1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang

82 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Tác giả Vũ Đăng Cang
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạt được những thành tựu trên là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới cơ chế chính sách cùng các giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ ĐĂNG CANG

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA LAI MỚI CHỌN TẠO VÀ NHẬP

NỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành : Khoa học trồng trọt

Mã số : 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị hóa gia tăng (Beachel, HM 1972) [18] Để tăng sản lượng trong điều kiện diện tích sản xuất lúa không tăng, cần phải tập trung thâm canh trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và sử dụng giống có tiềm năng cho năng suất cao đặc biệt là các giống lúa lai

Trong những năm trước đổi mới, nước ta là quốc gia triền miên thiếu lương thực Từ khi đổi mới đến nay, nông nghiệp nước ta đã khởi sắc nhờ có đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước Từ năm 1989, chúng ta đã giải quyết được vấn đề lương thực, thỏa mãn nhu cầu trong nước và tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo thế giới (FAO, 2004; Bộ NN & PTNT, 1998) [3], [15] Đến nay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (trên 6 triệu tấn/năm) Đạt được những thành tựu trên là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới cơ chế chính sách cùng các giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (giao thông, thủy lợi, điện, phân bón …), áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và đặc biệt là sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành tựu chung trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta thời gian qua

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng, giống là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là yếu tố nền tảng quyết định làm tăng năng suất

Trang 3

cây trồng Cùng với các biện pháp thâm canh hợp lý, giống tốt sẽ góp phần làm tăng năng suất, tăng sản lượng và tăng hiệu quả cho người sản xuất Những giống lúa truyền thống từ lâu đời dần trở lên thoái hóa về năng suất cần được thay thế bằng những giống lúa lai mới ưu việt về năng suất, chất lượng cao, chống chịu tốt và thích hợp với nhiều loại vùng sinh thái …

Trên thế giới, từ những năm thuộc thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học, đặc biệt là Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu khai thác ưu thế lai ở cây lúa và đã thành công rực rỡ Các giống lúa lai tạo ra có ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng và đặc biệt cho năng suất cao hơn lúa thuần từ 15-20% (Hoàng Tuyết Minh, 2002) [11]

Tại Việt Nam, từ đầu những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã bắt đầu sản xuất lúa lai Nhờ ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng và cho năng suất cao mà diện tích lúa lai ngày càng được mở rộng Những năm đầu diện tích còn khiêm tốn chỉ từ vài trăm đến vài ngàn ha nay diện tích đã tăng và ổn định với số lượng lớn khoảng trên 600.000 ha (Bộ NN & PTNT, 2011) [4], góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh lương thực trong nước và để Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới với lượng xuất từ 6-7 triệu tấn gạo/năm

Về bộ giống lúa lai (Trương Đích, 2005) [12] ban đầu còn hạn chế chủ yếu là các giống lúa lai 3 dòng của Trung Quốc như Shan ưu 63, Shan ưu quế

99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bắc ưu 64, Bắc ưu 903 … tuy có khả năng sinh trưởng tốt và cho năng suất cao nhưng có hạn chế về chất lượng gạo và khả năng chống chịu sâu bệnh đặc biệt là bệnh bạc lá Theo thời gian cùng với sự phát triển chung của khoa học kỹ thuật, hàng loạt giống lúa lai mới ra đời vừa

có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn đồng thời chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh ngày càng được nâng lên,

có nhiều giống cho việc lựa chọn cho nhiều vùng sinh thái khác nhau như: lúa lai 3 dòng Đại Dương 1, Thục Hưng 6, Dưu 527, Phú ưu 1, Phú ưu 4, Qưu 1,

Trang 4

Hoa ưu số 2, LS 1, … (của Trung Quốc), Bio 404, Bte1 (của Ấn Độ), HYT

100, HYT 103 …(của Việt Nam); các giống lúa lai 2 dòng như Bồi tạp Sơn Thanh, Bồi tạp 49 (của Trung Quốc), Việt Lai 20, Việt Lai 24, Việt Lai 50, TH3-3, TH3-4, LC212, LC25 … (của Việt Nam)

Hiện nay công tác nghiên cứu lai tạo giống lúa lai vẫn đang tiếp tục phát triển Trung Quốc đang tích cực chuẩn bị cho ra đời thế hệ siêu lúa lai với năng suất từ 20-30 tấn/ha/vụ, các giống lúa lai có chất lượng tốt Các trường Đại học, các Viện nghiên cứu trong nước, Công ty Cổ phần giống cây trồng miền Nam, một số địa phương cũng đang tích cực lai tạo chuẩn bị cho ra đời nhiều giống lúa lai tốt nhằm đáp ứng cho yêu cầu ngày càng cao của sản xuất Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chủ trương tiếp tục phát triển mở rộng diện tích lúa lai đồng thời nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai mới có khả năng cạnh tranh với các tổ hợp lúa lai có nguồn gốc Trung Quốc Mỗi giống lúa đều có đặc điểm sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất, chất lượng … và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái nhất định

Do đó để xác định được một giống tốt cho vùng sinh thái phù hợp là việc làm hết sức cần thiết và đòi hỏi phải có thời gian

Tuyên Quang là một tỉnh miền Núi nằm ở vùng Đông Bắc của Việt Nam

có nền kinh tế vẫn dựa vào sự phát triển nông lâm nghiệp là chính Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 5.860 km2, trong đó diện tích lúa hàng năm khoảng 45.000 ha Dân số năm 2008, theo số liệu thống kê của tỉnh là 744.952 người, gồm 22 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong khoảng chục năm trở lại đến nay, năng suất sản lượng lương thực của tỉnh liên tục tăng trưởng ổn định (năm 2010 đạt 32,54 vạn tấn, năm 2011 đạt 32,69 vạn tấn) góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế chung của tỉnh Đạt được kết quả trên có phần đóng góp quan trọng của việc đưa nhiều giống lúa lai có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất

Trang 5

Tuy nhiên trước sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, nhiều giống lúa lai mới có năng suất chất lượng cao hơn liên tục ra đời đòi hỏi

cơ cấu giống lúa cũng phải thường xuyên thay đổi theo Từ thực tế nêu trên,

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và

năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Đánh giá và lựa chọn ra được giống lúa lai có khả năng thích ứng, cho

năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh tốt để giới thiệu vào cơ cấu giống lúa tại tỉnh Tuyên Quang

- Các phát hiện của đề tài sẽ là những cơ sở khoa học cho các nghiên cứu

về đánh giá, so sánh và trình diễn giống lúa tiếp theo ở tỉnh Tuyên Quang

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần bổ sung thêm các giống lúa lai mới vào tập đoàn giống lúa lai

có năng suất, chất lượng cao, khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái môi trường, góp phần chuyển đổi cơ cấu giống, thời vụ và cây trồng tại Tỉnh Tuyên Quang

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

“Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” đó là câu nói mà ông cha ta đã đúc rút

để khẳng định vai trò quan trọng của giống cây trồng Trong ngành trồng trọt thì giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng và là nền tảng trong việc làm tăng năng suất, tăng sản lượng và tăng hiệu quả sản xuất (Vũ Đình Hòa, 2005; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) [9], [10]

Đặc tính của giống, yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng suất, chất lượng cây trồng Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Những giống được so sánh qua một loạt môi trường khác nhau thì biểu hiện cho năng suất thường khác nhau Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống

Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng trong sản xuất chưa bao giờ đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất, hầu hết các nước trên thế giới đều nghiên cứu giống Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về chọn tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như thời gian sinh trưởng, năng suất, tính chống chịu sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu kỳ, thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau …

Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ yếu tố di truyền của giống đó, chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của từng vùng khí hậu đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại tốt, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Muốn phát huy hết tiềm năng của một giống tốt phải sử dụng chúng một cách hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế xã hội vùng đó

Trang 7

Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái mỗi vùng khác nhau Do đó việc xác định được một giống tốt cho một vùng sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi phải có thời gian Bởi vậy việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau Mục đích là để đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng thích ứng với các điều kiện bất thuận, khả năng cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó

Giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất Một giống lúa tốt cần thỏa mãn một số yêu cầu sau:

- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác của địa phương

- Cho năng suất cao và ổn định qua các năm khác nhau trong biến động của thời tiết,

- Có tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận

- Có chất lượng đáp ứng được yêu cầu sử dụng

Tất cả các giống lúa (trong đó có lúa lai) trước khi đưa ra khuyến cáo sản xuất đại trà cần phải qua khảo nghiệm khu vực hóa

1.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai

1.2.1 Trên thế giới

Hiện tượng ưu thế lai được các nhà khoa học phát hiện khá sớm trên các giống cây trồng và vật nuôi (Beall,1878; Shull, 1904) Người ta đã khai thác hiệu ứng ưu thế lai, tạo ra các giống cây trồng cao sản như ngô lai, bắp cải, hành tây, cà chua …, các giống vật nuôi lớn nhanh như lợn lai kinh tế, vịt lai,

gà công nghiệp … sử dụng ưu thế lai thương phẩm đã đem lại lợi ích kinh tế

vô cùng to lớn cho ngành trồng trọt và chăn nuôi

Trang 8

Ở cây lúa, lần đầu tiên (J.W Joses, 1926) bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Sau đó có nhiều công trình nghiên cứu khác xác nhận sự xuất hiện ưu thế lai về năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất (Anonymous 1977; Li 1977; Lin và Yuan 1980 …), về sự tích lũy chất khô (Rao 965; Jenning 1967; Kim 1985 …), về sự phát triển của bộ rễ (Anonymous 1974; Tian và cộng sự 1980 …), về một số đặc tính sinh lý như cường độ quang hợp, cường độ hô hấp, diện tích lá … (Lin và Yuan 1980; Deng 1980, MC Donal và cộng sự 1971; Wu và cộng sự 1980 …) [16]v.v … Virmani và cộng sự (1981) tổng kết nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng ưu thế lai ở lúa có những biểu hiện đa dạng Ưu thế lai thực diễn biến từ 55 đến 70% giá trị số hạt/bông, 14 đến 31% giá trị khối lượng hạt … Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đều gặp trở ngại và khó khăn trong việc tìm ra phương pháp sản xuất hạt lai thích hợp do lúa là cây tự thụ phấn điển hình, khả năng nhận phấn ngoài rất thấp Đề xuất đầu tiên về vấn đề mở rộng sản xuất lúa lai thương phẩm là nhóm các nhà khoa học Ấn Độ (Kađam 1937; Amand và Murty BR 1968; Richharia 1962; Swaminathan và cộng sự 1972), các nhà khoa học Mỹ (Stansel và Craigmiles 1966; Craigmiles và cộng

sự 1968; Carnahan và cộng sự 1972), các nhà khoa học Nhật Bản Shinjyo và Omura 1966, Viện lúa quốc tế (Athwal và Virmani 1972) song đều chưa tìm

ra phương pháp sản xuất hạt lai thuận lợi nên họ đã không thành công

Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lúa lai muộn hơn Yuan LP [16] cùng nhóm nghiên cứu của ông bắt đầu nghiên cứu lúa lai ở đảo Hải Nam (18o vĩ Bắc) Họ tìm ra dạng lúa dại bất dục đực di truyền tế bào chất và cho rằng đây

là công cụ di truyền quan trọng để nghiên cứu phát triển lúa lai Sau 9 năm họ

đã thành công trong việc chuyển gen bất dục đực dạng dại vào lúa trồng bằng phương pháp lai lại (Back-cross) tạo ra các dòng bất dục đực di truyền tế bào chất tương đối ổn định Năm 1973 đã sản xuất được hạt lúa lai F1 của 3 dòng

bố mẹ là: Dòng bất dục đực di truyền tế bào chất (Cytoplasmic Male Sterile:

Trang 9

CMS), dòng duy trì bất dục (Maintainer) và dòng phục hồi hữu dục (Restorer) Năm 1974 đã giới thiệu tổ hợp lai cho ưu thế lai cao, đồng thời quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai “ba dòng” được giới thiệu ra sản xuất năm

1975 (Trần Ngọc Trang, 2003) [16]

Năm 1976, Trung Quốc đã sản xuất được hạt lai F1 để gieo cấy 140.000

ha Từ đó diện tích trồng lúa lai tăng lên liên tục kéo theo năng suất lúa bình quân của cả nước tăng với tốc độ cao

Tiến độ nghiên cứu lúa lai trong những năm gần đây đang phát triển với tốc độ cao và đa dạng, năm 1990 bằng con đường gây đột biến nhân tạo Nhật Bản đã tạo ra được dòng bất dục mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) Khái niệm

và con đường lúa lai 2 dòng ra đời Các giống lúa lai 2 dòng với tiềm năng năng suất cao là nhờ sự phát triển và sử dụng gen tương hợp rộng trong chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ (Indica/Japonica)

Trình tự phát triển lúa lai ở Trung Quốc đã được xác định theo con đường: 3-2-1 (ba dòng- hai dòng- một dòng), (Lin, SC 2001) [22] Diện tích lúa lai 2 dòng của Trung Quốc năm 1999 ước tính khoảng 150.000-160.000

ha, chiếm khoảng trên 1% diện tích lúa lai Đã có những tổ hợp lúa lai cho năng suất đạt tới trên 17 tấn/ha/vụ

Ấn Độ là nước tiếp theo tiến hành nghiên cứu và thương mại hóa các giống lúa lai với năng suất cao hơn các giống lúa thuần truyền thống Ngoài

ra, Philippines, Bangladesh, Indonesia, Pakistan, Ecuador, Guineas và Mỹ cũng là những nước đạt được thành công trong sản xuất lúa lai và đang đưa vào sản xuất nhiều giống lúa lai ở cả hai mức độ khảo nghiệm và sản xuất đại trà Tại Philippines, với sự hỗ trợ của FAO, viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI

và Trung Quốc, lúa lai cũng được thương mại hóa Đặc biệt, giống lúa siêu SL-8 cũng đã được lai tạo tại nước này và được đưa ra trồng trên diện rộng (3000 ha) vào năm 2003 với năng suất bình quân 8,5 tấn/ha (cao gấp hơn hai

Trang 10

lần năng suất lúa bình quân của nước này) Chính phủ Philippines có nhiều chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát tiển lúa lai từ năm 2003 đến 2007 Hiện nay Viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/vụ đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống có chất lượng cao để vừa giúp các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997) [19]

1.2.2 Tại Việt Nam

Việt Nam tuy là nước đã giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực và hiện là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 thế giới Tuy nhiên so sánh với các nước sản xuất tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì năng suất lúa của chúng ta vẫn còn kém xa (Itoh và cộng sự, 2000) [21] Việt Nam là nước nghiên cứu và sản xuất lúa lai muộn, vào giữa những năm

1980 chúng ta mới bắt đầu nghiên cứu lúa lai trong điều kiện nghèo nàn về cơ

sở vật chất và nguồn cán bộ

Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Viện Di truyền nông nghiệp, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành chương trình này với sự phối hợp của IRRI Nguồn vật liệu dùng cho nghiên cứu được nhập chủ yếu từ Viện lúa quốc tế Năm 1989, lúa lai F1 được nhập qua biên giới Việt – Trung gieo trồng ở một số xã miền Núi đã cho năng suất cao đáng ngạc nhiên

Năm 1990, Bộ Nông nghiệp đã nhập một số tổ hợp lúa lai gieo trồng thử ở đồng bằng Bắc bộ, đa số các tổ hợp này cho năng suất cao hơn lúa thường đáng tin cậy, hơn CR203 từ 700-1500kg/ha/vụ (Nguyễn Công Tạn, 2002; Quách Ngọc Ân 1999) [1], [14] Vì thế diện tích gieo cấy lúa lai Trung Quốc ở các tỉnh miền Núi, trung du và đồng bằng Bắc bộ tăng lên nhanh chóng

Trang 11

Biểu 1.1: Thống kê diện tích sản xuất lúa lai từ 1998- 2010

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011) [4]

Lúa lai từ khi du nhập vào Việt Nam đã phát triển vượt bậc thúc đẩy nhu cầu sản xuất giống Diện tích sản xuất hạt giống lúa lai F1 tăng từ 123 ha năm

1994 lên 1.430 ha năm 2007 Năng suất hạt giống lúa lai F1 ở Việt Nam đạt khoảng 2,0 tấn/ha/vụ, kỷ lục đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha tại Nam Định trên tổng số

1500 – 2000 ha/ năm

Hiện tại Việt Nam sản xuất ra 3.500 – 4.000 tấn hạt lai F1/năm, cung cấp

20 – 25 % tổng nhu cầu hạt giống (Bộ NN % PTNT, 2011) [4] Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung

và Tây Nguyên Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần

từ 15 – 20 % Các tổ hợp đang được sử dụng gồm Bác ưu 903, Bác ưu 64,

Trang 12

Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, TH3-3, VL20, HYT 83, LC 25 Tổng kinh phí khuyến nông dành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hỗ trợ sản xuất hạt giống khoảng 52 tỷ đồng

từ năm 1994 – 2007 Các vùng chuyên sản xuất hạt giống được hình thành như Nam Định, Thanh Hóa, Lào Cai, Quảng Nam, Đắc Lắc (Bộ NN & PTNT, 2005) [7]

Qua 20 năm (1991 – 2011) đưa vào Việt Nam, lúa lai đã có chỗ đứng khá bền vững, nông dân chấp nhận, góp phần đưa công nghệ trồng lúa của Việt Nam vươn tới trình độ cao của khu vực Lúa lai không chỉ phát triển ở các tỉnh phía Bắc, mà hiện tại đã phát triển mạnh ở các khu vực khác mà trước đây chúng ta cho rằng không thể phát triển như Đồng bằng sông Cửu Long Một số giống lúa lai nhiệt đới của một số công ty Bayer, Giống cây trồng Miền Nam, Bioseed,…đã đưa ra thị trường và được ưa chuộng trong vài năm gần đây

Tuy nhiên, báo cáo sơ kết tình hình sản xuất giống lúa lai vụ đông xuân

2010-2011 và kế hoạch sản xuất giống vụ mùa 2010-2011 tại các tỉnh phía Bắc do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì [4] cũng chỉ ra nhiều hạn chế về nghiên cứu, sản xuất lúa lai tại Việt Nam cần phải phấn đấu trong thời gian tới như:

- Chưa có nhiều dòng bố, mẹ có đặc tính nông học tốt, có khả năng kết hợp và cho ưu thế lai cao, dòng mẹ có khả năng nhận phấn tốt, đặc tính bất dục ổn định

- Một số tổ hợp lúa lai 2 dòng trong nước năng suất chưa vượt trội, nên hạn chế ở khả năng mở rộng diện tích

- Các tổ hợp lúa lai chưa thực sự phong phú, đặc biệt còn thiếu các tổ hợp lai chống chịu tốt với sâu bệnh (đặc biệt rầy nâu, bệnh bạc lá) và điều kiện ngoại cảnh bất thuận (mặn, hạn, úng, rét); bộ giống lúa lai cho vụ mùa còn nghèo nàn

Trang 13

- Còn ít giống lúa lai có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu, bộ giống lúa lai cho các tỉnh Nam bộ còn ít

- Thiếu những nghiên cứu có hệ thống về vùng duy trì nhân dòng bố, mẹ

và sản xuất hạt lai F1 và các giải pháp kỹ thuật chưa hoàn chỉnh đặc biệt trong điều kiện thời tiết có nhiều biến động

- Tỷ lệ tự sản xuất bố mẹ còn thấp

- Công nghệ duy trì và nhân dòng bố mẹ chưa tốt nên độ thuần chưa cao, chất lượng hạt F1 không ổn định giữa các vụ, các năm, thực sự chưa bằng các giống lai nhập nội nên sức cạnh tranh kém

- Năng suất hạt lai F1 của một số tổ hợp chọn tạo trong nước còn thấp nên sản xuất kém hiệu quả, khó vận động nông dân tham gia sản xuất hạt lai F1 Ví dụ như các tổ hợp: HYT83, HYT100, HYT92, Nam Ưu 1, TH5-1

- Lượng hạt giống F1 sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được từ 25% nhu cầu giống lúa lai sản xuất đại trà vì số lượng tổ hợp lai chọn tạo tại Việt Nam tham gia vào cơ cấu giống còn ít và các hạn chế khác nêu ở trên

20 Hệ thống sản xuất giống chưa được tổ chức chặt chẽ, các công ty nước ngoài và nhiều công ty sản xuất trong nước không ưu tiên sản xuất hạt giống tại Việt Nam do tính rủi ro cao và sợ mất bản quyển

- Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phát triển giống lúa lai còn quá thiếu, nhất là cán bộ đầu đàn về chọn tạo giống, duy trì và nhân dòng bố mẹ Mặt khác lực lượng trên phối hợp với nhau thiếu chặt chẽ nên khó có thể đảm bảo được công việc mà sản xuất yêu cầu

- Vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lúa lai dàn trải; thanh quyết toán kinh phí còn phức tạp; nhiều tỉnh chưa có chính sách hỗ trợ thích đáng, chính sách hỗ trợ có nhiều điểm chưa hợp lý, khi cần bổ sung sửa đổi hết sức khó khăn

Trang 14

Những khó khăn hạn chế nêu trên đã lý giải tại sao thị trường giống lúa lai của Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc và diện tích sản xuất lúa lai sau những năm đầu tăng tốc thì từ những năm 2003 – 2004 trở lại đến nay tăng không đáng kể và chưa thực sự ổn định

Về công tác khảo nghiệm giống:

Hiện nay, mạng lưới khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia được tập trung bởi đầu mối là Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng

và phân bón quốc gia Trung tâm có 5 trạm khảo nghiệm giống với diện tích gần 30 ha và cơ sở vật chất khá hoàn chỉnh chuyên phục vụ công tác khảo nghiệm DUS (tức đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định của giống cây trồng mới) một số giống cây trồng chính như lúa, ngô, đậu tương, lạc ; song song đó là mạng lưới khảo nghiệm VCU (tức đánh giá giá trị canh tác và giá trị sử dụng giống mới như năng suất chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện bất thuận và khả năng sản xuất hạt giống theo quy phạm khảo nghiệm VCU đối với từng loài cây trồng) với 35 điểm đại diện cho 7 vùng sinh thái của cả nước

Ngoài ra các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các tỉnh (hệ thống khuyến nông và các trung tâm giống cây trồng) và các công ty giống lớn đều tham gia công tác khảo nghiệm giống cây trồng, trong đó tập trung chủ yếu vào việc khảo nghiệm VCU và đưa nhanh giống mới vào sản xuất

Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳng định giống cây trồng là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp

Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú, đa dạng chúng ta đã và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của nước ta,

Trang 15

làm đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, các giống cây trồng tốt, mới liên tục ra đời để phục vụ cho sản xuất phát triển Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, với sự trợ giúp và hợp tác quốc tế thì người sản xuất trong nước có rất nhiều cơ hội để được tiếp cận và thụ hưởng các tiến bộ kỹ thuật mới đặc biệt là trong lĩnh vực giống cây trồng

Ở trong nước, với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học đã, đang và sẽ nghiên cứu lai tạo ra nhiều giống lúa lai mới Đồng thời với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, các công ty giống trong và ngoài nước cũng đóng góp vai trò ngày càng quan trọng trong việc đưa ra sản xuất các giống cây trồng mới mà phần lớn các giống cây trồng này đáp ứng được mục tiêu của công tác chọn tạo giống trong thời gian qua là: “Chọn, tạo giống cây trồng đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, đa dạng di truyền, khai thác lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, né tránh điều kiện bất lợi của tự nhiên, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu”

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa lai tại tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền Núi có nền kinh tế vẫn dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp là chính Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, sự vào cuộc của các cơ quan chuyên môn cùng sự nỗ lực của bà con nông dân mà năng suất, sản lượng lúa liên tục tăng lên Có được kết quả đó là do bà con đã biết

áp dụng tốt các biện pháp thâm canh lúa mà đặc biệt là việc đưa lúa lai vào sản xuất đại trà

Trang 16

Biểu 1.2: Tổng hợp kết quả diện tích, năng suất lúa Tuyên Quang

Năng suất (tạ/ha)

D.tích lúa lai Năng suất lúa lai

ha

So với tổng DT(%)

tạ/ha

So với bìnhquân

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, 2011 [8]

Qua bảng trên cho thấy tỷ lệ diện tích lúa lai so với tổng diện tích lúa của Tuyên Quang là khá cao Tuy nhiên bộ giống lúa lai đang sử dụng theo đánh giá chung còn nghèo nàn (khoảng gần 80% diện tích lúa lai bà con vẫn sử dụng giống Shan ưu 63, còn lại là một số giống như Nhị Ưu 63, LS1, Việt Lai

20, TH3- 3, LC 212, BTe1 … nhưng với diện tích ít và thiếu sự ổn định) Việc đưa các giống lúa lai mới vào sản xuất chủ yếu do các Công ty cung ứng tiến hành theo hình thức trình diễn giống đã được công nhận do vậy bà con chưa được tiếp nhận nhiều giống mới tiến bộ

Trang 17

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các đặc tính sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội tại Tuyên Quang trong vụ mùa năm

- Xây dựng mô hình trình diễn các giống có triển vọng

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu là 9 giống lúa lai mới được chọn tạo và nhập nội đã qua bước khảo nghiệm cơ bản Giống đối chứng là lúa lai Shan Ưu 63 (Tạp giao 1) hiện đang được gieo trồng phổ biến ở Tuyên Quang Các thí nghiệm được triển khai trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 tại tỉnh Tuyên Quang

Trang 18

- Diện tích đường công tác và bảo vệ: 180 m2

2.3.2 Định điểm theo dõi và thời gian theo dõi:

- Xác định điểm theo dõi: Định điểm theo dõi ở 3 lần nhắc lại, mỗi ô một điểm, mỗi điểm 5 khóm liên tục ở giữa ô, tổng số khóm theo dõi của 1 giống

là 15 khóm

- Xác định thời gian theo dõi: Theo giai đoạn của cây và theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 558- 2002 theo Quyết định số 143/2002/BNN – KHCN ngày 06/12/2002 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

2.4 Điều kiện thí nghiệm

2.4.1 Đất thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trên nền đất thịt nhẹ, chân vàn, chủ động tưới

tiêu, cấy 2 vụ lúa trong năm, hàm lượng dinh dưỡng trung bình khá, pH: 5.0

Trang 19

2.4.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu:

- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi Tuyên Quang, tổ 10- phường Ỷ La- thành phố Tuyên Quang- tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 6/2011 đến hết tháng 6/2012 (vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012)

2.5 Kỹ thuật trồng trọt

2.5.1 Thời vụ

- Vụ mùa năm 2011: gieo mạ ngày 28/6/2011, cấy ngày 11/7/2011 (tuổi

mạ 13 ngày)

- Vụ xuân năm 2012: gieo mạ ngày 17/01/2012, cấy ngày 05/02/2012

Áp dụng biện pháp che nilon cho mạ

2.5.2 Mật độ cấy

45 khóm /m2, mỗi khóm cấy 1 dảnh

2.5.3 Phân bón

- Lượng bón/ha: Phân chuồng: 10 tấn; 130 N, 80 P2O5, 110 K2 O

Riêng vụ xuân 2012 bón bổ sung 500 kg vôi bột/ha

Trang 20

2.5.4 Các biện pháp kỹ thuật khác:

Như chăm sóc, điều tiết nước, phòng trừ sâu bệnh theo quy trình của

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tuyên Quang

2.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

(Theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu theo quy phạm khảo nghiệm giá trị canh

tác và sử dụng của giống lúa 10 TCN 558- 2002 theo Quyết định số

143/2002/BNN – KHCN ngày 06/12/2002 của Bộ Nông nghiệp và PTNT)

2.6.1 Khả năng sinh trưởng của các giống

- Sức sống của mạ: Quan sát quần thể ô mạ trước khi nhổ cấy:

- Chiều cao cây mạ : cm

- Ngày bắt đầu đẻ nhánh: Khi 50 % số cây xuất hiện nhánh đầu tiên

- Thời gian kết thúc đẻ nhánh: Khi lúa đạt số dảnh tối đa

- Thời gian đẻ nhánh: (ngày)

+ Trỗ tập trung: thời gian không quá 3 ngày

+ Thời gian trỗ trung bình: 4-7 ngày

+ Thời gian trỗ dài: trên 7 ngày

- Độ cứng cây: (điểm) – quan sát tư thế của cây trước khi thu hoạch

Trang 21

+ Điểm 1: cứng cây không bị đổ

+ Điểm 3: cứng vừa- hầu hết cây nghiêng nhẹ

+ Điểm 5: trung bình – hầu hết cây bị nghiêng

+ Điểm 7: yếu – hầu hết cây bị đổ rạp

+ Điểm 9: rất yếu – tất cả các cây bị đổ rạp

- Chiều cao cây khi thu hoạch: đo từ mặt đất đến đỉnh bông cao nhất (không kể râu hạt): cm

- Tổng thời gian sinh trưởng: tính số ngày từ khi gieo đến khi 85% số hạt trên bông chín: ngày

2.6.2 Một số đặc điểm nông học của các giống lúa

- Độ thuần đồng ruộng: (điểm)- tính tỷ lệ cây khác dạng trên mỗi ô: + Điểm 1: cao- cây khác dạng < 0,2%

+ Điểm 5: trung bình- cây khác dạng 2-4%

+ Điểm 9: thấp- cây khác dạng > 4%

- Độ thoát cổ bông: (điểm)- quan sát khả năng trỗ thoát cổ bông của quần thể: + Điểm 1: thoát tốt

+ Điểm 3: thoát trung bình

+ Điểm 5: vừa đúng cổ bông

+ Điểm 7: thoát 1 phần

+ Điểm 9: không thoát được

- Độ tàn lá: (điểm)- quan sát sự chuyển mầu của lá:

+ Điểm 1: muộn và chậm- lá giữ màu xanh tự nhiên

+ Điểm 5: trung bình- các lá trên biến vàng

+ Điểm 9: sớm và nhanh- tất cả lá biến vàng hoặc chết

- Bông: chiều dài trục chính

+ Rất ngắn: < 20cm

+ Ngắn: 20- 25 cm

+ Trung bình: 26- 30 cm

Trang 22

- Tính chịu lạnh ở giai đoạn mạ: đánh giá sau khi mỗi đợt lạnh kết thúc

03 ngày- quan sát sự thay đổi mầu sắc lá và sự sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 10 0

C

+ Điểm 1: mạ màu xanh đậm, cây sinh trưởng bình thường có thể vẫn

đẻ nhánh

+ Điểm 3: mạ màu xanh nhạt, đầu lá hơi bị táp

+ Điểm 5: mạ màu vàng, đầu lá táp vàng hoặc héo xanh

+ Điểm 7: mạ màu vàng nâu, có số cây chết dưới 10%

Trang 23

+ Điểm 9: mạ chết từ 10 – 50%

- Tính chống đổ:

Theo dõi ở giai đoạn từ trỗ đến chín theo thang điểm;

+ Điểm 1: chống đổ tốt, không đổ

+ Điểm 3: chống đổ khá, hầu hết các cây đều nghiêng nhẹ

+ Điểm 5: chống đổ trung bình, hầu hết các cây bị nghiêng 30 độ (góc tạo bởi thân cây và mặt ruộng)

+ Điểm 7: chống đổ yếu, hầu hết các cây bị nghiêng 45 độ

+ Điểm 9: chống đổ rất yếu, tất cả các cây đều bị nằm rạp xuống mặt đất

- Khả năng chống chịu sâu bệnh hại

- Rầy nâu (Ninaparvata lugens)- theo dõi cây chuyển vàng từng bộ phận

hay toàn bộ cây đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không bị hại

+ Điểm 1: hơi biến vàng trên một số cây

+ Điểm 3: lá biến vàng bộ phận chưa bị “cháy rầy”

+ Điểm 5: lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng

+ Điểm 7: hơn một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, số cây còn lại lùn nặng + Điểm 9: tất cả các cây đều chết

- Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis Guenee)- tính tỷ lệ cây bị sâu

ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng theo thang điểm dưới đây:

+ Điểm 0 : không có cây bị hại

+ Điểm 1 : 1- 10% cây bị hại

+ Điểm 3 : 11- 20% cây bị hại

+ Điểm 5 : 21- 35 % cây bị hại

+ Điểm 7 : 36- 51 % cây bị hại

+ Điểm 9 : >51% cây bị hại

Trang 24

- Sâu đục thân 2 chấm (Schoennobius incertellus (Walker))- theo dõi

tỷ lệ dảnh chết ở giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đến chín ở 10 khóm điều tra, với 3 lần nhắc lại, đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không bị hại

+ Điểm 1: 1- 10% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 3: 11- 20% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 5: 21- 30% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 7: 31- 50% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 9: >51% dảnh hoặc bông bị hại

- Bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae)- đánh giá diện tích vết bệnh trên lá,

tính theo thang điểm:

+ Điểm 1: 1-5% diện tích vết bệnh trên lá

+ Điểm 3: 6- 12% diện tích vết bệnh trên lá

+ Điểm 5: 13- 25% diện tích vết bệnh trên lá

+ Điểm 7: 26- 50% diện tích vết bệnh trên lá

+ Điểm 9: 51- 100% diện tích vết bệnh trên lá

- Bệnh khô vằn ((Rhizoctonia solani Kuhn)- quan sát độ cao tương đối

của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá (biểu thị bằng % so với chiều cao cây), đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không có triệu chứng

+ Điểm 1: vết bệnh ở vị trí thấp hơn 20% chiều cao cây

+ Điểm 3: vết bệnh ở vị trí thấp hơn 20- 30 % chiều cao cây

+ Điểm 5: vết bệnh ở vị trí thấp hơn 31- 45 % chiều cao cây

+ Điểm 7: vết bệnh ở vị trí thấp hơn 46- 65 % chiều cao cây

+ Điểm 9: vết bệnh ở vị trí > 65 % chiều cao cây

- Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae Carava):

Trang 25

* Đối với bệnh đạo ôn lá tiến hành đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không thấy có vết bệnh

+ Điểm 1: các vết bệnh màu nâu hình kim châm ở giữa chưa xuất hiện vùng sinh sản bào tử

+ Điểm 2: vết bệnh nhỏ, tròn hoặc hơi dài, đường kính 1- 2 mm có viền nâu rõ rệt, hầu hết các lá dưới đều có vết bệnh

+ Điểm 3: dạng hình vết bệnh như ở điểm 2 nhưng vết bệnh xuất hiện đáng kể ở các lá trên

+ Điểm 4: vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm, dài 3 mm hoặc hơn + Điểm 5: vết bệnh điển hình chiếm 4- 10% diện tích lá

+ Điểm 6: vết bệnh điển hình chiếm 11- 25% diện tích lá

+ Điểm 7: vết bệnh điển hình chiếm 26- 50% diện tích lá

+ Điểm 8: vết bệnh điển hình chiếm 51- 75% diện tích lá

+ Điểm 9: > 75% diện tích lá bị bệnh

* Đối với bệnh đạo ôn hại bông- quan sát vết bệnh gây hại xung quanh

cổ bông, tiến hành đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không có vết bệnh hoặc chỉ có vết bệnh trên vài cuống bông + Điểm 1: vết bệnh có trên một vài cuống bông hoặc trên gié cấp 2 + Điểm 3: vết bệnh có trên vài gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông + Điểm 5: vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc phần thân rạ phía dưới trục bông

+ Điểm 7: vết bệnh bao quanh toàn cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông,

Trang 26

- Số hạt chắc/bông: (hạt)

- Tỷ lệ lép: (%)

- P1000 hạt: (gam)

- Năng suất lý thuyết (NSLT): (tạ/ha)

- Năng suất thực thu (NSTT): (tạ/ha)

- So sánh với đối chứng: (%)

* Phương pháp xác định năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Gặt các cây theo dõi trên các ô thí nghiệm để riêng đem về phòng đo, đếm và cân để tính ra các yếu tố cấu thành năng suất:

- Tính số bông/m2: Đếm số bông trên mỗi điểm điều tra, mỗi điểm lấy 5 khóm rồi tính giá trị trung bình của 3 lần nhắc lại

Số bông/m2

= số bông /khóm x 45 khóm

- Tính số hạt chắc/bông: mỗi điểm thí nghiệm lấy 5 bông, sau đó tách thóc ra khỏi bông loại bỏ lép, lửng và đếm số hạt chắc, rồi lấy giá trị trung bình tính số hạt chắc/bông

- Tính khối lượng 1000 hạt: cân thóc khô ở ẩm độ 13%, cách làm là đếm

100 hạt, làm 3 lần nhắc lại đem cân lên được khối lượng P1, P2, P3 đảm bảo cho các lần sai khác dưới 3% Sau đó tính khối lượng 1.000 như sau:

Trang 27

- Năng suất thực thu: gặt toàn bộ ô thí nghiệm, sau đó vò tách thóc, phơi khô quạt sạch hạt thóc đạt đến ẩm độ 13 – 14 % Sau đó cân khối lượng rồi tính ra tạ/ha

Độ trắng Độ bóng

Vị ngon

5 Rất thơm,

đặc trưng

Rất mềm

Dính tốt, mịn Trắng Rất bóng Rất ngon

Hơi dính

Trắng hơi xám Hơi bóng Ngon vừa

2 Hơi thơm,

kém đặc trưng Cứng Rời

Trắng ngả nâu

Hơi mờ, xỉn Hơi ngon

1

Không thơm, không có mùi cơm

Rất cứng Rất rời Nâu

Rất mờ, xỉn

Không ngon + Cách đánh giá:

∙ Mùi: nhận biết bằng ngửi

∙ Độ mềm, độ dính: nhận biết khi miết bằng tay và trong khi nhai

∙ Độ trắng, độ bóng: quan sát bằng mắt qua bề ngoài của cơm sau khi nấu

∙ Vị ngon: đây là những cảm giác tổng hợp của từng người nhận được trong khi ăn

Trang 28

2.7 Xây dựng mô hình trình diễn

Sau khi khảo nghiệm 10 giống lúa lai mới trong vụ mùa 2011 chọn được

02 giống ưu tú nhất để làm mô hình trình diễn với diện tích mỗi giống 0,3 ha (giống đối chứng trình diễn 0,1 ha) vào vụ xuân 2012 trên địa bàn phường Ỷ

La, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tình hình sinh trưởng của mạ

Để đảm bảo khi cấy đạt tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng phát triển tốt thì việc gieo mạ và chăm sóc mạ sau gieo là rất quan trọng Chất lượng mạ trước khi đem cấy phải đạt các tiêu chí như: cứng cây, đanh dảnh, không sâu bệnh, sinh trưởng khỏe, cấy đúng tuổi kết hợp với điều kiện ngoại cảnh thuận lợi,

kỹ thuật canh tác tốt để khi cấy lúa nhanh bén rễ, hồi xanh tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển khỏe ở các thời kỳ sau Bên cạnh đó chất lượng

mạ tốt còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: phương pháp và kỹ thuật làm

mạ, điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai, giống, v.v

Bảng 3.1: Tình hình sinh trưởng của mạ

TT

Chỉ tiêu

Tên

giống

Sức sống của mạ (điểm)

Số lá mạ khi cấy (lá/cây)

Tốc độ

ra lá (ngày/lá)

Chiều cao cây mạ (cm)

Trang 30

Nhận xét:

+ Đánh giá sức sinh trưởng của mạ: Tất cả các giống tham gia thí

nghiệm mạ đều có sức sinh trưởng trung bình (điểm 5) Cây sinh trưởng bình thường, lá màu xanh, cây mạ không đẻ nhánh

+ Số lá mạ khi cấy: Các giống tham gia thí nghiệm có số lá mạ khi cấy

vụ mùa 2011 từ 3,1- 3,2 lá, vụ xuân 2012 từ 2,5- 2,8 lá Nhìn chung biến động

số lá mạ khi cấy giữa các giống là không lớn do tuổi mạ của các giống ngắn

+ Tốc độ ra lá: Các giống tham gia thí nghiệm có tốc độ ra lá dao động

từ 4,1 đến 4,2 ngày/lá (trong vụ mùa 2011) và từ 6,8 đến 7,6 ngày/lá (trong vụ xuân 2012)

Trong vụ mùa 2011, tốc độ ra lá của các giống gần tương đương nhau

Vụ xuân 2012, tốc độ ra lá của các giống tham gia thí nghiệm có sự khác nhau Các giống Du Ưu 600, Nam Ưu 208, Nam ưu 901 và Nam Ưu 821 có tốc độ ra lá tương đương giống đối chứng (7,3 ngày/lá) Các giống lúa Thịnh

Dụ 11, Thái Xuyên 111 và XL 97014 có tốc độ ra lá nhanh hơn giống đối chứng từ 0,3- 0,5 ngày/lá Hai giống lúa Nam Ưu 842 và Nam Ưu 205 có tốc

độ ra lá chậm hơn giống đối chứng 0,3 ngày/lá

+ Chiều cao cây mạ khi cấy:

- Chiều cao cây mạ khi cấy giữa các giống biến động từ 16,6- 18 cm (vụ mùa 2011) và từ 15,5- 16,5 cm (vụ xuân 2012) Chiều cao cây mạ khi cấy của các giống lúa tham gia thí nghiệm tương đương nhau (khác nhau không có ý nghĩa) ở cả vụ xuân 2012 và vụ mùa 2011 Điều này cũng phù hợp thực tế do thời gian cây lúa ở giai đoạn mạ của các giống rất ngắn

- Hệ số biến động (CV%) giữa các giống thí nghiệm ở vụ mùa 2011 là 6,9%, ở vụ xuân 2012 là 5,5%, thí nghiệm đảm bảo độ chính xác

3.2 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa

Đẻ nhánh là tập tính sinh học của cây lúa, nhánh được hình thành từ các mắt trên thân (mầm mắt) Các mầm này có khả năng phát triển thành nhánh khi gặp các điều kiện thuận lợi Khả năng đẻ nhánh nhiều hay ít phụ thuộc

Trang 31

vào đặc điểm của từng giống, tùy thuộc vào tuổi mạ, kỹ thuật cấy, điều kiện

dinh dưỡng, nước, điều kiện ngoại cảnh

Theo dõi quá trình đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm ở 2

vụ xuân 2012 và mùa 2011thu được kết quả như sau:

Bảng 3.2: Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa

TT

Chỉ tiêu Tên giống

Dảnh cơ bản dảnh)

Tổng số dảnh/khóm (dảnh)

Dảnh hữu hiệu/khóm (dảnh)

Tỷ lệ thành bông (%)

Trang 32

- Các giống lúa tham gia thí nghiệm có tổng số dảnh/khóm dao động từ 7,7- 9,4 dảnh (vụ mùa 2011) và từ 9,0- 10,6 dảnh (vụ xuân 2012)

Vụ mùa 2011: Giống lúa đối chứng có tổng số dảnh/khóm là 8,5 dảnh Các giống lúa thí nghiệm có tổng số dảnh trên khóm không khác so với giống đối chứng (sai khác không có ý nghĩa)

So sánh giữa các giống thí nghiệm thấy 2 giống Thịnh Dụ 11 và XL

97014 có số dảnh/khóm cao hơn nhóm giống Nam Ưu và giống Thái Xuyên

111 từ 1,2- 2,1 dảnh với mức tin cậy 95%

Vụ xuân 2012: Giống lúa đối chứng có tổng số dảnh/khóm là 9,4 dảnh

So với giống đối chứng, các giống lúa thí nghiệm không có sự khác nhau về

số dảnh (khác nhau không ý nghĩa)

So sánh một số giống thí nghiệm thấy giống lúa Thịnh Dụ 11 có số tổng

số dảnh/khóm cao hơn các giống Nam Ưu 821, Nam Ưu 842 và giống Nam

Ưu 208 từ 1- 1,3 dảnh với mức tin cậy 95%

- Hệ số biến động giữa các giống thí nghiệm ở vụ mùa 2011 là 6,0% và ở

vụ xuân 2012 là 5,5%, thí nghiệm đảm bảo độ chính xác

+ Về số bông hữu hiệu/khóm:

- Số bông hữu hiệu/khóm của các giống tham gia thí nghiệm dao động từ 4,1- 4,8 dảnh (vụ mùa 2011) và từ 4,7- 5,3 dảnh (vụ xuân 2012) Nhìn chung số dảnh hữu hiệu/khóm của các giống tham gia thí nghiệm biến động không lớn

Vụ mùa 2011: Chỉ có giống XL 97014 có số dảnh hữu hiệu/khóm cao hơn giống đối chứng là 0,4 dảnh ở mức tin cậy 95% Các giống lúa còn lại

có số dảnh hữu hiệu/khóm tương đương giống đối chứng (sai khác không

có ý nghĩa)

Vụ xuân 2012: Các giống lúa thí nghiệm có số dảnh hữu hiệu/khóm tương đương giống lúa đối chứng (sai khác không có ý nghĩa) So sánh giữa

Trang 33

các giống thí nghiệm cho thấy giống lúa XL 97014 có số dảnh hữu hiệu/khóm cao hơn so với 2 giống Thịnh Dụ 11 và Du Ưu 600 là 0,6 dảnh với mức tin cậy 95%

- Hệ số biến động giữa các giống ở vụ mùa 2011 là 4,1% và ở vụ xuân

3.3 Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của giống

Thời gian sinh trưởng của các giống lúa bắt đầu từ khi gieo hạt cho đến khi thu hoạch, nó được chia ra thành nhiều giai đoạn khác nhau Các giai đoạn sinh trưởng luôn biến động theo giống, mùa vụ, tác động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật trong quá trình sản xuất

Sinh trưởng, phát triển là một chỉ tiêu quan trọng liên quan chặt chẽ với năng suất lúa Quá trình sinh trưởng, phát triển của lúa thể hiện trên đồng ruộng là kết quả của sự phản ánh tính bền vững của giống về mặt di truyền, đồng thời cũng phản ánh được khả năng phản ứng của giống với điều kiện ngoại cảnh Hay nói cách khác, các giống khác nhau thì đặc tính của chúng khác nhau

Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống lúa tham gia thí nghiệm ở 2 vụ xuân 2012 và mùa 2011 chúng tôi thu được kết quả thể hiện

ở bảng 3.3 như sau:

Trang 34

Bảng 3.3: Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của các giống

Thời gian

đẻ nhánh (ngày)

Thời gian cấy- trỗ (ngày)

Thời gian trỗ (ngày)

TGST (ngày)

+ Thời gian cấy- đẻ nhánh: Các giống tham gia thí nghiệm có thời gian

từ khi cấy đến đẻ nhánh tương đương giống đối chứng (vụ mùa 2011, từ 7- 8 ngày và vụ xuân 2012, từ 16- 17 ngày) Vụ mùa do có nhiệt độ và ánh sáng cao nên thời gian từ từ cấy- đẻ nhánh ngắn hơn vụ xuân

+ Thời gian đẻ nhánh:

Các giống lúa tham gia thí nghiệm có thời gian đẻ nhánh dao động từ 20-

24 ngày (vụ mùa 2011) và từ 22-25 ngày (vụ xuân 2012) Giống lúa XL

94017 có thời gian đẻ nhánh dài nhất (dài hơn đối chứng 3 ngày), các giống còn lại có thời gian đẻ nhánh gần tương đương đối chứng Shan Ưu 63 (bằng hoặc hơn kém 1 ngày) Giữa 2 vụ, thời gian đẻ nhánh của các giống không có

sự khác biệt

Trang 35

+ Thời gian từ cấy- trỗ:

Nắm vững thời gian thuận lợi nhất cho lúa trỗ bông, phơi màu để chủ động gieo mạ, cấy sao cho lúa được trỗ bông đúng vào thời gian đã định Thời gian từ cấy- trỗ bông của các giống dao động từ 63- 71 ngày (vụ mùa 2011) và từ 81- 89 ngày (vụ xuân 2012) Thời gian từ cấy đến trỗ trung bình của các giống trong vụ xuân 2011 dài hơn so với vụ mùa 2011 là 17 ngày, đây chính là giai đoạn quyết định đến tổng thời gian sinh trưởng của các giống ở từng vụ

Thời gian từ cấy- trỗ bông của các giống chia thành 2 nhóm Nhóm các giống nhập nội (Thịnh Dụ 11, Du Ưu 600, Thái Xuyên 111, XL94017)

và giống Nam Ưu 821 có thời gian từ cấy- trỗ bông dài hơn giống đối chứng từ 2- 6 ngày Các giống thuộc nhóm chọn tạo trong nước còn lại (nhóm giống Nam Ưu) có thời gian từ cấy- trỗ bông tương đương hoặc ngắn hơn đối chứng (3 ngày)

+ Thời gian trỗ:

Các giống tham gia thí nghiệm có thời gian trỗ từ 4- 5 ngày, tương đương với giống đối chứng Shan Ưu 63 và đều thuộc nhóm có thời gian trỗ trung bình

+ Thời gian sinh trưởng:

Các giống tham gia thí nghiệm có tổng thời gian sinh trưởng dao động từ

106 đến 114 ngày (vụ mùa 2011) và từ 130 đến 138 ngày (vụ xuân 2012) Thời gian sinh trưởng trung bình của các giống ở vụ xuân 2012 lớn hơn ở vụ mùa 2011 là 23,4 ngày

Các giống Thịnh Dụ 11, Du Ưu 600, Thái Xuyên 111 và XL94017, Nam

Ưu 901 và Nam Ưu 821 có TGST dài hơn giống đối chứng 1- 6 ngày Các giống lúa còn lại có TGST ngắn hơn giống đối chứng 2- 3 ngày

3.4 Đặc điểm nông học của các giống lúa

Do điều kiện nghiên cứu có hạn, chúng tôi tập trung vào một số chỉ tiêu:

Độ thuần đồng ruộng, độ thoát cổ bông, độ cứng cây, độ tàn lá, chiều dài bông, góc thân, lá đòng và màu sắc vỏ trấu của các giống thí nghiệm và thu được kết quả theo các bảng sau:

Trang 36

Bảng 3.4: Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu nông học các giống

TT

Chỉ tiêu

Giống

Độ thuần đồng ruộng (điểm)

Độ thoát

cổ bông (điểm)

Độ cứng cây (điểm)

Độ tàn lá (điểm)

+ Độ thuần đồng ruộng của các giống:

Các giống tham gia thí nghiệm thuộc 2 nhóm có độ thuần đồng ruộng cao và trung bình Nhóm các giống lúa lai Nam ưu có độ thuần đồng ruộng trung bình (điểm 5) Các giống còn lại có độ thuần đồng ruộng cao tương đương giống đối chứng (điểm 1) Độ thuần đồng ruộng của các giống ổn định

ở cả 2 vụ xuân 2012 và mùa 2011

+ Độ thoát cổ bông:

Các giống có độ thoát cổ bông tốt tương đương giống đối chứng Shan

Ưu 63 là Du Ưu 600 và Thái Xuyên 111 (điểm 1) Các giống lúa còn lại có độ thoát cổ bông không bằng giống đối chứng (điểm 3) Độ thoát cổ bông của các giống tham gia thí nghiệm ổn định qua 2 vụ nghiên cứu

Trang 37

+ Độ cứng cây:

Các giống có độ cứng cây tốt tương đương giống đối chứng Shan Ưu 63

là Thịnh Dụ 11 và Thái Xuyên 111 (điểm 1) Các giống lúa còn lại có độ cứng cây không bằng giống đối chứng (điểm 3)

+ Độ tàn lá:

Có 2 giống có độ bền lá tốt hơn giống đối chứng Shan Ưu 63 là Thịnh

Dụ 11 và Thái Xuyên 111 (điểm 1) Các giống còn lại có độ tàn lá tương đương giống đối chứng (điểm 5)

Bảng 3.5: Kết quả theo dõi một số đặc điểm nông học khác của các giống

TT

Chỉ tiêu

Giống

Chiều dài bông (cm)

Góc thân (độ)

Lá đòng (trạng thái)

Vỏ trấu hạt (màu)

2 Du Ưu 600

27,6 27,4 35 35 Nửa

thẳng

Nửa thẳng Vàng Vàng

6 Nam Ưu 208

25,9 25,7 40 40 Nửa

thẳng

Nửa thẳng Vàng Vàng

7 Nam Ưu 205

25,5 25,2 40 40 Nửa

thẳng

Nửa thẳng Vàng Vàng

8 Nam Ưu 901

26,6 26,3 40 40 Nửa

thẳng

Nửa thẳng Vàng Vàng

9 Nam Ưu 821

25,5 25,2 40 40 Nửa

thẳng

Nửa thẳng Vàng Vàng

10 Shan Ưu 63

Nửa thẳng thẳng Nửa Vàng Vàng

12 CV (%) 7,4 5,7

Trang 38

* Nhận xét:

+ Chiều dài bông:

- Các giống tham gia thí nghiệm thuộc nhóm có chiều dài bông trung bình (chiều dài bông các giống dao động từ 25,5 - 28,4 cm trong vụ mùa 2011

và từ 25,2- 28,1 cm trong vụ xuân 2012)

Giống lúa đối chứng có chiều dài bông là 27,6 cm (vụ mùa 2011) và 27,4 cm (vụ xuân 2012) Các giống thí nghiệm có chiều dài bông không khác giống đối chứng và giữa các giống cũng không khác nhau (sai khác không ý nghĩa)

- Hệ số biến động giữa các giống ở vụ mùa 2011 là 7,4% và ở vụ xuân

2012 là 5,7%, thí nghiệm đảm bảo độ chính xác

+ Góc thân:

Trong các giống tham gia thí nghiệm có giống Thái Xuyên 111 có góc thân đứng (30 độ); các giống còn lại có góc thân thuộc nhóm nửa đứng tương đương với giống đối chứng Góc thân của các giống ổn định qua 2 vụ thí nghiệm xuân 2012 và mùa 2011

+ Lá đòng:

Trong các giống tham gia thí nghiệm có giống Thái Xuyên 111 có lá đòng thẳng, các giống còn lại có lá đòng thuộc dạng nửa thẳng tương tự như giống đối chứng Shan Ưu 63

+ Màu vỏ trấu hạt:

Tất cả các giống tham gia thí nghiệm đều có màu sắc vỏ trấu của hạt dạng vàng sáng như giống đối chứng Shan Ưu 63

Trang 39

3.5 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu chống chịu

3.5.1 Tính chống đổ và chịu lạnh của các giống thí nghiệm

Bảng 3.6 Tính chống đổ và chịu lạnh của các giống thí nghiệm

TT

Chỉ tiêu Giống

Tính chịu lạnh (điểm) Tính chống đổ (điểm)

Vụ mùa 2011: Không theo dõi tính chịu lạnh

Vụ xuân 2012 có thời tiết rét đậm kéo dài vào giai đoạn lúa gieo cấy Tuy nhiên mạ gieo được che phủ 100% do vậy mạ vẫn sinh trưởng bình thường Các giống lúa tham gia thí nghiệm có khả năng chịu lạnh khá tương đương giống đối chứng (điểm 1-3)

+ Tính chống đổ của các giống:

Tất cả các giống tham gia thí nghiệm đều có khả năng chống đổ tốt tương đương giống lúa đối chứng (cả ở vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012), độ cứng cây tốt (điểm 1), cây không bị đổ khi gặp mưa gió

Trang 40

3.5.2 Khả năng chống chịu sâu bệnh

Hàng năm sản lượng lương thực mất mát do thiên tai và sâu bệnh là rất lớn Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới cho biết hàng năm tổng sản lượng lương thực giảm khoảng 30% do thiên tai và sâu bệnh

Vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà chọn tạo giống cây trồng là làm sao chọn tạo và đưa ra sản xuất những giống lúa có năng suất cao, ổn định mà vẫn

có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, đảm bảo cho việc giảm chi phí cho sản xuất lúa, hạn chế được ô nhiễm môi trường, giảm được tàn dư của thuốc độc trong nông sản Tác hại của sâu bệnh gây ra là một trong những yếu tố làm giảm năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng (có khi còn mất trắng), không những thế sâu bệnh còn lan truyền từ vụ này sang vụ khác, từ vùng này sang vùng khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lúa Do vậy việc theo dõi, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa trong

đề tài là rất cần thiết

Bảng 3.7: Khả năng chống chịu sâu của các giống thí nghiệm

TT

Chỉ tiêu Giống

Rầy nâu (điểm)

Sâu cuốn lá (điểm)

Sâu đục thân (điểm)

Ngày đăng: 18/10/2023, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quách Ngọc Ân (1999), Lúa lai - kết quả và triển vọng, thông tin chuyên đề khoa học công nghệ PTNT, Trung tâm Thông tin- Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa lai - kết quả và triển vọng
Tác giả: Quách Ngọc Ân
Năm: 1999
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (1998), Báo cáo về an ninh lương thực, thực phẩm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về an ninh lương thực, thực phẩm
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2007), Công nhận giống cây trồng nông nghiệp mới - Quyết định số 95/ 2007/QĐ- BNN ngày 27/11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhận giống cây trồng nông nghiệp mới - Quyết định số 95/ 2007/QĐ- BNN ngày 27/11/2007
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2007
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002), Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 558-2002: Quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 558-2002
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2002
9. Nguyễn Ngọc Đệ (2008), Giáo trình cây lúa - Viện Nghiên cứu- Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lúa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đệ
Năm: 2008
10. Vũ Đình Hòa (chủ biên) và cộng sự (2005) , Giáo trình chọn giống cây trồng - Trường Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn giống cây trồng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
11. Hoàng Tuyết Minh (2002). Lúa lai 2 dòng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa lai 2 dòng
Tác giả: Hoàng Tuyết Minh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Nguyễn Công Tạn (chủ biên) và cộng sự (2002), Lúa lai ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa lai ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Tạn (chủ biên) và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Trần Ngọc Trang (2003), Giống lúa lai Trung Quốc và kỹ thuật gieo trồng, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống lúa lai Trung Quốc và kỹ thuật gieo trồng
Tác giả: Trần Ngọc Trang
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
17. Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam (2004), Pháp lệnh Giống cây trồng.2. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Giống cây trồng
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam
Năm: 2004
18. Beachell, H.M: GS. Khush, and R.C. Aquino, 1972. IRRI ' S rice breeding program, Losbanos, Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: IRRI' S rice breeding program
21. Ito, H, and K. Hayasi (2000), The changes in paddy field rice varieties in Japan Trop. Agri. Res. Ses.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The changes in paddy field rice varieties in Japan Trop
Tác giả: Ito, H, and K. Hayasi
Năm: 2000
22. Lin, S.C (2001), Rice breeding in China. IRRI, Rice breeding , Losbanos, Philippin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rice breeding in China
Tác giả: Lin, S.C
Năm: 2001
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2004), Ban hành tiêu chuẩn ngành 10TCN 590- 2004, Ngũ cốc và đậu đỗ - Gạo xát - Đánh giá chất lượng cảm quan cơm bằng phương pháp cho điểm Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Báo cáo sơ kết tình hình sản xuất giống lúa lai vụ đông xuân 2010-2011 và kế hoạch sản xuất giống vụ mùa 2011 tại các tỉnh phía Bắc Khác
7. Cục Nông nghiệp- Bộ Nông nghiệp và PTNT (2005), Báo cáo tổng quan tình hình sản xuất lúa lai giai đoạn 2002- 2005 và định hướng trong thời gian tới Khác
8. Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2011), Tổng hợp kết quả sản xuất trồng trọt Tuyên Quang giai đoạn 2006- 2010 Khác
12. NXB Nông nghiệp (2010), 575 giống cây trồng nông nghiệp mới Khác
13. Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang (2011), Hướng dẫn sử dụng giống và một số cây trồng chính năm 2012 Khác
15. Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới (2004), Tổng quan về an ninh lương thực Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
2.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 18)
Bảng 3.1: Tình hình sinh trưởng của mạ - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.1 Tình hình sinh trưởng của mạ (Trang 29)
Bảng 3.2: Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.2 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa (Trang 31)
Bảng 3.3: Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của các giống - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.3 Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của các giống (Trang 34)
Bảng 3.5: Kết quả theo dõi một số đặc điểm  nông học khác của các giống - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.5 Kết quả theo dõi một số đặc điểm nông học khác của các giống (Trang 37)
Bảng 3.7: Khả năng chống chịu sâu của các giống thí nghiệm - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.7 Khả năng chống chịu sâu của các giống thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 3.10: Mức độ biến động một số chỉ tiêu của các giống - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10 Mức độ biến động một số chỉ tiêu của các giống (Trang 48)
Bảng 3.12: Hệ số tương quan giữa một số đặc tính nông học với NSTT - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.12 Hệ số tương quan giữa một số đặc tính nông học với NSTT (Trang 54)
Bảng 3.13: Đánh giá chất lượng cơm các giống qua 2 vụ thí nghiệm - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.13 Đánh giá chất lượng cơm các giống qua 2 vụ thí nghiệm (Trang 56)
Bảng 3.14: Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu chính - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu chính (Trang 58)
Hình ảnh gặt lúa thí nghiệm - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
nh ảnh gặt lúa thí nghiệm (Trang 74)
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ CÁC CHỈ TIÊU - Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và năng suất của một số giống lúa lai mới chọn tạo và nhập nội trên địa bàn tỉnh tuyên quang
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ CÁC CHỈ TIÊU (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm