV/AIDS của các tỉnh đã tham gia, đạt tỷ lệ tham gia gần 60% Điều này cho thấy sự quan tâm và cam kết cao từ các trung tâm trong việc cung cấp thông tin Tuy nhiên, một số trung tâm không tham gia có thể do chưa triển khai đề án vị trí việc làm, dẫn đến nhận thức rằng việc tham gia nghiên cứu này chưa cần thiết.
Đối tượng, cỡ mẫu và phương pháp thu thập số liệu
Tất cả 63 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh sẽ chọn ra một đại diện có hiểu biết sâu sắc về chính sách và công tác nhân sự, có thể là lãnh đạo Trung tâm hoặc trưởng phòng Kế hoạch – Tổ chức.
- Tại mỗi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tiến hành phỏng vấn định lượng cán bộ được chọn bằng phiếu điều tra tự điền. b) Nghiên cứu định tính:
- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế;
- Phỏng vấn sâu 1 đại diện lãnh đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS.
Tại mỗi tỉnh được chọn, tiến hành thu thập số liệu định tính theo cỡ mẫu và phương pháp thu thập như sau:
- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Sở Nội vụ tỉnh (phòng/ban liên quan đến công tác cán bộ);
- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của UBND tỉnh (phòng/ban liên quan đến công tác cán bộ);
- Phỏng vấn sâu 1 đại diện của Sở Y tế (phòng Tổ chức/ Nhân sự/ Kế hoạch);
- Phỏng vấn sâu với 1 đại diện lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS;
- Phỏng vấn sâu với 1 đại diện phòng Tổ chức – hành chính/ Kế hoạch;
Một cuộc thảo luận nhóm đã được tổ chức với sự tham gia của 10 đại diện từ các phòng ban của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Các phòng bao gồm Tổ chức-hành chính, Kế hoạch, Giám sát, Can thiệp, Điều trị và Truyền thông, mỗi phòng cử 2 đại diện tham gia.
Quy trình thu thập số liệu
Tất cả các cuộc phỏng vấn định tính đều tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, trong đó người tham gia đồng ý tham gia vào nghiên cứu, đảm bảo tính hợp pháp và đạo đức trong quá trình thu thập dữ liệu.
Thông tin và nội dung các cuộc phỏng vấn sẽ chỉ được ghi chép khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu Chúng tôi cam kết không ghi lại kết quả phỏng vấn của những đối tượng không đồng ý tham gia.
Các cuộc phỏng vấn và khảo sát cán bộ đại diện từ các đơn vị được tiến hành tại phòng làm việc của cán bộ y tế, trong khi các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức tại Trung tâm Phòng, Chống.
Điều tra viên trong nghiên cứu định tính cần có kinh nghiệm vững vàng về phương pháp và cách tiếp cận nghiên cứu, cùng với kỹ năng khai thác số liệu hiệu quả.
Các điều tra viên trong nghiên cứu định lượng đóng vai trò hướng dẫn các đại diện lãnh đạo Khoa/Phòng tổ chức hành chính hoặc nhân sự của TTPC HIV/AIDS hoàn thành các thông tin cần thiết theo mẫu số 4.
- Bước 1: Xây dựng các công cụ nghiên cứu (Bộ câu hỏi và hướng dẫn PVS và
Bước 2: Liên hệ với Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh/thành phố, cùng với Sở Y tế, Ủy ban Nhân dân và Sở Nội vụ của 4 tỉnh Điện Biên, Cần Thơ để tiến hành điều tra.
Quảng Nam và An Giang.
- Bước 3: Thử nghiệm với các đối tượng tương ứng tại Trung tâm Phòng,
Chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Ninh.
- Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện các công cụ nghiên cứu.
- Bước 5: Tập huấn điều tra cho các cán bộ nghiên cứu định lượng (Bộ câu hỏi điều tra và Hướng dẫn PVS và TLN).
- Bước 6: Điều tra chính thức tại các cơ sở đã chọn.
Bước 7 trong quản lý số liệu định lượng bao gồm các hoạt động làm sạch, nhập liệu, kiểm tra và phân tích số liệu Đối với số liệu định tính, kết quả từ PVS và TLN sẽ được ghi chép lại và chuyển thành các bản ghi để phục vụ cho quá trình phân tích.
- Bước 8: Viết báo cáo và hoàn thiện báo cáo.
Xử lý số liệu
Chúng tôi sẽ tiến hành làm sạch số liệu để giảm thiểu lỗi trong quá trình điều tra và nhập liệu trước khi đưa vào máy tính Việc nhập liệu sẽ được thực hiện bằng phần mềm Epi Data 3.1, trong khi quá trình xử lý và phân tích số liệu sử dụng phần mềm STATA phiên bản 11 Các kết quả phân tích và trình bày số liệu sẽ được căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Thống kê mô tả là công cụ quan trọng để phân tích thực trạng nhân lực và quản lý nhân lực Đối với biến số định tính, chúng ta sử dụng số lượng, tỷ lệ phần trăm, biểu đồ và đồ thị để thể hiện dữ liệu Còn với biến định lượng, các chỉ số như trung bình ± độ lệch chuẩn được áp dụng cho biến có phân phối chuẩn, trong khi đó, giá trị trung vị và khoảng giá trị được sử dụng cho biến không có phân phối chuẩn.
Thống kê suy luận là phương pháp quan trọng để xác định nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực phát triển hệ thống vị trí việc làm Việc áp dụng các bài kiểm tra như Chi2 và test t-student, tùy thuộc vào loại biến số, giúp phân tích công việc và xây dựng bản mô tả công việc hiệu quả theo từng vùng miền.
Số liệu định tính: Phương pháp phân tích số liệu định tính được áp dụng là
Phương pháp phân tích nội dung “Content analysis” Cụ thể là các kết quả cuộc
PVS và TLN được ghi chép lại và tổng hợp theo các bước sau:
- Bước 1: Đầu tiên, nhóm nghiên cứu đọc toàn bộ các bản ghi để hiểu toàn cảnh nội dung thông tin trả lời của đối tượng.
Nghiên cứu viên chính sẽ dựa vào các nội dung đã thu thập để tiến hành so sánh và phân loại, từ đó hình thành và phát triển các mã hóa mở phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là phiên giải và trích dẫn kết quả theo phương pháp “Hiện tượng học” Việc sử dụng các câu trích dẫn điển hình sẽ giúp minh họa rõ ràng cho chủ đề đã xác định, đồng thời đảm bảo phù hợp với các mục tiêu nghiên cứu đề ra.
Đạo đức nghiên cứu
- Tự nguyện: Đối tượng tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi hiểu được mục đích và nội dung nghiên cứu.
Để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu, cán bộ nghiên cứu và người phỏng vấn được lựa chọn phải trung thực và khách quan Ngoài ra, cán bộ nghiên cứu thực địa sẽ được giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm rằng số liệu thu thập được là chính xác và đáng tin cậy.
Bảo mật thông tin cá nhân là ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu, với dữ liệu từ cả nghiên cứu định tính và định lượng được bảo vệ nghiêm ngặt Chỉ có cán bộ nghiên cứu viên chính và trợ lý nghiên cứu mới có quyền truy cập vào số liệu này.
- Không gây hại: Nghiên cứu thu thập thông tin chủ yếu về nhân lực, chính sách và thực trạng nên ít gây hại với đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu này mang lại lợi ích quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, với mục tiêu duy nhất là phục vụ cộng đồng mà không vì bất kỳ lợi ích cá nhân nào khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chính sách hiện hành của chính phủ về nhân lực (trước và sau khi Nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời) ảnh hưởng đến nhân lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS
Bảng 3.1 Danh sách các văn bản pháp luật liên quan đến nhân lực của hệ thống phòng, chống HIV/AIDS
Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành
Phê duyệt chế độ đối với người bị phơi nhiễm HIV hoặc bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
Phê duyệt Quy định sử đổi, bổ sung một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức ngành Y tế
Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
4 Thông tư liên tịch số
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 265/2003/QĐ-TTg ngày 16/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ hỗ trợ đối với những người bị phơi nhiễm HIV hoặc nhiễm HIV/AIDS do tai nạn nghề nghiệp Quyết định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người lao động gặp rủi ro trong quá trình làm việc, đảm bảo họ nhận được sự chăm sóc y tế và hỗ trợ cần thiết Các chế độ hỗ trợ bao gồm khám chữa bệnh, điều trị và các quyền lợi khác liên quan đến sức khỏe và an sinh xã hội.
Quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, viên chức các cơ sở y tế của Nhà nước
6 Thông tư liên tịch số:
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 276/2005/QĐ-TTg ngày 1/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề cho cán bộ, viên chức tại các cơ sở y tế Nhà nước, nhằm nâng cao đời sống và khuyến khích đội ngũ y tế Quyết định này áp dụng cho tất cả cán bộ, viên chức làm việc trong lĩnh vực y tế công, giúp cải thiện chất lượng phục vụ và tạo động lực làm việc cho nhân viên y tế Các cơ sở y tế cần thực hiện đúng các quy định để đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, viên chức theo quy định của pháp luật.
7 Luật số: Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Quốc hội
Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành
29/6/2006 hội chứng suy giảm miễn dịch mặc phải ở người (HIV/AIDS)
8 Thông tư liên tịch số:
Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệm trong các cơ sở y tế nhà nước
Chế độ phụ cấp cho cán bộ, viên chức làm việc tại cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người bán dân và người sau nghiện ma túy được quy định nhằm đảm bảo quyền lợi và động viên tinh thần cho đội ngũ này Việc áp dụng các chính sách phụ cấp phù hợp không chỉ góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ Các quy định này cần được tuân thủ nghiêm ngặt để bảo vệ quyền lợi của những người làm việc trong lĩnh vực nhạy cảm này.
Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế
Quy định về chunhs sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
12 Thông tư liên tịch số
Hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế Bộ Y tế;
Quy định hế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập
Quy định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 8 tháng 5 năm
2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập
Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và
Stt Tên văn bản Nội dung Cơ quan ban hành
Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế
1.1 Chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến định mức biên chế cán bộ y tế trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS
Việt Nam đã cam kết thực hiện mục tiêu BA KHÔNG do Liên Hợp Quốc khởi xướng, với chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 608/2012/QĐ – TTg Chiến lược này được hỗ trợ bởi Chỉ thị số 54-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm tăng cường lãnh đạo trong công tác phòng, chống AIDS Các văn bản chỉ đạo từ Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS Tuy nhiên, các chính sách này chủ yếu mang tính định hướng chiến lược và chưa cụ thể hóa về nhân lực trong lĩnh vực này.
Thông tư liên tịch số 08 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ ban hành năm 2007
Thông tin này hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp tại các cơ sở y tế nhà nước, dựa vào số dân, tuyến chuyên môn kỹ thuật, hạng đơn vị sự nghiệp, nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, và đặc điểm kinh tế xã hội, sinh thái của từng vùng cùng khả năng tài chính Cụ thể, định mức biên chế cho Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, huyện được quy định rõ ràng.
Bảng 3.2: Định mức biên chế đối với TTPC HIV/AIDS Định mức biên chế đối với Trung Tâm y tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Báo cáo khoa học Đơn vị Định mức biên chế (người)
≤ 1 triệu dân >1-1,5 triệu dân >1,5-2 triệu dân >2-4 triệu dân >4 triệu dân
Trung tâm y tế dự phòng
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
25 26-30 31-35 36-45 46-50 Định mức biên chế với trung tâm y tế dự phòng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Trung tâm y tế dự phòng quận huyện có định mức biên chế phụ thuộc vào vùng miền, với vùng sâu, vùng xa và hải đảo được ưu tiên với hệ số cao hơn so với vùng đồng bằng Đối với các tỉnh có cửa khẩu lớn, biên chế được bổ sung thêm 20-25% theo quy định Thông tư liên tịch 08 quy định tỷ lệ cán bộ chuyên môn từ 60-65%, xét nghiệm 20%, và quản lý hành chính từ 15-20% Cụ thể, ở tuyến tỉnh, tỷ lệ bác sĩ chiếm trên 30% và kỹ thuật viên xét nghiệm trên 20%; còn ở tuyến huyện, tỷ lệ bác sĩ trên 20% và kỹ thuật viên xét nghiệm trên 10%.
Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV
Để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong quản lý cán bộ, công chức, viên chức, cần thực hiện đổi mới theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Việc xác định vị trí việc làm được coi là yếu tố then chốt trong quá trình này.
2012, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-BNV hướng dẫn thực hiện nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính Phủ quy
Nghị định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập đã được ban hành, quy định nguyên tắc, căn cứ, phương pháp và thủ tục xác định vị trí việc làm cùng thẩm quyền quản lý Nghị định này hỗ trợ việc thống kê và tổng hợp thông tin về vị trí việc làm, số lượng và cơ cấu viên chức tại cơ sở Nó còn xác định các công việc cụ thể gắn với chức danh và chức vụ, từ đó giúp xác định biên chế và bố trí công viên chức, nâng cao hiệu quả quản lý cán bộ Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng bộ chức danh, tiêu chuẩn, quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời giảm thiểu chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong nội bộ cơ quan, hướng tới tổ chức bộ máy tinh gọn và hiệu quả.
1.2 Chính sách đào tạo nhân lực cán bộ y tế
Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT
Quyết định đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS, bao gồm việc tăng cường đào tạo và đa dạng hóa hình thức đào tạo cho cán bộ Mục tiêu đặt ra là 100% cán bộ y tế trong lĩnh vực này sẽ được tập huấn chuyên môn, đồng thời 100% trường y trên toàn quốc sẽ có chương trình đào tạo về phòng, chống HIV/AIDS Ngoài ra, sẽ thành lập một trung tâm bồi dưỡng cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.
Năm 2009, trước thách thức về nguồn lực, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1107 nhằm giải quyết vấn đề đào tạo và tập huấn cho 100% cán bộ, nhân viên tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS tuyến tỉnh Kế hoạch đào tạo được xây dựng cho đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ trung cấp và cao đẳng, thông qua hình thức cử tuyển và chuyên tu Quyết định này cũng đề xuất tập trung đào tạo bác sĩ chuyên khoa I, II, thạc sĩ và tiến sĩ cho đội ngũ cán bộ phòng, chống HIV/AIDS, đồng thời phối hợp với các trường và viện trung ương để tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn ngắn hạn theo chuyên môn kỹ thuật.
Báo cáo khoa học và chương trình đào tạo chuyên sâu kỹ thuật cho cán bộ chỉ đạo tuyến tại 7 trung tâm vùng và 2 trung tâm đặc biệt về kỹ thuật chẩn đoán sớm, sinh học phân tử đã được thực hiện Kinh phí cho việc đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh được đảm bảo từ ngân sách địa phương, với sự hỗ trợ từ ngân sách trung ương thông qua dự án phòng, chống HIV/AIDS thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006-2010.
Thông tư 06 và thông tư 07 của Bộ Y tế
Thông tư 06 cho phép cán bộ y tế có bằng trung cấp, cao đẳng y tế học liên thông lên cấp độ cao hơn thông qua hình thức vừa học vừa làm, với chương trình đào tạo tập trung kéo dài 4 năm theo quy định của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngoài ra, thông tư cũng quy định việc đào tạo hợp đồng theo địa chỉ, nhằm hỗ trợ cán bộ y tế làm việc tại các vùng khó khăn, nông thôn hoặc tuyến xã.
Thông tư 07 quy định về công tác đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, bao gồm việc cập nhật kiến thức và thái độ chuyên môn Cán bộ y tế phải tham gia ít nhất 24 giờ đào tạo thực hành mỗi năm, và trong 5 năm, họ cần tích lũy tối thiểu 120 giờ đào tạo liên tục trong lĩnh vực chuyên môn của mình.
Bộ Y tế đã ủy quyền cho các viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp y dược thực hiện việc thẩm định và phê duyệt các chương trình cũng như tài liệu đào tạo liên tục Kinh phí cho việc đào tạo này được hỗ trợ từ học viên, ngân sách nhà nước, và các cơ sở y tế tự bố trí, cùng với nguồn thu khác.
Thông tư số 22 của Bộ y tế năm 2013
Vào năm 2013, Bộ Y tế (BYT) đã ban hành Thông tư số 22, thay thế Thông tư 07, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Thông tư này cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc xây dựng và thẩm định chương trình đào tạo cũng như tài liệu liên quan, góp phần cải thiện hiệu quả đào tạo trong ngành y tế.
1.3 Chính sách về chế độ đãi ngộ
Mô tả thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS sau khi nghị định 41/2012/NĐ-CP ra đời
2.1 Cơ sở phát triển đề án vị trí việc làm và bản mô tả công việc của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
Kể từ năm 2007, định mức biên chế cho các đơn vị y tế, đặc biệt là trong hệ thống HIV/AIDS, được xác định theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV và các điều kiện về nguồn lực tài chính như ngân sách tỉnh Ngoài ra, biên chế của các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS còn dựa trên quyết định 25 quy định chức năng và nhiệm vụ của các trung tâm này.
Đến cuối năm 2012, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và thông tư 14/2012/TT-BNV đã được ban hành, hướng dẫn xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp cho từng đơn vị Cơ cấu này dựa trên định mức biên chế và các chức danh như bác sỹ khám chữa bệnh, bác sỹ y học dự phòng, điều dưỡng Chẳng hạn, một trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh cần xác định tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ bệnh nhân tới khám để từ đó xác định số lượng bác sỹ và cử nhân cần thiết cho các vị trí việc làm.
Nhân lực cho hệ thống phòng, chống HIV/AIDS được tuyển dụng theo Quyết định số 25/2005/QĐ-BYT và định mức của TTLT số 08/2007/TTLT-BYT-BNV Nhân viên dịch vụ như bảo vệ và lao công được tuyển dụng qua hợp đồng tự chi trả Đối với cán bộ hợp đồng từ dự án, trung tâm không có quyền quyết định Tuyển dụng cán bộ biên chế do Sở Y tế quyết định, trong khi trung tâm chỉ lập kế hoạch về số lượng và chuyên môn nhân viên cần thiết.
Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS không có quyền tự thực hiện tuyển dụng hay ký hợp đồng nhân sự, mà phải tiếp nhận nhân sự theo phân bổ từ Sở Y tế.
Sở Y tế chủ yếu thực hiện việc đăng báo tuyển dụng cán bộ, trong khi các đơn vị khác phụ thuộc vào Sở Nội Vụ và Sở Y tế, dẫn đến việc họ không có nhiều quyền hạn trong tuyển dụng nhân viên Điều này tạo ra bất cập khi các trung tâm chưa thực sự chủ động trong quá trình tuyển dụng.
Sở Y tế và Sở Nội vụ thường yêu cầu các trung tâm phải tuân thủ quyết định về nhân sự, ví dụ như khi trung tâm đề nghị bổ sung một cán bộ có trình độ bác sĩ nhưng chỉ được chấp nhận bổ sung một cử nhân điều dưỡng.
2.2 Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-
Bảng 3.3: Tình hình triển khai Nghị định 41/2012/NĐ-CP và Thông tư 14/2012/TT-
Các đặc điểm Chung Miền Bắc Miền Trung Miền Nam
Nghe hoặc biết về Nghi định 41
Mức độ thực hiện Nghị định 41
Chưa triển khai Đang triển khai 1 phần Đã hoàn thành
Thông báo/chỉ đạo bộ phận triển khai để án N1
Rà soát vị trí việc làm N'
Phân tích công việc hoặc vị trí công việc N'
Viết bản mô tả công việc N'
Thống nhất bản mô tả công việc N&
Viết đề án vị trí việc làm N'
Trình đề án việc làm tới cơ quan chức năng
Bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ đơn vị có nghe hoặc biết về Nghi định 41/2012/ NĐ-
Tỷ lệ CP ở ba khu vực đạt 97,3%, trong đó miền Trung và miền Nam đạt 100% Mức độ triển khai hiện tại cũng rất cao, chiếm 82,86%.
Theo báo cáo, tỷ lệ hoàn thiện báo cáo khoa học theo nghị định 41/2012 và thông tư 14/2013 chỉ đạt 14,29% Tại miền Bắc, chỉ có một trung tâm phòng, chống HIV/AIDS chưa triển khai nghị định, trong khi miền Nam là khu vực thực hiện tốt nhất với tỷ lệ 91,67% Đáng lưu ý, không có sự khác biệt về mức độ thực hiện nghị định giữa các vùng miền.
Trong số các trung tâm phòng, chống HIV/AIDS thực hiện Nghị định 41/2012/NĐ-CP, tỷ lệ thông báo và chỉ đạo triển khai đề án chiếm cao ở cả ba miền, không có sự khác biệt giữa các vùng Mặc dù khoảng 2/3 các trung tâm đã trình đề án việc làm lên cơ quan chức năng, nhưng thực tế cho thấy nhiều trung tâm chưa thực hiện đúng cách theo hướng dẫn của Thông tư 14/2013 về phát triển đề án vị trí việc làm.
2.3 Mức độ thực hiện của các hệ thống phòng, chống HIV/AIDS địa phương Định mức nhân lực được quy định cụ thể với từng cấp Tại tuyến Trung ương,
Vụ Tổ chức cán bộ và Bộ Nội Vụ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định định mức nhân lực và quy trình tuyển dụng Tại cấp tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Y tế và Sở Tài chính sẽ trình các đề án lên Hội đồng nhân dân tỉnh để được xem xét và phê duyệt.
Mặc dù Nghị định 41/2012/NĐ-CP đã được ban hành, hầu hết các đơn vị vẫn dựa vào Thông tư 08 để xác định vị trí việc làm Theo Thông tư 08, nhiều trung tâm HIV/AIDS tại tỉnh vẫn thiếu nhân viên so với định mức quy định Việc thiếu hụt nhân lực này ảnh hưởng đến khả năng hoạt động hiệu quả của các trung tâm.
Nhiều tỉnh đang gặp khó khăn trong việc cân bằng cơ cấu nhân viên y tế, với một số nơi thiếu bác sĩ trong khi những nơi khác lại tuyển dụng quá nhiều nhân viên không phải bác sĩ, dẫn đến tình trạng chất lượng không đảm bảo Đến cuối năm 2013, hầu hết các đơn vị đã xây dựng đề án vị trí việc làm, nhưng việc xác định số lượng nhân viên cần thiết vẫn còn nhiều thách thức do nhiều nguyên nhân khác nhau.
- Một số vị trí làm việc không phải là vị trí toàn thời gian, nhiều cán bộ chưa thực sự hiểu rõ công việc của họ.
- Việc phân công chuyên môn tại các khoa phòng chưa hợp lý.
Hiện nay, nhiều đơn vị đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên môn cao và bằng cấp phù hợp, trong khi lại thừa nhân lực có bằng trung cấp và chuyên ngành không liên quan đến dự phòng và HIV/AIDS Điều này dẫn đến sự bất cập trong việc sắp xếp nhân viên ở các khoa phòng.
Triển khai đề án theo Nghị định 41 hiện đang gặp khó khăn, khi chỉ dừng lại ở việc tổng hợp vị trí công việc của từng cá nhân và từng khoa phòng để trình lên cấp trên.
Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trị việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS năm 2013
3.1 Khó khăn cản trở trong việc thực hiện Nghị định 41/2012/NĐ-CP
Kết quả từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cán bộ chỉ ra nhiều khó khăn trong việc triển khai Nghị định 41 và Thông tư 14 Bài viết này sẽ phân tích cụ thể các nội dung chính theo quy định của Thông tư 14 cùng với những thách thức trong quá trình thực hiện.
Xác định vị trí việc làm và tổng hợp thành danh mục vị trí việc làm
Nhiều đơn vị vẫn chưa được đào tạo đầy đủ về Nghị định 41 và cách triển khai nó Trong quá trình xây dựng vị trí việc làm và mô tả công việc, nhân viên thường gặp khó khăn trong việc liệt kê đầy đủ các nhiệm vụ của mình, dẫn đến việc mô tả không chính xác.
Trong quá trình triển khai báo cáo khoa học công việc, các cán bộ thường gặp khó khăn trong việc xác định vị trí và tên chức danh do tình trạng kiêm nhiệm của nhiều cán bộ quản lý Tại nhiều đơn vị, như trưởng khoa kiêm giám đốc hoặc một cán bộ đảm nhận công việc của nhiều khoa, việc xác định vị trí việc làm trở nên phức tạp Do đó, cần có sự thống nhất trong việc xác định chức danh vị trí việc làm, đặc biệt là những vị trí thực tế không quy về các chức danh theo luật, và cần có chỉ đạo hướng dẫn từ các đơn vị cấp trên, chẳng hạn như Cục HIV/AIDS.
Trung tâm HIV có nhiều nhân viên làm việc tại khoa này, nhưng họ cũng đảm nhận nhiệm vụ của các khoa khác, khiến việc mô tả công việc cho một khoa trở nên khó khăn Do đó, việc xác định vị trí công việc này thuộc về khoa nào là một câu hỏi cần được xem xét kỹ lưỡng.
Khi phân tích công việc, cán bộ các khoa phòng gặp khó khăn trong việc liệt kê cụ thể công việc do thiếu hiểu biết về nhiệm vụ của mình Các khoa phòng cũng chưa nắm rõ công việc của cán bộ, dẫn đến việc đo lường và tính toán khối lượng công việc trở nên phức tạp Một nguyên nhân cơ bản khác là kỹ năng quản lý nhân lực của các cán bộ trưởng phó phòng còn hạn chế.
Khi phân tích công việc, nhiều người thường lo lắng về khả năng bị sa thải, do đó họ có xu hướng liệt kê tất cả các công việc mà mình đã thực hiện, kể cả những công việc không thường xuyên, nhằm tạo ấn tượng tốt với lãnh đạo và tránh bị loại bỏ.
Xây dựng khung năng lực cho từng vị trí việc làm là cần thiết, nhưng hiện tại, nhiều lãnh đạo và cán bộ chưa hiểu rõ khái niệm này cũng như yêu cầu năng lực cho công việc của họ Việc thiếu tiêu chuẩn quy định năng lực cho từng vị trí gây khó khăn trong việc thiết lập một khung năng lực thống nhất.
“Đôi khi làm cũng khó định nghĩa thế nào là thành thạo, thế nào là chưa thành thạo”, (Thảo luận nhóm_TT PC HIV/AIDS_Cần Thơ).
Viết Bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm
Viết bản mô tả công việc là một thách thức lớn đối với nhiều cán bộ, họ thường bày tỏ sự bối rối về cách viết sao cho đúng và đủ Nhiều người cho rằng do công việc được phân công bởi lãnh đạo, nên họ không rõ cần ghi những gì trong mô tả.
3.2 Tác động, ảnh hưởng của Nghị định 41/2012/NĐ-CP
Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm cho thấy Nghị định 41 đã bắt đầu ảnh hưởng đến hệ thống nhân lực HIV/AIDS Một số đơn vị đã hoàn thiện Đề án vị trí việc làm và gửi lên Sở Y tế để chờ phê duyệt từ Sở Nội Vụ, trong khi một số đơn vị khác vẫn chưa nắm rõ nội dung của Nghị định 41 Hiện tại, các đơn vị vẫn dựa vào quyết định 25 và thông tư 08 để xác định số lượng nhân viên, mặc dù họ đang trong quá trình xây dựng đề án theo Nghị định 41.
Trung tâm đã hoàn thành việc xây dựng đề án theo hướng dẫn của Nghị định 41 và đã gửi hồ sơ đến Sở Y tế và Sở Nội Vụ, hiện đang chờ phê duyệt.
Hệ thống phòng chống HIV/AIDS tại tỉnh vẫn đang được quản lý nhân lực theo Quyết định số 25 của Bộ Y tế Tuy nhiên, trung tâm vẫn chưa thực hiện Nghị định số 41.
Nghị định 41 nhấn mạnh vai trò quan trọng của người đứng đầu đơn vị y tế trong việc lập kế hoạch và tuyển dụng nhân sự Theo nghị định này, các cơ sở y tế cần chủ động xây dựng và bảo vệ kế hoạch nhân lực, đảm bảo số lượng và chất lượng cán bộ phù hợp với nhu cầu của đơn vị Đồng thời, việc xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp chi tiết cho từng khoa, phòng yêu cầu các cán bộ quản lý phải tích cực tham gia rà soát nhân lực Nhờ đó, công tác quản lý nhân lực trong các đơn vị sẽ trở nên hiệu quả hơn.
Xây dựng đề án vị trí việc làm là khẳng định vai trò quan trọng của người đứng đầu trong việc xác định và phát triển các vị trí công việc dựa trên quy mô, chức năng nhiệm vụ và nhu cầu của đơn vị Điều này đồng nghĩa với việc tạo ra cơ cấu chức danh nghề nghiệp hợp lý và hiệu quả.
(Phỏng vấn sâu Phó Vụ trưởng Vụ TCCB BYT)
Sau khi thực hiện Nghị định 41 về vị trí việc làm, cán bộ và nhân viên trong từng đơn vị sẽ hiểu rõ hơn về công việc cá nhân và tập thể Trách nhiệm và nhiệm vụ sẽ được quy định rõ ràng trong Bản mô tả công việc, giúp cá nhân có định hướng thực hiện công việc tốt hơn Đồng thời, điều này cũng cải thiện quá trình đánh giá và phản hồi về hiệu suất công việc, đảm bảo tính cụ thể và chính xác.
Mặc dù Nghị định 41 vẫn chưa chính thức có hiệu lực do chờ phê duyệt từ Sở Nội Vụ, nhưng việc triển khai nghị định này sẽ giúp lãnh đạo các đơn vị rà soát lại thực trạng nhân lực Điều này tạo điều kiện cho việc định hướng phát triển đào tạo, tuyển dụng và cân đối cơ cấu nhân lực trong đơn vị.
BÀN LUẬN
Mẫu nghiên cứu
Tỉ lệ giới trong mẫu nghiên cứu cho cả ba miền ở Việt Nam khá đồng đều giữa nam và nữ, phản ánh đúng tỉ lệ giới trong dân số quốc gia Mẫu nghiên cứu này đại diện cho quần thể dân cư Việt Nam về khía cạnh giới Tuy nhiên, khi xem xét tỉ lệ giới trong ngành y tế, mẫu này chưa hoàn toàn đại diện, do sự thiếu hụt giới nữ trong lĩnh vực này.
Y tế luôn chiểm tỉ lệ cao hơn , do đó có thể mẫu ở đây chưa hẳn đại diện cho tất cả cán bộ trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS
Nghiên cứu đã tập trung vào các đối tượng chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến nhân lực trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS, bao gồm Vụ Tổ chức Cán bộ thuộc Bộ Y tế, lãnh đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Ban Giám đốc của PAC, cùng với người phụ trách công tác cán bộ của PAC.
Sở Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nội vụ tỉnh đã phối hợp để đảm bảo kết quả nghiên cứu có giá trị và độ tin cậy cao, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu có tuổi đời trung bình là 51, cho thấy sự chín chắn và kinh nghiệm đáng kể Thời gian công tác trung bình trong lĩnh vực nhân lực và phòng, chống HIV/AIDS là 10 năm, cùng với 9 năm kinh nghiệm quản lý, điều này đảm bảo rằng họ có nhận thức sâu sắc về công việc Mẫu nghiên cứu bao gồm cả cán bộ trong lĩnh vực dự phòng và lâm sàng (điều trị ngoại trú cho bệnh nhân nhiễm HIV - OPC), cho phép đại diện cho hai lĩnh vực chính trong công tác phòng chống HIV/AIDS, từ đó cung cấp thông tin có giá trị và sát thực cho nghiên cứu.
Mẫu nghiên cứu được thiết kế theo các tuyến từ trung ương đến địa phương, mang lại cái nhìn toàn diện về nhân lực và tính hệ thống của vấn đề Điều này không chỉ cho phép thực hiện các nghiên cứu định tính logic mà còn giúp phân tích các nguyên nhân sâu xa và toàn diện, từ đó đề xuất những giải pháp thực tiễn phù hợp với điều kiện của từng đối tác và từng tuyến.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích với tiêu chí cụ thể, giúp đại diện cho 5 khía cạnh quan trọng: các vùng/miền, các tuyến trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS (Trung ương, tỉnh), tổ chức (các khoa/phòng của các TTPC HIV/AIDS), lĩnh vực dự phòng và điều trị, cùng với vấn đề nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận với các cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cùng nhiều nguồn thông tin đối chiếu như PVS, TLN, và tài liệu tổng quan Kết quả mang lại thông tin và số liệu đáng tin cậy, giúp đánh giá thực trạng nhân lực trong hệ thống phòng chống HIV/AIDS và phân tích nguyên nhân, từ đó đề xuất cải thiện nhân lực tại các miền vùng và toàn quốc.
Chính sách liên quan đến nhân lực
Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một chính sách nhân lực về phòng chống HIV/AIDS toàn diện và nhất quán, bao gồm cả cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, cũng như chế độ đãi ngộ Điều này được thể hiện qua các văn bản quan trọng như Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS qua các giai đoạn khác nhau, cùng với nhiều quyết định và chỉ thị hướng dẫn, trong đó có chỉ thị số 54 CT-.
Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT và quyết định số 608/QĐ-TTg đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể để phát triển và duy trì nguồn nhân lực phòng chống HIV/AIDS Những định hướng này đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo sự phát triển nhân lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, không chỉ trong quá khứ mà còn trong tương lai Mặc dù không cụ thể hóa về nhân lực, nhưng các định hướng này mang lại sức mạnh pháp lý và sự lãnh đạo từ Đảng và Nhà nước, yêu cầu các văn bản triển khai phải tuân theo những chỉ đạo lớn này.
Thông tư liên tịch số 08/2007 quy định biên chế cán bộ cho Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh và Trung tâm y tế dự phòng tại huyện dựa trên số dân Tuy nhiên, quy định này không phản ánh thực tế và không phù hợp với tình hình tại nhiều địa phương Nhiều tỉnh, huyện có dân số thấp nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc bố trí biên chế hợp lý.
Báo cáo khoa học cho thấy sự phân bố dịch HIV không đồng đều, với một số khu vực có tỷ lệ nhiễm cao trong khi những tỉnh, huyện đông dân hơn lại ghi nhận ít ca nhiễm Điều này phản ánh sự bất cập trong quy định biên chế theo Thông tư hiện hành.
Mức biên chế cứng nhắc theo Thông tư 08 đã gây khó khăn cho các cơ sở công lập trong việc tự chủ nhân lực, đặc biệt tại tuyến huyện/quận Mặc dù đã có quy định thành lập khoa Kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS thuộc Trung tâm y tế dự phòng huyện/quận, nhưng việc lồng ghép với kiểm soát dịch bệnh vẫn cần được đảm bảo hợp lý Tuy nhiên, quy định về số lượng biên chế cán bộ theo dân số huyện/quận vẫn chưa hợp lý, khi hai huyện có dân số tương đương nhưng mức độ dịch bệnh khác nhau lại không được điều chỉnh biên chế Hơn nữa, tại tuyến huyện chưa có quy định về chất lượng cán bộ như ở tuyến tỉnh, dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng cán bộ trong công tác tuyển dụng và đào tạo.
Tại tuyến xã, các quy định về phòng chống HIV/AIDS còn mờ nhạt hơn so với tuyến huyện, với hầu như không có văn bản pháp lý cụ thể cho trạm y tế xã phường Luật phòng chống HIV/AIDS chỉ rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường trong việc tổ chức tuyên truyền và các hoạt động phòng chống HIV/AIDS, cũng như chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại địa phương Thêm vào đó, Quyết định số 4994/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 14/12/2012 đã hướng dẫn việc tổ chức hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại tuyến xã phường, yêu cầu thành lập Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS với sự tham gia của nhiều thành phần.
Báo cáo khoa học chỉ ra rằng các trạm y tế xã, phường và công an, do UBND xã chủ trì, tham gia vào công tác phòng chống HIV/AIDS Quyết định này được ban hành muộn vào cuối năm 2012 và thiếu quy định rõ ràng về số lượng và chất lượng cán bộ trong lĩnh vực này Điều này dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý và khoa học cho việc phát triển và nâng cấp cán bộ ở tuyến xã, phường Các văn bản của Đảng, Quốc hội và Nhà nước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện nguồn nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS.
Bộ Y tế nhấn mạnh tính chất xã hội hóa trong công tác phòng chống HIV/AIDS, với Đảng ủy các cấp đóng vai trò lãnh đạo, UBND các cấp chủ trì thực hiện Ngành Y tế giữ vai trò tham mưu quan trọng, cùng với sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và toàn thể nhân dân Công tác phòng chống HIV/AIDS trở thành nhiệm vụ chung của tất cả tổ chức và cá nhân trong xã hội Nhờ vào chính sách xã hội hóa, nguồn nhân lực và vật lực cho công tác này đã được tăng cường đáng kể, giúp đạt được kết quả khả quan trong những năm qua.
Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2012 và Thông tư số 14/2012, quy định về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập, giúp xác định số lượng và chất lượng cán bộ cho mỗi vị trí Điều này không chỉ tạo ra cơ sở khoa học cho việc quản lý nhân lực mà còn xác định được đầu ra và nhu cầu đào tạo cho nhân lực, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý Tuy nhiên, thực tế thực hiện tại nhiều địa phương vẫn cho thấy những thách thức trong việc áp dụng chính sách này.
Vị trí việc làm hiện đang gặp nhiều bất cập do một số khái niệm như “Khung năng lực” và “Sản phẩm đầu ra” chưa được định nghĩa rõ ràng, dẫn đến sự hiểu khác nhau và thực hiện không thống nhất ở các địa phương Nhiều biểu mẫu phức tạp trong khi năng lực thực hiện của cán bộ tổ chức tại nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu Đặc biệt, các đơn vị công lập không còn cơ sở pháp lý để tinh giản biên chế, thu gọn bộ máy tổ chức, và tăng cường thuê khoán, hợp đồng, dẫn đến việc số lượng biên chế tại các cơ sở công lập vẫn tăng lên, trong khi Bộ Nội vụ vẫn chủ trương không tăng biên chế nhà nước cho các cơ sở công.
Báo cáo khoa học cho thấy sự hoài nghi về tính sát thực và khả năng thực thi của Nghị định, khi mới chỉ một năm triển khai mà kết quả chưa rõ rệt Hiện tại, chưa có tổng kết cụ thể để đánh giá đầy đủ ưu điểm và bất cập của Nghị định, và việc đánh giá cần ít nhất 3-5 năm sau khi áp dụng Mặc dù nhiều đơn vị trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS đã hoàn thành đề án, nhưng vẫn chưa có đơn vị nào được phê duyệt chính thức để triển khai Tương lai, nếu đề án được phê duyệt ở một số tỉnh, việc áp dụng thực tế tại các đơn vị vẫn là một vấn đề cần được xem xét.
Thực trạng thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
Nghị định 41 được ban hành nhằm xây dựng cơ cấu chức danh nghề nghiệp và cho phép các đơn vị xác định vị trí công việc dựa trên quy mô, nhu cầu và chức năng nhiệm vụ của mình Nghị định này nhấn mạnh vai trò quan trọng của người đứng đầu trong việc phát triển vị trí việc làm Điểm khác biệt chính giữa Nghị định 41 và Thông tư 08 là Nghị định 41 cho phép các đơn vị tự xây dựng các vị trí theo nhu cầu, trong khi Thông tư 08 quy định theo cơ cấu nhân viên Nghiên cứu định tính cho thấy Nghị định 41 hỗ trợ các đơn vị xác định số lượng nhân lực cần thiết, từ đó so sánh với số lượng hiện có để đưa ra quyết định hợp lý.
Trong quá trình triển khai Nghị định 41, Bộ Y tế và Cục phòng chống HIV/AIDS đã xây dựng văn bản định hướng cho cơ cấu chức danh nghề nghiệp và tổ chức đào tạo cho lãnh đạo các đơn vị nhằm nâng cao quản lý đào tạo giám đốc trung tâm Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chỉ ở giai đoạn đầu và chưa có triển khai cụ thể tại địa phương về xây dựng đề án vị trí việc làm Định hướng của Cục trong thời gian tới là tổ chức trao đổi về đề án mẫu giữa các nhà quản lý, cử chuyên viên xuống cơ sở để tư vấn và hỗ trợ thực hiện nghị định, đồng thời kiểm tra giám sát việc thực hiện.
Trong bối cảnh cắt giảm viện trợ từ các nhà tài trợ quốc tế, BYT/VAAC đã đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho cán bộ dự án sau khi kết thúc Tại cấp tỉnh, Giám đốc Sở Y tế sẽ căn cứ vào Nghị định 41 và tình hình dịch bệnh, số lượng bệnh nhân cũng như nhu cầu thực tế để thành lập khoa phòng chống HIV/AIDS hoặc tích hợp với các khoa phòng khác cho phù hợp.
Nghị định 41 và Thông tư 14 đã tạo điều kiện cho các lãnh đạo đơn vị chủ động trong lập kế hoạch, tuyển dụng và bố trí nhân lực, đặc biệt trong việc chuyển giao nhân lực từ dự án về hệ thống phòng chống HIV/AIDS Tuy nhiên, các đơn vị y tế vẫn đang dựa vào Thông tư 08 và Quyết định 25 để lập kế hoạch nhân lực Việc triển khai Nghị định 41 đòi hỏi sự hỗ trợ lớn từ các cấp quản lý về thủ tục và kinh phí, nhưng Nghị định này chưa cung cấp cơ chế giải quyết tình trạng thiếu hoặc thừa nhân lực Biên chế nhân lực phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, vì UBND tỉnh cấp kinh phí cho các đơn vị Do đó, vai trò của Sở Y tế và UBND tỉnh rất quan trọng trong việc phê duyệt biên chế và hỗ trợ thực hiện đề án vị trí việc làm, nhưng cả Nghị định 41 và Thông tư 14 chưa đề cập đến vai trò này, khiến nhiều đơn vị vẫn chờ đợi hướng dẫn từ các ban ngành.
Y tế về vấn đề này.
4 Một số yếu tố liên quan đến thực hiện đề án vị trí việc làm tại các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
Việc xây dựng đề án vị trí việc làm tại các đơn vị đang gặp khó khăn do nhiều cán bộ chưa hiểu rõ quy trình mô tả công việc Tuy nhiên, kinh nghiệm từ dự án GIZ năm 2013 tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đà Nẵng cho thấy, nếu cán bộ được tập huấn về tầm quan trọng và quy trình phân tích công việc, việc xây dựng bản mô tả cho nhân viên hành chính sẽ khả thi Ngoài ra, bộ chỉ số WISN có thể giúp mô tả và lượng hóa khối lượng công việc cho các cán bộ cung cấp dịch vụ tư vấn và điều trị.
Trình tự và thủ tục xây dựng, thẩm định đề án tại trung tâm hiện vẫn gặp khó khăn do hướng dẫn kỹ thuật chưa rõ ràng Mặc dù quá trình thẩm định tại các cơ sở chức năng như Sở Y tế và Sở Nội vụ có thể thuận lợi hơn nhờ có văn bản chỉ đạo từ cấp trên, nhưng để đề án được phê duyệt chính thức và áp dụng thực tế, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.