Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ hai cả nước về diện tích và sản lượng chè, với 17.660 ha trồng chè, trong đó chè kinh doanh chiếm 16.053 ha và sản lượng chè búp tươi đạt 171.900 tấn Mặc dù có diện tích lớn, nhưng 66,79% là chè trung du Sản lượng chè xuất khẩu trong giai đoạn 2009-2010 đạt hơn 7.000 tấn, với giá trung bình từ 1,4-1,6 USD/kg, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô Thương hiệu chè Thái Nguyên đã có từ lâu, hiện nay chủ yếu tiêu thụ chè xanh trong nước Tỉnh cũng đã chuyển đổi cơ cấu giống chè, đưa vào một số giống mới có nguồn gốc nhập nội Giống chè Kim Tuyên được đánh giá cao về khả năng chế biến chè xanh chất lượng, nhưng chưa có đánh giá thực trạng sản xuất và chất lượng tại Thái Nguyên Do đó, cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng giống chè này, dẫn đến việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tính chất đất và phân bón đến năng suất, chất lượng giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lượng chè Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên.
*Mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Đánh giá đƣợc thực trạng sản xuất và việc sử dụng phân bón cho giống chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lƣợng giống chè Kim Tuyên
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón, phân bón qua lá đến năng suất, chất lƣợng giống chè Kim Tuyên.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào quy trình thâm canh giống chè nhập nội tại khu vực Tân Cương và tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Giống chè Kim Tuyên đƣợc trồng tại Thái Nguyên từ năm 2005.
Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Huyện Đại Từ, huyện Đồng Hỷ, TP Thái Nguyên Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012.
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tình hình sử dụng phân bón cho chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất và chất lƣợng chè Kim Tuyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, chất lượng chè Kim Tuyên.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Đánh giá thực trạng sản xuất và tình hình sử dụng phân bón cho chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên
Để nghiên cứu tình hình sử dụng phân bón cho các giống chè mới tại Thái Nguyên, chúng tôi đã lập bộ câu hỏi và tiến hành điều tra tại ba địa điểm, mỗi địa điểm gồm ba xã Các xã được chọn bao gồm La Bằng, Phú Xuyên, Hoàng Nông (huyện Đại Từ), Văn Hán, Sông Cầu, Khe Mo (huyện Đồng Hỷ), và Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương (TP Thái Nguyên) Đây là những xã đại diện trong phong trào thay đổi cơ cấu giống chè của Thái Nguyên.
Chúng tôi đã chọn 40 hộ gia đình từ mỗi xã, tất cả đều đang trồng giống chè mới Các hộ này được phân bổ đều tại các xóm có hoạt động trồng chè, nhằm đảm bảo tính đại diện trong quá trình điều tra Tổng số phiếu điều tra được thực hiện là
2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất đất đến năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên
Phương pháp: Lấy mẫu đất ở các địa điểm trồng giống chè Kim
Trong nghiên cứu, các mẫu đất được thu thập từ các khu vực La Bằng, Hoàng Nông, Phú Xuyên (huyện Đại Từ), Phúc Trìu, Tân Cương, Phúc Xuân (TP Thái Nguyên), Văn Hán, Sông Cầu, và Khe Mo (huyện Đồng Hỷ) Tổng cộng 18 mẫu đất đã được lấy từ 18 vườn chè Kim Tuyên có cùng năm tuổi Mỗi mẫu đất được thu thập từ độ sâu 0-30 cm tại 5 vị trí khác nhau trong vườn và sau đó được trộn đều Thời điểm lấy mẫu đất diễn ra vào tháng 3 năm.
Vào năm 2011, tại các vườn chè, việc thu hái chè được thực hiện đồng thời với việc lấy mẫu đất Mẫu chè được hái trong khung hình chữ nhật 40 cm x 50 cm tại 5 vị trí khác nhau trong vườn, bao gồm tất cả các búp trong khung Trọng lượng búp và mật độ búp được tính theo mét vuông và giá trị trung bình được xác định Lần lấy mẫu chè được thực hiện vào tháng 4 năm 2011.
- Phân tích các chỉ tiêu sinh hóa của mẫu chè
+ Mẫu chè tươi được phân tích chất lượng tại Viện Khoa học sự sống trường đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Từ kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá tương quan của yếu tố dinh đưỡng đất đến năng suất và chất lƣợng chè
Các chỉ tiêu phân tích đất bao gồm pH, độ ẩm, hàm lượng mùn, N tổng số, P2O5 dễ tiêu và K2O dễ tiêu Để xác định độ ẩm, mẫu đất được sấy khô ở nhiệt độ 105°C và cân khối lượng pH được đo bằng máy đo pH với tỷ lệ chiết đất sử dụng dung dịch KCl 1M theo tỷ lệ 1:5 Chất hữu cơ tổng số (OM) được xác định bằng phương pháp Walkley-Black.
N tổng số: Phương pháp Kjeldahl, công phá mẫu bằng H 2 SO4 đậm đặc và hỗn hợp xúc tác K2SO4, CuSO4 và bột Se
P2O5 dễ tiêu: Pp Bray II, đo P trong dịch chiết bằng máy quang phổ
K 2 O dễ tiêu: Phương pháp quang amôn axetat (pH7), đo K trong dịch chiết bằng máy quang kế ngọn lửa
Xác định, Cu, Zn, dễ tiêu trong đất bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử, chiết mẫu bằng HCl pha loãng (HCl 0,1 M)
* Các chỉ tiêu phân tích chè Đường khử Phương pháp Betrand
Cafein Phương pháp trọng lượng
Tanin và chất hòa tan Phương pháp Levanthal
2.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, chất lượng chè Kim Tuyên
2.3.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến năng suất và chất lượng chè
Thí nghiệm gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiêm là 30m 2 Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- CT 1: Bón phân hữu cơ + phân khoáng theo quy trình + Phun nước lã
- CT 2: Phân hữu cơ + Bón phân khoáng QT+ phân bón lá Rong biển
- CT 3: Phân hữu cơ + Bón phân khoáng QT + phân bón qua lá Pomior
- CT 4: Phân hữu cơ + Bón phân khoáng QT+ phân bón lá Yogen No.2 Hàng chè ngăn cách
Nhắc lại 1 Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4 Hàng chè ngăn cách
Nhắc lại 2 Công thức 2 Công thức 1 Công thức 4 Công thức 3 Hàng chè ngăn cách
Nhắc lại 3 Công thức 3 Công thức 4 Công thức 1 Công thức 2 Hàng chè ngăn cách
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm 1
+ Phân hữu cơ: 10 tấn phân chuồng/ha
+ Tỷ lệ NPK: 300 N-160 P 2 05-200 K20 chia làm 3 lần bón
Vào đầu vụ xuân, cần bón phân hữu cơ kết hợp với toàn bộ phân lân Phân kali và phân đạm nên được chia thành 3 lần bón trong các tháng 4, 6 và 8, với lần 1 bón 40% và hai lần sau mỗi lần bón 30%.
+ Phân bón qua lá Rong biển: Phun theo chỉ dẫn trên bao bì
+ Phân bón qua lá Pomior: Phun theo chỉ dẫn trên bao bì
+ Phân bón qua lá Yogen No.2: Phun theo chỉ dẫn trên bao bì
Các biện pháp kỹ thuật tuân theo quy trình chăm sóc chè
2.3.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè
Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiêm là 30m 2 Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- CT 1: Bón phân hữu cơ + phân khoáng theo quy trình
- CT 2: Bón phân vi sinh sông Gianh + Phân khoáng theo quy trình
- CT 3: Bón phân hữu cơ sinh học NTT + Phân khoáng theo quy trình Hàng chè ngăn cách
Nhắc lại 1 Công thức 2 Công thức 1 Công thức 3
Nhắc lại 2 Công thức 3 Công thức 2 Công thức 1
Nhắc lại 3 Công thức 1 Công thức 3 Công thức 2
Hình 2.2 Sơ đồ thí nghiệm 2
+ Phân hữu cơ 20 tấn phân chuồng/ha
+ Phân vi sinh Sông Gianh: 8 tấn/ha
+ Phân hữu cơ sinh học NTT: 8 tấn /ha
+ Tỷ lệ NPK : 300 N-160 P205-200 K20 chia làm 3 lần bón
Để đạt hiệu quả cao trong canh tác, phân hữu cơ nên được bón vào đầu vụ xuân cùng với toàn bộ phân lân Phân hữu cơ vi sinh cần chia thành 3 lần bón, với lần đầu bón 50% và hai lần sau mỗi lần 25% Đối với phân kali và phân đạm, cần chia thành 3 lần bón vào các tháng 4, 6 và 8, trong đó lần đầu bón 40% và hai lần tiếp theo mỗi lần 30%.
Các biện pháp kỹ thuật tuân theo quy trình chăm sóc chè
2.3.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến năng suất và chất lượng chè
Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiêm là 30m 2 Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- CT 1: Bón 15 tấn phân chuồng hoai mục/ha + Phân khoáng theo quy trình
- CT 2: Bón 15 tấn phân chuồng hoai mục/ha + 5 tấn phân gà/ha
- CT 3: Bón 15 tấn phân chuồng hoai mục/ha + 1000 kg đậu tương ngâm Hàng chè ngăn cách
Nhắc lại 1 Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
Nhắc lại 2 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 1
Nhắc lại 3 Công thức 3 Công thức 1 Công thức 2
Hình 2.3 Sơ đồ thí nghiệm 3
+ Công thức 1: Phân hữu cơ bón vào vụ xuân bón cùng toàn bộ phân lân
+ Tỷ lệ NPK: 300 N-160 P 2 05-200 K20 chia làm 3 lần bón Phân ka li và phân đạm chia làm 3 lần bón: Tháng 4, tháng 6 và tháng 8 Lần 1 bón 40%, lần 2 và 3 mỗi lần bón 30%
+ Công thức 2: Phân hữu cơ bón toàn bộ vào đầu vụ xuân Phân gà chia làm 3 lần bón: tháng 4, tháng 6 và tháng 8
+ Công thức 3: Phân hữu cơ bón toàn bộ vào đầu vụ xuân Đậu tương ngâm và tưới cho chè sau mỗi lứa hái
Phương pháp ngâm đậu tương hiệu quả là ngâm trong nước trong thùng, sau đó sau một tháng tiến hành tưới Số lượng đậu tương được chia thành 3 lần tưới, thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10, với mỗi lần ngâm tương ứng cho 2 lần tưới.
Các biện pháp kỹ thuật tuân theo quy trình chăm sóc chè
* Các chỉ tiêu theo dõi chung trong thí nghiệm 1,2,3
Theo dõi: Số lứa hái trên năm: Tính từ lứa hái đầu tiên đến lứa hái cuối cùng
- Các chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:
Mật độ búp (búp/m²) được xác định bằng cách sử dụng khung 40cm x 50cm để đếm số lượng vết hái ở các vị trí rìa tán và giữa tán Sau đó, lấy trị số trung bình và quy ra búp/m², đồng thời theo dõi theo từng lứa hái.
Để xác định trọng lượng búp 1 tôm 2 lá (gam), tiến hành hái ngẫu nhiên 100 búp từ 3 điểm khác nhau theo từng công thức Sau đó, cân trọng lượng trên cân kỹ thuật và tính trị số trung bình, từ đó quy ra trọng lượng của 1 búp, đồng thời theo dõi theo từng lứa hái.
Tỷ lệ bánh tẻ được xác định bằng cách cân 100 g mẫu và thực hiện bấm bẻ toàn bộ số búp của mẫu Đối với cuộng bẻ ngược, bấm từ cuống hái lên đỉnh búp, còn đối với lá, bấm từ cuống lá đến đầu lá Phần bấm bẻ có xơ gỗ già được gọi là phần bánh tẻ với khối lượng p1, trong khi phần non có khối lượng p2 Tỷ lệ bánh tẻ (%) được tính bằng công thức: Tỷ lệ bánh tẻ (%) = (p1/P) x 100%.
+ Năng suất: Theo dõi năng suất thực thu trên các ô thí nghiệm của từng lứa tính ra tạ búp tươi/ha
Phân tích chỉ tiêu sinh hóa trong chè được thực hiện bằng cách lấy mẫu chè tươi theo các công thức và tiến hành phân tích tại phòng Thí nghiệm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Mẫu chè tươi đã được thu thập một lần vào tháng 4 năm 2012.
Các chỉ tiêu phân tích sinh hóa chè Đường khử Phương pháp Betrand
Cafein Phương pháp trọng lượng
Tanin và chất hòa tan Phương pháp Levanthal
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá thực trạng sản xuất, tình hình sử dụng phân bón cho giống chè
3.1.1 Thực trạng sản xuất giống chè Kim Tuyên tại một số địa điểm ở Thái Nguyên
Thái Nguyên có diện tích trồng chè lên đến 17.660 ha, với sản lượng chè búp tươi đạt 171.900 tấn và giá trị xuất khẩu vượt 10 triệu USD (theo số liệu thống kê năm 2011) Trong đó, diện tích chè kinh doanh chiếm 16.053 ha, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế địa phương.
Thái Nguyên sản xuất 153.576 tấn chè, trong đó diện tích trồng chè trung du chiếm 66,79% Trong giai đoạn 2009-2010, tỉnh xuất khẩu hơn 7.000 tấn chè với giá trung bình từ 1,4-1,6 USD/kg, chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô Thương hiệu chè Thái Nguyên đã có từ lâu, hiện nay nguồn lợi chính đến từ chè xanh tiêu thụ nội địa Nhờ nỗ lực chuyển đổi cơ cấu giống, tỉnh đã phát triển một số giống chè mới nhập nội và lai tạo Ba vùng trồng chè chính của Thái Nguyên bao gồm huyện Đại Từ, huyện Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên.
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính tham gia trồng chè, với tổng diện tích chè lên tới 17.660 ha Trong đó, ba địa điểm nghiên cứu chiếm 51,99% diện tích, đặc biệt huyện Đại Từ có diện tích trồng lớn nhất là 5.253 ha, chiếm 30,31% toàn tỉnh Hiện nay, ba địa điểm chính đã trồng nhiều giống chè nhập nội và lai tạo.
Biểu đồ 3.1 Diện tích chè tại 3 địa điểm nghiên cứu so với toàn tỉnh
Từ năm 2000, Thái Nguyên đã tích cực chuyển đổi giống chè Trung Du sang các giống chè mới, với diện tích chè giống mới đạt 6.041 ha vào năm 2010, chiếm 34,20% tổng diện tích trồng chè.
Diện tích trồng chè giống mới tại 3 địa điểm điều tra là huyện Đại Từ, huyện Đồng Hỷ, Tp Thái Nguyên đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.2 Diện tích chè giống mới tại 3 địa điểm điều tra
Qua biểu đồ 3.2 cho thấy, tính đến năm 2010, diện tích chè giống mới tại 3 địa điểm lên tới 2.614,6 ha chiếm 28,47% tổng diện tích chè của 3 địa
Diện tích chè toàn tỉnh
Huyện Đại Từ là khu vực chiếm diện tích lớn nhất với 1.172 ha, tương đương 12,76% tổng diện tích Tiếp theo là huyện Đồng Hỷ với 901 ha, chiếm 9,8%, trong khi thành phố Thái Nguyên có diện tích 541,6 ha, chiếm 5,9%.
Diện tích chè trồng giống mới (tính từ năm 2008-2010) của 9 xã đại diện thuộc 3 địa điểm điều tra đƣợc thể hiện qua biểu đồ 3.3
Biểu đồ 3.3 Diện tích chè giống mới tại 9 xã điều tra
Từ năm 2008, diện tích trồng chè giống mới tại 9 xã điều tra của 3 địa điểm đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt tổng diện tích 720,64 ha, đặc biệt tại 3 xã của huyện Đại.
Từ có diện tích trồng cao nhất là 420,58 ha, tương đương với 58,36% tổng diện tích của 9 xã thuộc 3 địa điểm điều tra
Cơ cấu các giống chè mới ở các địa điểm
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 giống chè mới được trồng tại 3 xã Tân Cương, Phúc Xuân, và Phúc Trìu, trong đó nổi bật là các giống Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, chè LDP1 và chè TRI 777 Giống chè Kim Tuyên không chỉ có khả năng sinh trưởng tốt mà còn cho ra chất lượng chè xanh ngon khi được chế biến.
Thành phố Đồng Hỷ Đại Tƣ̀
Bảng 3.1 Cơ cấu các giống chè trồng mới ở thành phố Thái Nguyên giai đoạn
Chè LDP1 TRI777 Bát Tiên
( Nguồn: Phòng Nông nghiệp thành phố Thái Nguyên )
Giống chè TRI 777 phát triển mạnh mẽ tại vùng Tân Cương, mặc dù chất lượng chè xanh cao cấp không đạt bằng giống chè Kim Tuyên và Bát Tiên Tuy nhiên, giống chè này có khả năng sinh trưởng tốt và cho thu hoạch búp vào đầu đông, khi các giống khác không còn sản xuất búp Búp chè TRI 777 có trọng lượng lớn và tỷ lệ mù xòe thấp, giúp việc thu hái và chăm sóc trở nên dễ dàng hơn.
Giống chè Keo Am Tích và Thúy Ngọc có chất lượng chè xanh cao khi chế biến, nhưng mật độ búp lại thấp, khiến người dân không ưu tiên trồng.
Toàn huyện có tổng diện tích chè khoảng 5.200 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh đạt 5.054 ha với năng suất 99 tạ/ha Huyện đã khuyến khích trồng các giống chè mới như LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, TRI 777 và Bát Tiên trên diện tích hơn 1.000 ha Đại Từ đã phát triển một số vùng sản xuất chè chất lượng cao, bao gồm chè La Bằng chiếm khoảng 40% tổng diện tích, chè Làng Thượng tại xã Phú Thịnh với khoảng 50 ha, và chè Khuôn Gà ở xã Hùng Sơn với khoảng 40 ha.
Một số giống chè chất lượng cao đã khẳng định giá trị trên thị trường, với giá trị gấp 3-4 lần chè thương phẩm đại trà, giúp nâng cao thu nhập bình quân đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm Những vùng chè nổi bật như Đồng Đình, Tiến Thành, Đồng Tiến ở xã La Bằng và Làng Thượng xã Phú cũng góp phần vào sự phát triển này.
Xã Hùng Sơn, đặc biệt là khu vực Thịnh, Khuôn Gà, có thu nhập bình quân vượt 150 triệu đồng/ha/năm Với diện tích 1.074 ha chè chất lượng cao, sản lượng chè búp khô hàng năm ước đạt trên 2.500 tấn, chiếm 25,3% tổng sản lượng chè búp khô của huyện Đại Từ Huyện này hiện có 7 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và chế biến chè, thu mua khoảng 1.500 tấn chè búp tươi và 900 tấn chè búp khô mỗi năm.
Trong ba năm qua, diện tích chè giống mới tại huyện Đại Từ đã tăng lên 420,58 ha, theo biểu đồ 3.3 Những giống chè được ưu tiên trồng bao gồm LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, Keo Am Tích và Long Vân Huyện cũng tích cực cải tạo diện tích chè trung du cũ để nâng cao sản lượng Thông tin chi tiết về diện tích trồng chè giống mới được thể hiện trong bảng 3.2.
Bảng 3.2 Cơ cấu các giống chè trồng mới qua 3 năm của huyện Đại Từ ĐVT: Diện tích (ha)
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đại Từ)
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2010, huyện Đại Từ đã trồng mới tổng diện tích 420,58 ha chè, với giống chè Phúc Vân Tiên chiếm ưu thế nhất đạt 119,5 ha Tiếp theo là giống chè Kim Tuyên với diện tích 101,7 ha, và giống chè LDP1 đạt 70,6 ha.
Bảng 3.3 Cơ cấu các giống chè trồng mới của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2008-2010 ĐVT: Diện tích (ha)
Keo Am Tích TRI777 Bát
(Nguồn: Phòng Nông nghiệpvà phát triển nông thôn huyện Đồng Hỷ)
Trong giai đoạn từ 2008 đến 2010, huyện Đồng Hỷ đã trồng mới tổng diện tích 242,06 ha, với giống chè LDP1 dẫn đầu về diện tích trồng, đạt 88,89 ha Tiếp theo là giống Phúc Vân Tiên với 50,19 ha, giống TRI777 đạt 44,17 ha và giống Kim Tuyên với 35,45 ha.
Diện tích giống chè Kim Tuyên tại 9 xã điều tra so với một số giống chè khác trong khu vực thể hiện qua biểu đồ 3.4:
LDP1 TRI777 Bát Tiên Giống khác
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu giống chè của 3 địa điểm nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất, chất lƣợng chè Kim Tuyên
Năng suất và chất lượng cây trồng là kết quả của sự phối hợp giữa nhiều tính trạng và đặc tính sinh học, liên quan mật thiết đến điều kiện dinh dưỡng và khí hậu Nghiên cứu về cây chè đã chỉ ra rằng nhiều yếu tố như tài nguyên đất và khí hậu ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chè Đặng Văn Minh (2003) cho thấy chỉ có 4 trong 13 yếu tố hóa, lý tính có mối tương quan đáng kể với năng suất chè Trung du, bao gồm cacbon hữu cơ, kali tổng số, lân dễ tiêu và khả năng chứa ẩm Ngoài ra, các yếu tố vi lượng cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng chè, với hàm lượng khoáng trong búp chè tươi liên quan chặt chẽ đến dinh dưỡng khoáng của đất và phân bón.
Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, đặc biệt là ánh sáng mặt trời, ảnh hưởng đến hàm lượng catechin trong lá chè (Weiss, D.J., & Anderton, C R., 2003) Nghiên cứu của Chu Xuân Ái (1999) cho thấy độ ẩm và lượng mưa có mối liên hệ chặt chẽ với năng suất chè, trong đó độ ẩm ảnh hưởng nhiều hơn nhiệt độ Thái Nguyên hiện có hơn 17.660 ha đất trồng chè, với 6.041 ha là các giống chè mới, chiếm 34,21% diện tích Mỗi giống chè đều có yêu cầu riêng về điều kiện sinh thái và khí hậu Giống chè Kim Tuyên, một trong bốn giống chè mới được đưa vào tỉnh Thái Nguyên, đã được nhập vào Việt Nam từ năm 1994 và được trồng tại đây từ năm 2005, nổi bật với khả năng sinh trưởng khỏe, mật độ búp dày và tỷ lệ sống cao khi trồng mới.
Các giống chè khác nhau có năng suất và chất lượng đa dạng, yêu cầu mức độ phân bón khác nhau để tối ưu hóa tiềm năng Nghiên cứu của Chu Xuân Ái (1999) chỉ ra rằng mối quan hệ giữa phân bón, lượng dinh dưỡng trong cây và năng suất chè là rất quan trọng Các giống chè như PH1, TH3 và TRI 777 cho thấy sự khác biệt trong khả năng hấp thụ dinh dưỡng, với giống PH1 cần nhiều phân bón hơn để đạt năng suất cao Do đó, việc xây dựng chế độ bón phân hợp lý cho từng giống chè là cần thiết để nâng cao năng suất Kết quả phân tích mẫu đất từ 18 địa điểm trong khu vực nghiên cứu cũng được trình bày để hỗ trợ cho các phát hiện này.
Bảng 3.5 Kết quả phân tích một số nguyên tố dinh dƣỡng trong đất trồng giống chè Kim Tuyên tại các địa điểm nghiên cứu
K 2 O dễ tiêu (mg/100g) Zn (mg/100g) Cu (mg/100g)
Kết quả chạy tương quan đơn và tổng hợp một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất chè đƣợc trình bày ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Tương quan của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến năng suất búp tươi của giống chè Kim Tuyên
TT Biến Đơn vị tính
Hệ số tương quan đơn
Mức ý nghĩa của TQ đơn
Theo bảng 3.6, khi phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố dinh dưỡng và năng suất chè, hàm lượng mùn và lân dễ tiêu cho thấy hệ số tương quan cao nhất với năng suất, lần lượt là r=0,76 và 0,63, với độ tin cậy 95% Các yếu tố dinh dưỡng khác có hệ số tương quan thấp hơn và không đạt độ tin cậy 95%.
Kết quả phân tích tương quan cho thấy mối liên hệ giữa các hàm lượng dinh dưỡng trong đất, bao gồm mùn, lân, kali dễ tiêu, kẽm và đồng, với năng suất chè Phương trình mô tả mối quan hệ này đã được xác định, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của các yếu tố dinh dưỡng đến năng suất cây chè.
Nghiên cứu cho thấy hàm lượng mùn trong đất có mối quan hệ chặt chẽ với năng suất chè, với hệ số tương quan r = 0,81 và độ tin cậy 95% Trong khi đó, các yếu tố dinh dưỡng khác như P205 dễ tiêu, K20 dễ tiêu, Zn và Cu có ảnh hưởng không đáng kể, đặc biệt Cu chỉ có hệ số tương quan 0,19 Thành phần hóa học của chè xanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, mùa vụ, độ già của lá, khí hậu và điều kiện trồng trọt Việc cân đối hàm lượng dinh dưỡng N-P-K trong đất giúp cải thiện đáng kể hàm lượng đường, amino acid, polyphenol và catechin trong búp chè tươi, đặc biệt khi bổ sung đủ kali Các chỉ tiêu chất lượng chè quan trọng bao gồm tanin, đường khử và Vitamin C.
Phân tích tương quan giữa các yếu tố dinh dưỡng trong đất và hàm lượng tanin, đường khử cùng vitamin C trong chè cho thấy hàm lượng mùn có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng chè, như thể hiện trong bảng 3.7.
Bảng 3.7 Tương quan của một số yếu tố dinh dưỡng đất đến một số chỉ tiêu sinh hóa giống chè Kim Tuyên
TT Biến Đơn vị tính
Kết quả chạy tương quan cho phương trình sau:
X1: hàm lƣợng mùn; X2: P205 dễ tiêu; X3: K20 dễ tiêu; X4: Zn; X5: Cu
Với hệ số tương quan r = 0,38, p= 0,26>0,05 cho thấy hàm lượng một số dinh dưỡng trong đất tương quan không chặt với hàm lượng tanin của giống chè Kim Tuyên
* Hàm lượng đường khử Đường khử = 2,43+1,25X1+0,02X2+ 0,04X3+0,006X4 +0,012X5
X1: hàm lƣợng mùn; X2: P205 dễ tiêu; X3: K20 dễ tiêu; X4: Zn; X5: Cu
Các loại đường hòa tan trong chè xanh có vai trò quan trọng trong việc tạo hương vị, và sự thay đổi của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Dưới tác dụng của nhiệt độ, các đường khử sẽ bị caramel hóa hoặc tham gia vào phản ứng Maillard, phản ứng giữa đường và axit amin Các hợp phần tham gia phản ứng này, bao gồm protein và gluxit, tạo ra vị ngọt và điều hòa hương vị cho chè xanh.
Kết quả phân tích cho thấy hệ số tương quan r = 0,90 giữa yếu tố dinh dưỡng trong đất và hàm lượng đường khử, với độ tin cậy 95% Cụ thể, hàm lượng mùn, kali dễ tiêu và kẽm có mối tương quan chặt chẽ với chất lượng chè ở mức tin cậy 95%, trong khi các yếu tố khác chỉ có tương quan ở mức độ thấp hơn.
X1: hàm lƣợng mù;, X2: P205 dễ tiêu; X3: K20 dễ tiêu; X4: Zn; X5: Cu
Trong số các loại vitamin có trong chè, đáng chú ý nhất là vitamin C, hàm lƣợng vitamin C ở trong chè nhiều hơn trong cam chanh từ 3 đến 4 lần
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong đất có mối tương quan mạnh với hàm lượng đường khử và vitamin C, đạt độ tin cậy 95% Trong số các yếu tố, hàm lượng mùn có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng chè với hệ số tương quan lần lượt là 1,25 và 13,70, tiếp theo là hàm lượng K20 dễ tiêu.
Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên
3.3.1.Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến năng suất chè
Bảng 3.8 cho thấy rằng việc kết hợp phân chuồng và phân NPK với phun phân qua lá làm tăng mật độ búp rõ rệt, từ 604,29 búp/m² lên 676,19 - 683,09 búp/m² Mặc dù mật độ búp giữa các công thức phun phân qua lá không có sự khác biệt lớn, nhưng năng suất thực thu và lý thuyết của các công thức này có sự sai khác đáng kể so với công thức đối chứng với độ tin cậy 95%.
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Trọng lƣợng búp 1tôm 2 lá (g)
Năng suất thực thu (tấn/ha/ năm)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha/năm)
Nền + phun nước lã (đ/c) 604,29 0,45 8,12 8,47 12,10 Nền + Phân bón lá Rong
Nền + Phân bón lá Pomior 683,09 0,45 5,91 9,72 13,88
Nền + Phân bón lá Yogen
Ghi chú: Các yếu tố cấu thành năng suất trong bảng tính trung bình trong 7 lứa hái
Kết quả so sánh năng suất thực thu giữa các công thức thí nghiệm với công thức đối chứng đƣợc trình bày qua biểu đồ 3.6
Biểu đồ 3.6 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến năng suất thực thu của giống chè Kim Tuyên
Qua biểu đồ 3.6 cho thấy, phun phân bón lá cho chè làm tăng năng suất thực thu của giống chè Kim Tuyên từ 12,26%-14,75% so với đối chứng
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số chỉ tiêu sinh hóa của giống chè Kim Tuyên
Nền + Phân bón lá Rong
Nền + Phân bón lá Pomior 23,95 35,40 176,16 5,74 3,25
Nền + Phân bón lá Yogen
Phân tích sinh hóa cho thấy việc phun các loại phân qua lá không ảnh hưởng đến chất lượng chè so với công thức đối chứng Các chỉ tiêu như hàm lượng tanin, chất hòa tan, đường khử, vitamin C và cafein giữa các công thức và đối chứng không có sự khác biệt ở mức 95%.
Bảng 3.10 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của bón phân qua lá đến hiệu quả kinh tế trên giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Nền + phun nước lã (đ/c) 169.400 93.554 75.846 100,00 Nền + Phân bón lá Rong Biển 193.000 105.078 87.922 115,92 Nền + Phân bón lá Pomior 194.400 105.169 89.231 117,64 Nền + Phân bón lá Yogen No.2 190.000 104.478 85.522 112,75
Theo bảng 3.10, việc phun phân bón lá đã cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho cây chè, dẫn đến việc tăng lãi thuần từ 12,75% đến 17,64% so với công thức đối chứng Đặc biệt, phân bón lá Pomior mang lại lãi thuần cao nhất, đạt 17,64% so với phương pháp bón phân thông thường.
3.3.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên
Kết quả điều tra của Viện quy hoạch & thiết kế nông nghiệp năm 2006 cho thấy Vùng chè Tân Cương, bao gồm ba xã Phúc Xuân, Phúc Trìu và Tân Cương, chủ yếu trồng chè trên hai loại đất: đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) và đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs) Thí nghiệm xác định tổ hợp phân bón cho chè Kim Tuyên được thực hiện trên đất Fs, với các phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất vườn thí nghiệm được trình bày rõ ràng trong bảng 3.11.
Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu lý hóa tính của đất tại địa điểm thí nghiệm
Kết quả thí nghiệm cho thấy hàm lượng dinh dưỡng đất tại địa điểm nghiên cứu có chất hữu cơ đạt 2,34% và đạm tổng số 0,15%, nhưng hàm lượng P205 và K20 dễ tiêu lại thấp, chỉ đạt 4,01 mg/100 g đất và 2,83 mg/100 g đất Theo nghiên cứu của Horuz và cộng sự (2006), hàm lượng lân dễ tiêu từ 7-10 mg/100 g đất và kali từ 15-20 mg/100 g đất, kết hợp với bón đạm cân đối, sẽ mang lại năng suất và chất lượng chè tốt nhất Nguồn phân bón hữu cơ rất quan trọng cho cây chè, giúp cung cấp dinh dưỡng và cải tạo độ ẩm, nâng cao hàm lượng mùn trong đất Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tạo (2005) cho thấy bón phân chuồng 25 tấn/ha trong 3 năm đã làm tăng năng suất chè từ 10,61-13,45% so với đối chứng Tuy nhiên, nguồn cung cấp chất hữu cơ tại chỗ đang trở nên khan hiếm do sự giảm sút trong chăn nuôi hộ gia đình, dẫn đến việc nhiều hộ chỉ sử dụng phân hóa học, chủ yếu là NPK, làm đất kém tơi xốp và khả năng giữ ẩm giảm Để tìm kiếm giải pháp thay thế cho phân chuồng, thí nghiệm về ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ vi sinh đến năng suất chè Kim Tuyên đã được thực hiện, với kết quả được trình bày trong bảng 3.12.
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống chè Kim Tuyên
Trọng lƣợng búp 1tôm 2 lá (g)
Năng suất thực thu (tấn/ha/ năm)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha/năm)
+ phân NPK (đ/c) 614,34 0,45 7,84 8,67 12,77 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Ghi chú: Các yếu tố cấu thành năng suất trong bảng tính trung bình trong 7 lứa hái
Biểu đồ 3.7 thể hiện kết quả so sánh năng suất thực thu giữa các công thức thí nghiệm với công thức đối chứng
Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất thực thu giống chè Kim Tuyên
Số liệu từ bảng 3.12 và biểu đồ 3.7 cho thấy việc thay thế phân chuồng bằng hai loại phân bón hữu cơ vi sinh đã cải thiện mật độ búp chè, với công thức bón phân vi sinh Sông Gianh đạt 678,34 búp/m², cao hơn so với 614,34 búp/m² của phân chuồng hoai mục Mặc dù không có sự khác biệt về năng suất thực thu và năng suất lý thuyết giữa công thức bón phân NTT và phân chuồng, nhưng công thức bón phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho năng suất cao hơn 11,3% so với công thức đối chứng, đạt mức tin cậy 95%.
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh hóa của giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Bón phân hữu cơ NTT + phân
Phân tích từ bảng 3.13 cho thấy rằng việc thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh không làm thay đổi đáng kể các chỉ tiêu như tanin, cafein, chất hòa tan và đường khử trong các công thức thí nghiệm.
Hàm lƣợng vitamin C ở công thức bón phân NTT đạt 182,34 mg/100 g cao hơn so với đối chứng ở mức tin cậy 95%
Bảng 3.14 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của bón phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế của giống chè Kim Tuyên
NPK (đ/c) 173.400 104.354 69.046 100,00 Phân hữu cơ vi sinh
Bón phân hữu cơ NTT + phân NPK 182.200 105.074 77.126 111,70
Theo số liệu từ bảng 3.14, phân hữu cơ sinh học NTT và phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh không chỉ có khả năng thay thế phân chuồng trong việc bón cho chè mà còn góp phần tăng lãi thuần Cụ thể, việc bón phân sinh học NTT giúp tăng lãi thuần lên 11,7%, trong khi phân hữu cơ Sông Gianh mang lại mức tăng lãi thuần lên đến 24,15%.
3.3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên Đối với giống chè Kim Tuyên, ngoài việc có thể chế biến chè xanh chất lƣợng cao, giống còn có khả năng làm nguyên liệu chế biến chè Ôlong Chè Ôlong là sản phẩm chè có mùi hương đặc trưng, vị ngọt dịu Nguyên liệu dùng để chế biến chè Ôlong có yêu cầu rất cao, ngoài việc có hương thơm đặc trƣng của giống, vùng nguyên liệu chè phải đƣợc chăm sóc theo mô hình sản xuất chè an toàn với phương thức canh tác giảm hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như phân bón hóa học Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra có thể dùng nguồn phân bón hữu cơ để thay thế cho phân vô cơ Đỗ Văn Ngọc
Nghiên cứu năm 2009 cho thấy việc thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ cho giống chè LDP1 đã làm tăng mật độ búp chè lên 27% so với đối chứng, với chất lượng chè A+B đạt 88,7% Năm 2010, Nguyễn Hữu Thọ và cộng sự đã chỉ ra rằng việc sử dụng phân bón hữu cơ cho chè Trung Du tại Tân Cương trong 7 năm dẫn đến hàm lượng mùn, đạm, lân, kali trong đất giảm ở phương thức canh tác truyền thống so với canh tác hữu cơ Nghiên cứu về tổ hợp phân bón gồm phân chuồng kết hợp với phân gà và nước đậu tương ngâm nhằm giảm thiểu lượng phân bón hóa học đã góp phần nâng cao chất lượng chè nguyên liệu Kết quả ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất chè Kim Tuyên được trình bày tại bảng 3.15.
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của loại phân bón đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Số lứa hái/năm (lứa)
Khối lƣợng búp 1tôm 2 lá (g)
Năng suất thực thu (tấn/ ha/ năm)
Năng suất lý thuyết (tấn/ ha/năm)
Phân chuồng + tưới nước đậu tương ngâm
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất được thể hiện trong bảng tính trung bình của 7 lứa hái theo công thức đối chứng và bón phân gà, cùng với 8 lứa sử dụng công thức tưới đậu tương ngâm.
Kết quả từ bảng 3.15 cho thấy rằng việc bón phân chuồng kết hợp với phân gà và nước đậu tương ngâm dẫn đến trọng lượng búp nhỏ hơn so với việc bón phân NPK Cụ thể, công thức bón phân chuồng kết hợp với NPK đạt trung bình 617,71 búp/m², trong khi hai công thức còn lại chỉ đạt 577,21 búp/m² với phân gà và 523,74 búp/m² với nước đậu tương ngâm Tỷ lệ bánh tẻ giảm ở công thức tưới đậu tương so với công thức bón phân chuồng kết hợp NPK, nhưng số lứa hái trên công thức tưới đậu tương lại tăng thêm một lứa Năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm được trình bày qua biểu đồ 3.8.
Biểu đồ 3.8 Ảnh hưởng của loại phân bón đến năng suất thực thu của giống chè Kim Tuyên
Kết quả từ bảng 3.15 và biểu đồ 3.8 cho thấy rằng năng suất thực thu của chè khi sử dụng công thức bón phân chuồng kết hợp với phân gà giảm so với đối chứng, chỉ đạt 8,21 tấn/ha, tương đương 85,25% so với công thức bón phân thông thường, với độ sai khác ở mức tin cậy 95% Trong khi đó, công thức tưới đậu tương ngâm đạt năng suất 8,54 tấn/ha, tương ứng 88,68% so với công thức đối chứng.
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của loại phân bón đến một số chỉ tiêu sinh hóa của giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Phân chuồng + 5 tấn phân gà 23,72 35,22 182,34 6,32 3,05
Phân chuồng + tưới nước đậu tương ngâm
Kết quả phân tích sinh hóa cho thấy chè tưới nước ngâm ủ từ đậu tương có một số chỉ tiêu sinh hóa cao hơn so với công thức đối chứng Cụ thể, hàm lượng đường, vitamin C và chất hòa tan đều tăng, trong khi hàm lượng tanin ở công thức tưới đậu tương là 22,19%, thấp hơn 1,45% so với công thức bón phân chuồng kết hợp NPK Hàm lượng đường tăng 1,78%, trong khi cafein không có sự khác biệt so với công thức đối chứng Đặc biệt, hàm lượng vitamin C cao hơn công thức đối chứng với mức tin cậy 95%.
Bảng 3.17 Sơ bộ hạch toán ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống chè Kim Tuyên Chỉ tiêu
Bón phân chuồng + NPK (đ/c) 192.600 103.194 89.406 100,00 Phân chuồng + 5 tấn phân gà 164.200 89.940 74.260 83,06
Phân chuồng + tưới nước đậu tương ngâm 213.500 103.760 109.740 122,74
Hạch toán sơ bộ về ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống chè Kim Tuyên cho thấy rằng công thức bón phân gà kết hợp với phân chuồng đạt lãi thuần 74,26 triệu đồng, thấp hơn 15,146 triệu đồng so với công thức đối chứng Mặc dù công thức bón phân chuồng kết hợp tưới nước đậu tương ngâm có năng suất giảm, nhưng nhờ giá bán chè cao hơn, lãi thuần đạt tăng 20,334 triệu đồng, tương ứng với 22,74% so với đối chứng Đặc biệt, một số chỉ tiêu chất lượng của chè Kim Tuyên trong các công thức bón thay thế NPK hóa học bằng phân gà và đậu tương lại cao hơn so với công thức đối chứng.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Giống chè Kim Tuyên đang phát triển mạnh mẽ tại Thái Nguyên, với giá bán cao và ổn định Theo kết quả điều tra, diện tích trồng chè Kim Tuyên đạt 152,7 ha, chiếm 23,21% tổng diện tích các giống chè đang trồng trong khu vực 9 xã nghiên cứu.
Tình hình sử dụng phân bón cho giống chè Kim Tuyên tại các vùng trồng chè có sự khác biệt rõ rệt Mặc dù phân hóa học vẫn là lựa chọn phổ biến, nhưng tại các xã Tân Cương, Phúc Xuân, và Phúc Trìu, người dân đã chuyển sang sử dụng phân hữu cơ sinh học Trong số các loại phân hữu cơ, phân hữu cơ Sông Gianh được ưa chuộng nhất, tiếp theo là phân hữu cơ sinh học NTT của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Phân tích tương quan cho thấy các yếu tố dinh dưỡng trong đất có mối liên hệ chặt chẽ với năng suất chè, với hệ số tương quan r = 0,81 và độ tin cậy đạt 95% Trong đó, hàm lượng mùn thể hiện ý nghĩa cao nhất với hệ số tương quan đơn là r = 0,76.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong đất có mối tương quan chặt chẽ với hàm lượng đường khử và vitamin C trong chè, với độ tin cậy 95% Trong số các yếu tố, hàm lượng mùn có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng chè, với hệ số tương quan lần lượt là 1,25 và 13,70, tiếp theo là hàm lượng K2O dễ tiêu.
- Kết quả nghiên cứu phân bón cho thấy:
Phun phân qua lá cho chè không ảnh hưởng đến chất lượng chè so với công thức đối chứng, đồng thời còn giúp tăng lãi thuần từ 12,75% đến 17,64% so với đối chứng.
Bón phân hữu cơ sinh học Sông Gianh và phân hữu cơ NTT mang lại chất lượng chè nguyên liệu tương đương với việc sử dụng phân chuồng Sử dụng công thức bón phân Sông Gianh giúp năng suất chè tăng 11,1% so với đối chứng, đồng thời lãi thuần cũng tăng 24,15%.
Sử dụng tổ hợp bón phân chuồng kết hợp với tưới nước đậu tương ngâm đã nâng cao chất lượng chè thành phẩm, giúp lãi thuần trên 1 ha chè tăng 22,74% so với quy trình bón phân thông thường.
Đề nghị
Nghiên cứu về các yếu tố dinh dưỡng đất liên quan đến giống chè Kim Tuyên đã được thực hiện trong một năm với số lượng mẫu hạn chế Do đó, cần tiến hành các nghiên cứu bổ sung trong những năm tiếp theo để đảm bảo độ tin cậy của kết quả thu được.
Tỷ lệ hộ dân sử dụng phân bón hữu cơ sinh học cho giống chè Kim Tuyên còn thấp ở huyện Đồng Hỷ và huyện Đại Từ Do đó, cần triển khai các mô hình khuyến cáo nhằm giảm thiểu việc sử dụng phân bón hóa học và tăng cường ứng dụng phân hữu cơ, từ đó cải thiện hàm lượng mùn trong đất và nâng cao chất lượng chè.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá, phân hữu cơ vi sinh và tổ hợp phân bón là cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng chè Bên cạnh đó, áp dụng các biện pháp kỹ thuật như phòng trừ sâu bệnh và tưới nước trong mùa khô sẽ hỗ trợ cho việc phát triển giống chè Kim Tuyên tại tỉnh Thái Nguyên Những kết quả này sẽ là cơ sở để xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh hiệu quả cho các vùng trồng chè.