1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật có mạch trong một số kiểu thảm thực vật tại thị trấn yên bình, huyện quang bình, tỉnh hà giang góp phần bảo tồn đa dạng sinh học

124 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật có mạch trong một số kiểu thảm thực vật tại thị trấn yên bình, huyện quang bình, tỉnh hà giang góp phần bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả Đàm Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Ma Thị Ngọc Mai
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Sinh Thái Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do điều kiện hạn chế về thời gian và không có kinh phí do vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu: - Tính đa dạng về thành phần loài; Đa dạng về giá trị sử dụng; Đa dạng về thành phần dạng

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀM THỊ NGA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÖC VÀ TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT CÓ MẠCH TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT TẠI THỊ TRẤN YÊN BÌNH - HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG

GÓP PHẦN BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Chuyên ngành: Sinh Thái Học

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học tại khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình!

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Ma Thị Ngọc Mai, người thầy đã tận tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Bam Giám hiệu; các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa; các thầy cô và các anh (chị) kỹ thuật viên thuộc khoa Sinh – KTNNN; Phòng quản lý và Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên; thầy cô giáo Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật

đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND Thị Trấn Yên Bình, Chi cục Kiểm lâm Huyện Quang Bình, phòng Thống kê huyện Quang Bình, Ban Quản

lý khu mỏ quặng Khoang Ao Xanh – huyện Quang Bình – Tỉnh Hà Giang Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường THPT Xuân Giang - Huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học Cao học

Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót

Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo,

các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 24 tháng 4 năm 2012

Tác giả

Đàm Thị Nga

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, là do công sức của mình Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Mục lục 3

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt 5

Danh mục các bảng 6

Dangh lục các hình vẽ, đồ thị 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục tiêu nghiên cứu 9

3 Phạm vi nghiên cứu 9

4 Đóng góp của luận văn 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 10

1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 10

1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 10

1 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 14

1 2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 14

1 2 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 15

1.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 16

1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 16

1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 19

1.4 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng 21

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 23

2.1 Điều kiện tự nhiên 23

2.1.1 Vị trí địa lý 23

2.1.2 Địa hình 24

2.1.3 Đất đai 25

2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 26

2.1.5 Tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản 27

2.2 Điều kiện xã hội 28

Trang 5

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Phương pháp nghiên cứu 29

3.2.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC) 29

3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 30

3.2.3 Phương pháp điều tra trong dân 30

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

4.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật KVNC 31

4.1.1 Hiện trạng thảm thực vật 31

4 2 Đa dạng về cấu trúc và hình thái của các trạng thái thảm thực vật 34

4.2.1 Trạng thái thảm cỏ 37

4.2.2 Trạng thái thảm cây bụi 37

4.2.3 Trạng thái rừng non thứ sinh 38

4.2.4 Trạng thái rừng thứ sinh trưởng thành 38

4.2.5 Trạng thái rừng nguyên sinh 39

4.3 Đa dạng về hệ thực vật khu vực nghiên cứu 41

4.3.1 Đa dạng ở mức độ ngành 41

4.3.2 Đa dạng về số họ 43

4.3.3 Đa dạng ở mức độ chi 48

4.4 Đa dạng hệ thực vật trong các trạng thái thảm thực vật 49

4.4.1 Đa dạng về mức độ ngành trong các trạng thái TTV ở KVNC 49

4.4.2 Đa dạng về số họ trong các trạng thái TTV ở KVNC 51

4.4.3 Đa dạng về số chi trong các trạng thái TTV ở KVNC 60

4.5 Đa dạng về thành phần các loài thực vật quý hiếm 64

4.6 Đa dạng về thành phần dạng sống 65

4.7 Đa dạng về giá trị sử dụng 68

4.8 Đề xuất giải pháp bảo tồn, nâng cao đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 97

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CR Rất nguy cấp (Critically Endangered)

IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

Quốc tế ( The Internatonal Union for Conservation of nature and Natural Resources)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số liệu khí hậu của Huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang 27

Bảng 4.1 Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật khu vực nghiên cứu 34

Bảng 4.2 Phân bố các bậc taxon (họ, chi, loài) trong các ngành ở khu vực nghiên cứu 41

Bảng 4.3 Các họ có từ 2 loài trở lên tại KVNC 43

Bảng 4.4 Các chi có từ 3 loài trở lên tại KVNC 48

Bảng 4.5 Số lượng, tỷ lệ % các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 49

Bảng 4.6 Những họ có từ hai loài trở lên trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh,rừng nguyên sinh 51

Bảng 4.7 Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 60

Bảng 4.8 Các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở VNC 64

Bảng 4.9.Dạng sống trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 66

Bảng 4.10 So sánh các phổ dạng sống Lâm Sơn và vùng nghiên cứu 68

Bảng 4.11 Một số công dụng chính của các loài thực vật VNC 69

Bảng 4.12 Các loài làm rau ăn trong khu vực nghiên cứu 70

Bảng 4.13 Các loài cho quả trong khu vực nghiên cứu 72

Bảng 4.14 Các loài cho gỗ trong khu vực nghiên cứu 73

Bảng 4.15 Các loài dùng làm thuốc trong khu vực nghiên cứu 78

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Trang Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 24 Hình 4.1 Biểu đồ phân bố các bậc taxon (họ, chi, loài) trong các ngành

thực vật tại khu vực nghiên cứu 42

Hình 4.2 Biểu đồ Tỷ lệ % các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật 50 Hình 4.3 Biểu đồ Dạng sống trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi,

rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thảm thực vật rừng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, rừng được coi là một trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, rừng cung cấp nhiều sản vật phục vụ cuộc sống con người như: gỗ, củi đốt, nguyên liệu làm giấy

và cây thuốc…

Rừng góp phần duy trì chất lượng và nguồn nước sạch Hơn 3/4 lượng nước sạch trên trái đất bắt nguồn từ rừng Khi diện tích và chất lượng của rừng bị suy giảm sẽ làm cho chất lượng nước suy giảm; thiên tai như lũ lụt, lở đất và thoái hóa đất đã gây ra những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con người

và các sinh vật trên trái đất Rừng có vai trò như cỗ máy điều hòa tự nhiên, là những cỗ máy vệ sinh cần mẫn góp phần làm cho môi trường trong trong lành, bớt độc hại bởi chúng có khả năng hấp thụ, lọc, hút bớt lượng các chất khí độc hại, chống ô nhiễm, làm sạch không khí, giảm tiếng ồn giúp tránh được những nguy hại cho sức khỏe con người

Một điều rất rõ rằng rừng đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu, rừng lưu giữ cacbon và hấp thụ CO2 từ không khí

Với đặc điểm là hệ sinh thái trên cạn có tính đa dạng sinh học cao bậc nhất, rừng là nơi trú ngụ của hơn một nửa số sinh vật trên cạn từ những loài linh trưởng khổng lồ tới những sinh vật nhỏ bé nhất

Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang là một trong những nơi có diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 77,7% với thành phần loài thực vật khá phong phú và đa dạng Từ những năm gần đây hiện tượng chặt phá rừng, khai thác lâm sản thường diễn ra thường xuyên làm cho chất lượng rừng bị giảm sút nghiêm trọng Một yêu cầu cấp bách được đặt ra là bảo vệ các hệ sinh thái rừng đặc trưng, nhất là những khu rừng nguyên sinh và phục hồi các hệ sinh thái rừng đang và đã bị suy thoái, bảo vệ tính đa dạng của thực vật, đặc biệt là bảo vệ các loài thực vật quý hiếm trên địa bàn Thị trấn Yên Bình.Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài:

Trang 10

“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật có mạch trong một

số kiểu thảm thực vật tại Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang góp phần bảo tồn Đa dạng sinh học”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của UNESCO (1973) và xác định cấu trúc hình thái các kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu

- Xác định tính đa dạng về thành phần loài, đa dạng về giá trị sử dụng, đa dạng về thành phần dạng sống

- Xác định một số loài thực vật quý hiếm dựa theo Sách đỏ Việt Nam

(Phần II Phần Thực vật) (2007), danh lục đỏ IUCN (2006) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, nâng cao đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 tại khu vực thị trấn Yên Bình Huyện Quang Bình Tỉnh Hà Giang Do điều kiện hạn chế về thời gian và không có kinh phí do vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu:

- Tính đa dạng về thành phần loài; Đa dạng về giá trị sử dụng; Đa dạng về thành phần dạng sống; Cấu trúc các kiểu thảm thực vật; Bước đầu phát hiện một

số loài thực vật quý hiếm; Lập bảng danh lục các loài trong các kiểu thảm thực vật ở tại khu vực nghiên cứu

4 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu đã xác định được thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật ở Thị trấn Yên Bình, Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang

- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007)

- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới

Dop P và Gaussen H.(1931), với công trình nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương với lượng mưa hàng năm

H.G Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện

đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn lớn theo nhiệt độ đó là: thảm thực vật nhiệt đới, thảm thực vật á nhiệt đới, thảm thực vật ôn đới và thảm thực vật vùng núi cao

J Beard (1938), đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ

và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm

Maurand (1943), nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và Trung Đông Dương

1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam

Nghiên cứu lâm sinh học ở nước ta trong mấy thập kỷ qua đã thu được nhiều thành tựu quan trọng đặt nền móng cho các nghiên cứu ứng dụng, nhằm đưa ra các giải pháp kỹ thuật phục vụ cho sản xuất Từ khi nguồn tài nguyên rừng còn phong phú những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân loại thực vật, giá trị

sử dụng của tài nguyên gỗ rừng Việt nam; Nghiên cứu các trạng thái thảm thực vật, nguyên nhân hình thành, các giai đoạn phát triển Đó là những nghiên cứu đặt cơ sở khoa học cho nhiều nghiên cứu tiếp tục sau này

Năm 1918, nhà bác học Pháp, Chevalier là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân

Trang 12

loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới) Năm 1943, kỹ sư lâm học người Pháp, Ronaldo đã chia Đông Dương thành 3

vùng thảm thực vật: Thảm thực vật Bắc Đông Dương; Thảm thực vật Nam Đông

Dương; Thảm thực vật vùng trung gian Năm 1953, ở miền Nam Việt Nam xuất

hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam Việt Nam của Maurand khi

ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý

Văn Hội, Neang Sam Oil Năm 1956, giáo sư người Việt Nam, Dương Hàm Hi

đã xếp loại thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam theo 1 bảng phân loại mới

Năm 1962, ở miền nam Việt nam còn xuất hiện một bảng phân loại thảm

thực vật rừng Nam Trường Sơn Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp

Việt nam về thảm thực vật rừng ở Việt nam là bản phân loại của Cục điều tra và

quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt nam, bảng phân loại này xây

dựng năm 1960, theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt nam được

Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành

nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến

tái sinh, tu bổ, cải tạo

Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị

phá hoại, cần khai thác hợp lý.Phân loại này không phân biệt được kiểu rừng

nguyên sinh với các kiểu phụ thứ sinh và các giai đoạn diễn thế

Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt

nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao:

Đai rừng nhiệt đới mưa mùa

Trang 13

Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa

Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao

Trong mỗi đai, phân các kiểu thảm thực vật rừng, mỗi kiểu phân thành các loại hình khí hậu, các kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh Những kiểu này được đại diện bằng một hai loài cây ưu thế Công trình nghiên cứu phân loại của Trần Ngũ Phương cho thấy các kiểu rừng khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng, kiểu phụ thứ sinh đều là các kiểu rừng hỗn loại đa dạng, phức tạp với nhiều loài cây, loài

ưu thế không rõ Trừ những trường hợp đất đai đặc biệt (lầy mặn, cát) chỉ số ít loài sinh sống được mới tạo nên ưu thế rõ rệt

Năm 1970, Thái Văn Trừng công bố hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Đây là công trình phân loại rừng hoàn chỉnh và có nhiều căn cứ xác đáng Căn cứ trên 5 nhân tố phát sinh :

Nhóm nhân tố địa lý- địa hình (vĩ độ, độ cao)

Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ văn ; Chế độ nhiệt , chế độ ẩm

Nhóm khu hệ thực vật

Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ nhưỡng

Nhóm nhân tố sinh vật - con người

Ông đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam được chia thành 14 kiểu thảm thực vật Trong mỗi kiểu, căn cứ vùng địa lý, các nhân tố sinh thái phát sinh quần thể, hình thái cấu trúc quần hệ; thành phần loài cây và các kiểu phụ, các ưu hợp thực vật; chia kiểu phụ miền thực vật

Trong 14 kiểu rừng, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới là kiểu phong phú nhất

Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng

đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt nam trên quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt nam phù hợp nhất trên

Trang 14

quan điểm sinh thái cho đến nay

Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn: quần lạc thân gỗ kín tán, quần lạc thân gỗ thưa, quần lạc thân cỏ kín rậm, quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc

Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nan thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau

Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: Rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần

Vũ Tự Lập và cộng sự (1995), cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan

hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá, kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh, kiểu rừng rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá, kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng

lá, kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim, kiểu sa van nhiệt đới khô, kiểu truông nhiệt đới khô, kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi, kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn, kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn, kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao, kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín, kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa, kiểu rừng lùn đỉnh cao

Thái Văn Trừng (1998), khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 8 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) [37]

Trang 15

Nguyễn Thế Hưng (2003), cũng dựa trên nguyên tắc phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) [17]

Lê Ngọc Công (2004), cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973)

đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ rừng rậm, rừng thưa, thảm cây bụi và thảm cỏ Những trạng thái thứ sinh trên khu vực nghiên cứu gồm: trảng cỏ, trảng cây bụi và rừng thưa, được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy[15]

Ma Thị Ngọc Mai (2007) [42], nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh tỉnhVĩnh Phúc và vùng phụ cận

đã kết luận từ độ cao 700m trở xuống, thảm thực vật bị suy thoái nghiêm trọng Rừng ngưyên sinh đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên Theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973), thảm thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc)

và vùng phụ cận có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây trong quá trình diễn thế đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: Thảm cỏ -> thảm cây bụi -> rừng thứ sinh -> rừng thành thục

1 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật

1 2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới

Năm 1962, G.N.Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân

bố ở các châu lục như sau:

- Châu Á có khoảng 125.000 loài, trong đó: Đông Nam Á (80.000 loài), các khu vực nhiệt đới Ấn Độ (26.000 loài), Tiểu Á (8.000 loài), Viễn Đông thuộc Liên Bang Nga, Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc (6.000 loài), Xibêria thuộc Liên Bang Nga, Mông Cổ và Trung Á (5.000 loài)

- Châu Âu có khoảng 15.000 loài, trong đó: Trung và Bắc Âu (.5000 loài), Nam Âu, vùng Ban Căng và Capcasơ (10.000 loài)

Trang 16

- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, trong đó: Hoa Kỳ và Canada (25.000 loài), Mêhicô và Trung Mỹ (17.000 loài), Nam Mỹ (56.000 loài), Đất Lửa và Nam Cực (1.000 loài)

- Châu Phi có khoảng 40.500 loài, trong đó: Các vùng nhiệt đới ẩm (15.500 loài), Madagasca (7000 loài), Nam Phi (6.500 loài), Bắc Phi, Angieri, Marốc và các vùng phụ cận khác (4.500 loài), Abitxini (4.000 loài), Tuynidi và Aicập (2.000 loài), Xomali và Eritrea (1.000 loài)

- Châu Úc có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông Bắc Úc (6.000 loài), Tây Nam Úc (5.500 loài), Lục địa Úc (5.000 loài), Taxman và Tây Tây Lan (4.500 loài)( dẫn theo Lê Trọng Cúc [18])

Năm 1965 Al.A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng : 300.000 loài thực vậ hạt kín, 5.000 đến 7.000 loài thực ậtt hạt trần, 6.000 đến 10.000 loài quyết thực vật, 14.000 đến 18.000 loài rêu, 19.000 đến 40.000 loài tảo, 15.000 đến 20.000 loài địa y, 85.000 đến 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác

1 2 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực vật rừng nước ta được M H Lecomte - Nhà thực vật học người Pháp, đã nghiên cứu và công trình ông để lại cho đến nay vẫn hết sức giá trị, đó là bộ sách "Thực vật chí Đông Dương" (Flore général de L'indo-chine) Trong công Trình này, tác giả người Pháp đã kiểm kê được ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch Đây là công trình rất có ý nghĩa và là nguồn tư liệu quý trong nghiên cứu hệ thực vật Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật học dự đoán con số đó có thể lên tới 12.000 loài Căn cứ vào bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương cùng nhiều công trình xuất bản từ năm 1942 đến 1969, Phan kế Lộc trong công trình: “Bước đầu thống

kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” cho thấy, hệ thực vật Miền Bắc Việt Nam có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ [31]

Trang 17

Nguyễn Tiến Bân (1997), đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [5] Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật ở Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291

họ Tính thêm cả khoảng 733 loài cây trồng đã đươc nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ

1.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống

1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài

Ở Liên Xô (cũ ) có nhiều công trình nghiên cứu của Alokhin (1904), Vưsotxki (1915), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva(1978)…Theo các tác giả cho rằng mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm thực vật này so với thảm thực vật khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Việc nghiên cưua thành phần loài , thành phần dạng sống là một chỉ tiêu rất quan trọng trong phân loại thảm thực vật (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thuỷ [10])

Ramakrishman (1981 – 1992), nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài thấp nhất, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Thái Văn Trừng (1970), đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [35]

Phan Kế Lộc (1970), đã xác định hệ thực vật Miền Bắc ở nước ta có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ

Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975), đã thống kê 39 loài cây bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi Phía Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [5]

Trang 18

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương

Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) [22], trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống

kê số loài thực vật có hiện nay của hệ thực vật là 10.500 loài

Đỗ Tất Lợi (1995), khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết ở các tỉnh ở nước ta [23]

Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) [8], nghiên cứu về thành phần loài dạng sống của savan bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [24], khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của Savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài

Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) , khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu

hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và 1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [29]

Phan Nguyên Hồng (1999), đã thống kê được 106 loài cây ngập mặn, trong đó vùng ven biển Nam Bộ có 100 loài, vùng ven biển Trung Bộ có 69 loài, ven biển Bắc Bộ có 52 loài, chủ yếu gồm các loài cây Đước, Vẹt (họ Rhizophoraceae), Mấm (họ Avicenniaceae), Bần (họ Sonneratiaceae), Dừa nước, Chà là (họ Palmae), Rau sam đỏ (họ Aizoaceae)

Lê Đồng Tấn (2000) , khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng , mật độ cây giảm

từ chân đồi lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài, tuổi 10 có 56 loài và tuổi 14 có 53 loài

Trang 19

Nguyễn Thế Hưng (2003) [25] đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả,Tỉnh Quảng Ninh có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch

Trần Nghi (2003), theo số liệu thống kê mới nhất, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là rừng nguyên sinh trên núi đá vôi điển hình với các loại thực vật

đặc trưng như: nghiến (Burretiodendron hsienmu), chò đãi (Annamocarya spp.), chò nước (Plantanus kerii) và sao (Hopea spp.) Thực vật có mạch 152 họ, 511

kiểu gen, 876 loài thực vật có mạch, trong dó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó

có Sao và cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) [38]

Lê Ngọc Công (2004) [15] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…

Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ

Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) [34] nghiên cứu về thảm thực vật tại Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng cây bụi cao tử 2 – 5m

Nguyễn Quốc Trị, Vũ Anh Tài, Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), nghiên cứu

đa dạng hệ thực vật ở vườn quốc gia Hoàng Liên đã xác định được Tính đa dạng được đánh giá theo sự đa dạng về phân loại, đa dạng về dạng sống, đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật, đa dạng về giá trị sử dụng, đa dạng về các lài quý hiếm.Theo đó, hệ thực vật ở VQG Hoàng Liên (Lào Cai) có 2432 loài thuộc về

898 chi và 209 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Đã phát hiện 5 taxon mới cho hệ thực vật Việt Nam (1 họ đơn loài, 1 chi đơn loài và 3 loài mới khác)

Trang 20

Ngành Mộc lan là ngành đa dạng nhất với 174 họ, 782 loài; 10 họ (Phong lan,

Hoa hồng, Cà phê, Cúc, Đỗ quyên, Ráng đa túc…) và 10 chi (Carex, rhododendron, rubus, ficus, smilax…) đa dạng nhất cũng đã được thống kê Phổ

dạng sống của hệ thực vật chỉ ra tính đặc trưng của hệ thực vật nhiệt đới Đa dạng

về các yếu tố địa lý thực vật cho thấy, có 23,6% số loài của hệ thực vật này là đặc hữu của Việt Nam (gồm cả 5,02% là đặc hữu hẹp – đặc hữu khu vực Hoàng Liên Sơn) Nguồn tài nguyên thực vật bao gồm 1053 loài cây có ích và 72 loài cây quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam, IUCN, CITES và nghị định 32CP (dẫn theo TC NN&PTNT, số 2/2008)

1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống

Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về dạng sống như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [5]

Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những kiểu dạng phụ [9]

Hoàng Chung (2008), khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [6]

Trang 21

Phan Nguyên Hồng (1991) [25] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)

Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1995) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương [49] là:

SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th Phạm Hồng Ban (1999), nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:

SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th Đặng Kim Vui (2002) , nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)

Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [29]

Phạm Ngọc Thường (2003) [56] khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật là:

SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,8Th

Trang 22

Lê Ngọc Công (2004) [16] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo

Ngô Tiến Dũng (2004) [20] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:

SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th 1.4 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hiện nay do nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng, tài nguyên động vật…, phục vụ cho đời sống của của con người ngày càng nhiều, nhiều diện tích rừng đã bị giảm sút xuống rất nhiều, nhiều loài động vật, thực vật

đã bị diệt chủng hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng, nguồn tài nguyên sinh học cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng Để nâng cao nhận thức về tính cấp thiết cho việc bảo tồn và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh học trong cộng đồng vừa bảo vệ và phát triển nguồn gen quý hiếm kết hợp với việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống Năm 1964, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã cho xuất bản những Bộ sách đỏ, trong đó chỉ ra các loài động vật, thực vật đang có nguy

cơ bị tuyệt chủng trên thế giới

Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên phần động vật được xuất bản năm 1992 với

365 loài nằm trong danh mục, phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục Kết quả thực hiện Sách đỏ Việt Nam 2004 cho thấy tổng số loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa đã lên đến 857 loài, gồm 407 loài động vật và 450 loài thực vật, tức số loài đang bị đe dọa đã tăng đáng kể Trong phần động vật, nếu như mức độ bị đe dọa cao nhất trong Sách đỏ Việt Nam 1992 chỉ ở hạng Nguy cấp thì năm 2004 đã có 6 loài bị coi là tuyệt chủng

Trang 23

trên lãnh thổ Việt Nam Số loài ở mức Nguy cấp là 149 loài, tăng rất nhiều so với

71 loài trong Sách đỏ Việt Nam 1992 Có 46 loài được xếp ở hạng Rất nguy cấp

Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng

167 loài so với thời điểm năm 1992 Trong đó có 116 loài động vật được coi là

“rất nguy cấp” và 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài thực vật đang

“nguy cấp”) Có 9 loài động vật trước kia chỉ nằm trong tình trạng de dọa nhưng nay xem như đã tuyệt chủng là tê giác 2 sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá

chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, cá sấu hoa cà, hươu sao và hoa lan hài

Trang 24

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái

Hà Giang cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía Bắc theo quốc lộ 2

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.945,8 km2 Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây, có kinh độ 104024'05"; mỏm cực đông có kinh độ 1050

30'04"

Huyện Quang Bình là một huyện thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam

Huyện Quang Bình có 15 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thị trấn Yên Bình (thành lập tháng 12/2010 trên cơ sở xã Yên Bình) và 14 xã: Xuân Minh, Tiên Nguyên, Tân Nam, Bản Rịa, Yên Thành, Tân Trịnh, Tân Bắc, Bằng Lang, Yên Hà, Hương Sơn, Xuân Giang, Nà Khương, Tiên Yên, Vĩ Thượng Năm 2010, huyện Quang Bình có 77.463 ha diện tích tự nhiên và dân số có 56.834 người

- Phía bắc giáp huyện Xín Mần

- Phía tây giáp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai

- Phía đông giáp huyện Bắc Quang

- Phía nam giáp huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

Thị trấn Yên Bình có diện tích 4.750 ha và dân số 6.665

Thị trấn Yên Bình có 4.750 ha diện tích tự nhiên và 6.665 nhân khẩu

Địa giới hành chính thị trấn Yên Bình:

Trang 25

- Phía Đông giáp xã Tân Bắc, xã Bằng Lang

- Phía Tây giáp xã Yên Thành

- Phía Nam giáp xã Bằng Lang và huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai

- Phía Bắc giáp xã Tân Nam và xã Tiên Nguyên, huyện Quang Bình

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 2.1.2 Địa hình

Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho Hà Giang một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoáng sản Từ những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình Hà Giang được chia thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác biệt, mỗi vùng có tiềm năng

và thế mạnh riêng đó là:

Trang 26

- Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên

Minh và Quản Bạ Diện tích toàn vùng là 2.352,7 km2

- Vùng II: Là vùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì và Xín

Mần Diện tích tự nhiên 1.211,3 km2

- Vùng III: Là vùng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê,

Quang Bình và thị xã Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang Diện tích tự nhiên 4.320,3 km2

Địa hình khu vực nghiên cứu chủ yếu là vùng đồi, núi thấp.Điểm cao nhất của khu vực nghiên cứu cao trên 700m Trên các vùng núi có địa hình dốc, độ dốc trung bình 15 – 350 Các bãi bằng chiếm rất ít, chỉ nằm rải rác vài bãi nhỏ dọc theo ven suối Đây là khu vực rừng đầu nguồn của một vài con suối nhỏ chảy

ra con Sông Bạc và đổ ra Sông Lô

lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 2 nhóm đá chính là măcma axit và đá biến chất, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 3 nhóm đá chính là trầm tích đá hạt mịn

bị biến chất, tướng đá lục hoặc lục yếu tiếp đến là loại đá vôi hoặc sét vôi và đá lục nguyên hạt vừa và mịn, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị phân hoá mạnh Phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm, với thảm thực vật chủ yếu là các loại cây thấp, mật độ thưa Rừng ở khu vực này thường có các loại cây lấy gỗ thuộc nhóm tứ thiết như trai, nghiến

Khu vực này có lượng mưa lớn nhất cả nước, do vậy lớp phủ thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là nhóm đất màu xám sẫm hơi đen, phù hợp với trồng cây ăn quả nhất là cam

Trang 27

2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang

về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng

ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60

C - 23,90C, biên độ nhiệt trong năm có

sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 - 70C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C (tháng 1)

Chế độ mưa ở khu vực nghiên cứu khá phong phú Toàn huyện đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Quang Bình hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn

Độ ẩm bình quân hàng năm đạt 85% và sự dao động cũng không lớn Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng 1, 2, 3) cũng vào khoảng 81% Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không

rõ rệt, là nơi có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là

181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ)

Các hướng gió ở Quang Bình phụ thuộc vào địa hình thung lũng Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50% Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - 1,5m/s Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối Nét nổi bật của khí hậu Quang Bình là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống

Trang 28

Bảng 2.1 Số liệu khí hậu của Huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang

1 Nhiệt độ bình quân năm (0

C) 21,60C - 23,90C

2 Nhiệt độ tối cao tương đối 400C

3 Nhiệt độ tối thấp tương đối 2,20C

6 Lượng mưa cực đại trong ngày (mm) 4244 mm

2.1.5 Tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản

Hà Giang Là một tỉnh vùng núi cao, núi đồi chiếm hơn 3/4 diện tích, môi trường thuận lợi cho thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng phát triển Rừng

là thế mạnh kinh tế chủ yếu của Hà Giang và còn có ý nghĩa lớn vào khoa học và bảo vệ môi trường Do đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, rừng Hà Giang khá phong phú và được coi là một trong những khu vực đặc trưng của kiểu loại rừng á nhiệt đới, với nhiều chủng loại Diện tích đất rừng của Hà Giang thuộc vào loại lớn của cả nước Diện tích có rừng tính đến 31/12/2005 là 345.860 ha, đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp 262.918 ha

Huyện Quang Bình có 77.463 ha diện tích tự nhiên với diện tích lâm nghiệp lớn

Căn cứ trên những cứ liệu về cấu trúc địa chất, các nhà khoa học đã dự báo rằng Hà Giang là một địa bàn có tiềm năng và triển vọng lớn về khoáng sản như sắt, mangan, chì, thiếc, antimon, vàng, đá quý , tại trị trấn Yên Bình – Huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang có khu mỏ quặng chì – kẽm rất phong phú, gặp các điểm quặng đồng (Cu - Ni) có nguồn gốc măcma…., khu vực nghiên cứu có diện

Trang 29

tích rừng nguyên sinh là 340 ha, khu rừng nguyên sinh tại khu vực nghiên cứu đang có mỏ hoạt động khai thác khoáng sản quặng chì kẽm trong lòng đất

2.2 Điều kiện xã hội

Trị trấn Yên Bình có 11 thôn và có 1300 hộ gia đình với dân số tại trị trấn có

5355 nguời, trong đó dân số nữ chiếm 2732 người và dân số nam chiếm 4048 người Dân tộc kinh 16 %, dân tộc tày chiếm 50,8 %, dân tộc mông chiếm 23,4% , dân tộc dao chiếm 9,8 % Số người đang trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 75% tổng số người dân tại khu vực nghiên cứu.Mật độ dân số trung bình tại khu vực nghiên cứu là khoảng 95 người trên 1 km2 Tổng số doanh thu, thu nhập bình quân đầu người khoảng 6,3 triệu đồng/ 1người/ 1 năm

Huyện Quang Bình là đầu mối giao thông quan trọng phía Tây - Nam của tỉnh Hà Giang giao thương với tỉnh Lào Cai và Yên Bái Do vậy, hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ khu trung tâm thị trấn Yên Bình luôn sôi động

Tập quán của người dân tai địa phương nơi nghiên cứu vẫn có một số tác động tiêu cực đến thảm thực vật và diện tích rừng tự nhiên như còn hiện tượng chăn thả gia súc sau mùa vụ, khai thác, chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, lấy củi, lấy gỗ, lấy măng…

Những năm gần đây, với những chủ trương, chính sách của nhà nước, biện pháp tích cực của địa phương trong triển khai chính sách giao đất, giao rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nên diện tích rừng của Thị trấn Yên Bình cũng tương đối lớn và đã có những tác động sâu sắc đến đời sống của nhân dân trong địa phương, cải thiện chất lưọng cuộc sống của nhân dân và tăng thu nhập kimh tế cho người dân

Trang 30

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tính đa dạng thực vật có mạch trong 4 trạng thái thảm thực vật tại thị trấn Yên Bình Huyện Quang Bình Tỉnh Hà Giang

- Trạng thái thảm cỏ

- Trạng thái thảm cây bụi

- Trạng thái rừng thứ sinh

- Trạng thái rừng nguyên sinh

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC)

- Tuyến điều tra (TĐT): Căn cứ vào địa hình tại khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra TĐT có hướng vuông góc với đường đồng mức Chiều rộng quan sát của TĐT là 3m Khoảng cách gữa các tuyến là 50-100m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí các OTC và các ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu

- Ô tiêu chuẩn (OTC): chúng tôi áp dụng OTC có diện tích 400m2 (20m x 20m) cho các trạng thái rừng và thảm cây bụi Trong OTC lập các ODB có diện tích 4m2 (2mx2m) hoặc 25m2 (5mx5m) thu thập số liệu về thành phần của thực vật ODB được bố trí hai bên đường chéo trong OTC Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích của OTC Ngoài ra, dọc hai bên tuyến điều tra căn

cứ địa hình cụ thể chúng tôi đặt các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC và ODB tiến hành xác định tên khoa học các loài cây (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại trong phòng thí nghiệm)

Trang 31

3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu thực vật

- Xác định tên các loài cây theo Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992 - 1993) [21]

theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (t 1,2,3) để chỉnh lí và lập danh lục các loài thực vật tại vùng nghiên cứu

- Xác định các trạng thái thảm thực vật dựa theo khung phân loại của

UNESCO (1973)

- Phân tích phổ dạng sống theo Raunkiaer (1934)

- Xác định các loài thực vật quý hiếm tại vùng nghiên cứu theo “Sách đỏ

Việt Nam (phần thực vật)” của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2007; Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

3.2.3 Phương pháp điều tra trong dân

Trực tiếp trao đổi và phỏng vấn người dân đang sinh sống trong khu vực nghiên cứu hoặc các cơ quan chuyên môn (Chi cục kiểm lâm, Phòng thống kê nông nghiệp, Ban quản lý khu mỏ quặng Khoang Ao Xanh - Uỷ ban nhân dân thị trấn Yên Bình - Huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang ) để nắm được các thông tin

về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái rừng, môi trường sống, tình hình khai thác rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…

Trang 32

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật KVNC

Trong khu vực nghiên cứu

4.1.1 Hiện trạng thảm thực vật

Thảm thực vật nguyên sinh tại khu vực nghiên cứu là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, cho đến nay còn diện tích rừng nguyên sinh không còn nhiều, một số diện tích rừng nguyên sinh đã bị phá huỷ nghiêm trọng, thay thế vào

đó là các kiểu thảm thứ sinh nhân tác

Chúng tôi đã nghiên cứu phân loại thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu để xác định hiện trạng các kiểu thảm thực vật Kết quả nghiên cứu như sau:

I Lớp quần hệ (Formation class)

I.A Phân lớp quần hệ (Formation subclass)

I.A.1 Nhóm quần hệ (Formation group)

I.A.1.1 Quần hệ (Formation) I.A.1.1.1 Dưới quần hệ (Subfomation)

Trang 33

Trong các bậc nói trên thì từ bậc quần hệ trở lên đều có tiêu chuẩn phân loại

cụ thể, riêng ở bậc dưới quần hệ, chúng tôi áp dụng các chỉ tiêu về độ ưu thế của các loài cây (tỷ lệ tổ thành loài) theo Thái Văn Trừng

Chúng tôi đã điều tra, phân loại các kiểu thảm thực vật tại KVNC kết quả như sau:

I.A.1b Rừng tre nứa (Bambusoideae) nhiệt đới địa hình thấp và núi thấp

I.A.1b (2) Rừng hỗn giao với cây lá rộng

Đại diện là rừng Nứa (Neohouzeaua dullooa) hỗn giao cây lá rộng, phân bố

trên độ cao 250 - 450m Do khai thác quá mức nên nứa đã bị suy thoái, hiện nay cây nứa có đường kính trung bình 4 - 5cm, nhiều nơi là nứa tép đường kính trung bình từ 2-3 cm Ở đây cây gỗ có mật độ thưa 120 - 250 cây/1ha, các loài cây gỗ

thường gặp như: Re trắng mũi mác (Phoebe lanceolata.), Ba soi (Macaranga denticulata), Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Sổ (Dillenia indica), Gù hương (Cinnamomum balansae), Gió (Rhamnoneuron balansae) Thảm tươi có thành phần tương tự như rừng cây lá

rộng đã nêu trên, độ dày rậm (Cop2)

Trang 34

II Lớp quần hệ rừng thưa

II.A.1a Rừng thưa thường xanh ở địa hình thấp và núi thấp

II.A.1b Rừng thưa rụng lá mùa khô ở địa hình thấp và núi thấp

Các quần xã thuộc quần hệ này rụng lá về mùa khô Thời gian rụng lá thường từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau

III Thảm cây bụi

III.A.1a Thảm cây bụi nhiệt đới chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới

III.A.1a Có cây gỗ hai lá mầm mọc rải rác, các quần xã này hình thành do khai thác quá mức, chặt phá rừng làm nương rẫy

IV Thảm cỏ

IV.A.1 Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới có hay không có cây gỗ

IV.A.1.1a Thảm cỏ dạng lúa trung bình chịu hạn, có ưu hợp Lách

(Saccharum spontaneum) + Chít (Thysanolaena maxima) + Cỏ tranh (Imperata cylindrica)

IV.B.1 Thảm cỏ thấp không dạng lúa có hay không có cây gỗ

IV.B.1a Thảm cỏ thấp không dạng lúa chịu hạn: Đây là kiểu thảm rất phổ

biến trong khu vực nghiên cứu, phân bố trên các sườn núi độ cao từ 300 - 400 m trở

xuống Cây gỗ và cây bụi có Me rừng (Phyllanthus emblica), Thàu táu (Aporosa dioica), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Găng (Randia spinosa), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua (Melastoma normale)

Như vậy, trong khu vực nghiên cứu có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ thảm cây bụi và lớp quần hệ thảm cỏ, với các kiểu thảm thực vật tương ứng

Trang 35

4 2 Đa dạng về cấu trúc và hình thái của các trạng thái thảm thực vật

Nghiên cứu cấu trúc và hình thái của các trạng thái thảm thực vật có giá trị trong việc tìm hiểu về sự phân bố của thực vật và sự biến động của nó trong quần xã Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi nghiên cứu về cấu trúc không gian theo chiều thẳng đứng của các trạng thái thảm thực vật gồm trạng thái thảm cỏ, trạng thái thảm cây bụi, trạng thái rừng thứ sinh và trạng thái rừng nguyên sinh Ở mỗi trạng thái thảm thực vật theo chiều thẳng đứng đều có cấu trúc phân tầng với các tổ hợp loài thực vật, dây leo và thực bì sinh thuộc thực vật ngoại tầng

Cấu trúc hình thái các kiểu thảm thực vật khu vực nghiên cứu được trình bày trong bảng

Bảng 4.1 Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật khu vực

Thứ

tự tầng

Chiều cao tầng Thành phần thực vật

1 Thảm cỏ 2 1 0,5 - 1,0

cỏ tranh, Quyển bá, Quyển bá lá yếu, Tóc vệ nữ cứng, Chân xỉ hình guột, Chân xỉ lược, Rau dốn, Ngải cứu, Vòi voi, Nghể, …

3 – 5 năm 2 < 0,5

Guột, Chân xỉ hình guột, Chân xỉ lược, Bòng bong, Bòng bong lá nhỏ, Rau muối, Nhọ nồi, Cỏ lào, Rau dốn, Lá lốt, …

Trang 36

Bồ đề, Sau sau, Kháo, Re, Ràng ràng, Trôm, Hoắc quang, Trám chim, Nhội, Trâm, Bứa, Tai chua, Nứa, Trâm, Chẹo, Dọc, Găng gai, Dâu da xoan , Xoan nhừ , Sơn , Xoan ta , Chặc khế ……

Thứ sinh

trưởng

1,0 - 3,0m

Nóng, Thành ngạnh, Sau sau, Nóng lá to, Lài trâu, Ô rô, Thanh táo dại, Lòng mực lông, Dâu rừng, Ruối, Mạy tèo, Cơm nguội, ……

2 5,0 - 6,0

Bời lời, Dọc, Re, Bứa, Kháo, Trâm, Chò nâu, Tai chua, Côm tầng, Côm trâu, Lát hoa, Thôi ba,

Trang 37

>35m

Nghiến, Trai, Táu, Sến mật, Trai

lý, Chẹo, Chò nâu, Chò chỉ, Phay sừng, Sâng, Lát hoa, Giổi, Kháo, Sồi, Lim xẹt, Dọc, Nhội,…

Cà ổi bắc bộ, Ràng ràng xanh, Xoay, Gụ lau, Muồng trắng, Muồng đen, Trám trắng , Trám đen , Lát khét, …

3

Tầng dưới tán

< 10m

Lát khét, Đa tía, Sung, Mạy tèo, Trâm, Gáo, Găng gai, Trường kẹn, Mắc niễng, Bồ đề trắng , Sến mộc, Gáo, Táo rừng, Xoan ta, Mỡ, Lộc vừng, Chẹo tía, Hồi lá dày,

Ba soi, Thàu táu lông, Cây gạo, Cáng lò, …

4

Tầng cây bụi

1-3m

Cao cẳng, Khúc khắc, Sến mộc, Vối rừng, Mạy tèo, Dâu rừng, Kháo nhớt, Kháo vàng, Chắp, Chẹo tía, Thành ngạnh nam, Trẩu, Sòi lá to, Me rừng, Dâu da đất, Vai trắng, Dây gối, Núc nác, …

5

Tầng cỏ quyết

<1m

Ráy, Củ nâu, Lá dong rừng, Đỗ quyên, Đuôi chồn, Cỏ, Lài trâu, Đinh lăng trổ, Đáng chân chim, Hoa tiên, Hà thủ ô trắng, Hà thủ ô đỏ,…

Trang 38

4.2.1 Trạng thái thảm cỏ

Trạng thái thảm cỏ có 2 tầng:

- Tầng thứ 1 : Có chiều cao trung bình từ 0,5 – 1m, thường là những khoảnh

nhỏ được hình thành trên đất nương rẫy, đất do chặt trắng thảm thực vật tự nhiên

để trồng rừng hay làm nương rẫy rồi bỏ trống Tầng này bao gồm những loài cỏ

cao như Cỏ tranh ( Imperatacylindrica), Chân xỉ lược (Pteris semipinnata L.), Chân xỉ hình guột (Pteris ensifomis Burm F.), có độ dày Cop1

- Tầng thứ 2: Có chiều cao trung bình < 0,5, được hình thành trên đất

nương rẫy bỏ hoang, do chặt trắng thảm thực vật để trồng rừng và những nơi trước đây thường xuyên bị cháy rừng Tầng này có thảm Cỏ lào , Guột, Chân xỉ hình guột, Chân xỉ lược, Bòng bong, Bòng bong lá nhỏ, Rau muối, Nhọ nồi,

4.2.2 Trạng thái thảm cây bụi

Trạng thái này cũng gồm 2 tầng:

- Tầng 1: Có chiều cao trung bình 1,0 - 3,0m, được hình thành do khai

thác quá mức, chặt phá rừng làm nương rẫy, xử lý trắng thực bì để trồng rừng nhưng bị thất bại Thành phần thực vật gồm các loài cây bụi phổ biến như Ba

chạc (Euodia lepta (Spreng.) Merr), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense Lour), Găng (Randia spinosa(Thunb.)Poi)¸ Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk), Mua (Melastoma candidum D Don)

- Tầng 2: Có chiều cao < 0,5m, thảm Guột (Dicranopteris linearis

(Burm f.) Undew) đã bị chết đáng kể, độ dày rậm giảm Cop1, Cop2 và Sol do sự xâm nhập và phát triển của lớp cây bụi

Trong khu vực nghiên cứu bước đầu chúng tôi có nhận xét: Trạng thái thảm cây bụi ở đây đang ở trong giai đoạn tiếp theo của quá trình diễn thế đi lên từ

thảm từ thảm cỏ mà Guột (Dicranopteris linearis (Burm f.) Undew) là loài

Trang 39

chiếm ưu thế ở giai đoạn đầu

4.2.3 Trạng thái rừng non thứ sinh

Đây là giai đoạn phát triển tiếp theo của thảm cây bụi, từ chỗ có các cây gỗ rải rác đã hình thành các khóm hay cụm riêng với độ tàn che của các cây gỗ k h ô n g c a o ,trên dưới 1m Sau đó là tầng cây gỗ chiếm ưu thế với chiều cao trung bình 5,0 - 8,0m cùng sự suy giảm của thảm tươi dưới rừng

và thảm cây bụi dày rậm Trạng thái rừng này có 3 tầng:

- Tầng 1: Có chiều cao trung bình 5,0 - 8m, gồm các loài cây Cau rừng

(Areca triandra Roxb), Thành ngạnh (Cratoxylum cochinchinense Lour- Blume), Bứa (Garcinia oblongifolia Champ ex ), Máu chó lá nhỏ (Michelia alba DC)

- Tầng 2: Chiều cao trung bình 1,0 - 3m, gồm Thành ngạnh

(Cratoxylum cochinch-inense Lour-Blume), Găng gai (Randia spinosa

(Thunb.) Poir)

- Tầng 3: Là thảm cỏ tươi có chiều cao <0,5m: Guột (Dicranopteris

linearis (Burm f.) Undew) vẫn là loài thực vật chiếm ưu thế nhưng đã chết

nhiều do sự cạnh tranh với sự phát triển của các cây gỗ, ngoài ra có thực vật

ngoại tầng là Bòng bong (Lygodium flexuosum L Sw)

4.2.4 Trạng thái rừng thứ sinh trưởng thành

Đây là giai đoạn phát triển từ rừng non thứ sinh Trạng thái này rừng

có 4 tầng

- Tầng 1: Gồm các cây cao trung bình từ 8 - 13m, các loài cây tiên

phong như: Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss), Mỡ (Manglietia conifera Dandy), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris (Roxb.) Burtt & Hil), Duối (Streblus asper Lour) Bên cạnh đó còn có một số cây trưởng thành cao trên

20m, đường kính gốc lên tới trên 40cm như Sau sau (Liquidambar formosana

Hance)

Trang 40

- Tầng 2: Cao trung bình 5,0 - 6,0m, gồm các loài cây như Bứa lá thuôn

cochinch-inense Lour-Blume), Ngọc lan tây (Cananga odorata (Lamk.) Hook.f et

Thoms)

- Tầng 3: Cao trung bình 1,0 - 3,0m, gồm các cây ưa bóng như các loài

thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), họ Cà phê (Rubiaceae) và xen kẽ một số loài như Mua (Melastoma candidum D Don), Hoa dẻ thơm (Desmos chinensis Lour), Găng gai (Randia spinosa Thunb Poir)

- Tầng 4: Gồm các cây cao trung bình < 1m, gồm một số loài cây nhƣ

Bòng bong (Lygodium flexuosum L Sw), Rẻ quạt, Dong rừng (Phrynium placentarium (Lour.) Merr), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa (L.) Hook F), …

4.2.5 Trạng thái rừng nguyên sinh

Đây là những khu rừng già chưa bị khai thác, có 5 tầng:

- Tầng 1: Tầng vượt tán; cao trung bình 35m – 55m, gồm một số loài cây

như Đinh (Markhamia stipulata (Wall.) Seem.ex.Schum), Trám trắng (Canarium album Raeusch.), Trám đen (Canarium tramdendum Dai & Yakof.), Trai lý (Garcinia fragraeoides A Chev.), Chò nâu (Dipterocarpus retusus Blume.), Chò chỉ (Parashorea chinensis H Wang.), Táu (Vatica ordorata (Griff.) Syminght.), Nhội (Bischofia javanica Blume.), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum (DC.) Backer ex K Heyne), Gụ lau (Sindora tonkinensis A.Chev et S.S Larsen), Sồi (Lithocarpus sp.),…

- Tầng 2: Tầng tán; cao trung bình 20m - 35m, bao gồm các cây gỗ khá lớn,

tán rộng và đan gần như kín tạo nên màn rừng với độ che phủ tới trên 80% Đại

diện cho tầng này là các loài như Sâng - Pometia pinnata (Sapindaceae), Xoan ta (Melia azedarach L.), Kháo (Cinnamomum glaucescen (Nees) Drury.), Mỡ

Ngày đăng: 18/10/2023, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáp Thị Hồng Anh (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm của thảm thực vật thứ sinh và tính chất hoá học đất tại xã Canh Nậu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm của thảm thực vật thứ sinh và tính chất hoá học đất tại xã Canh Nậu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Giáp Thị Hồng Anh
Năm: 2007
2. Phạm Hồng Ban, "Bước đầu nghiên cứu tính đa dạng sinh học trong nông , nghiệp nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An", Luận án Tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu tính đa dạng sinh học trong nông , nghiệp nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An
3. Chu Văn Bằng (2010), Nghiên cứu tính đa dạng thực vật có mạch tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên , Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng thực vật có mạch tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Chu Văn Bằng
Năm: 2010
4. Nguyễn Tiến Bân (1977), " Nghhiên cứu cơ sở khoa học phục hồi hệ sinh thái vùng cao núi đá vôi Cao Bằng bằng các loại cây gỗ quý bản địa", Kỷ yếu Hội nghị môi trường các tỉnh phía Bắc tại Sơn La, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La, Sơn La, tr. 97 - 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghhiên cứu cơ sở khoa học phục hồi hệ sinh thái vùng cao núi đá vôi Cao Bằng bằng các loại cây gỗ quý bản địa
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1977
5. Nguyễn Tiến Bân và Cộng sự (2001), “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại Trạm Đa dạng sinh Mê Linh – Vĩnh Phúc”, Báo cáo tỏng kết đề tài cấp cơ sở chọn lọc năm 2000 – 2011, Viện sinh thái &amp; Tài nguyên sinh vật, Viện khoa học &amp; Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại Trạm Đa dạng sinh Mê Linh – Vĩnh Phúc”, "Báo cáo tỏng kết đề tài cấp cơ sở chọn lọc năm 2000 – 2011
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân và Cộng sự
Năm: 2001
6. Nguyễn Tiến Bân (1983), danh mục thực vật Tây nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: danh mục thực vật Tây nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1983
7. Nguyễn Tiến Bân (1997). Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Lê Trần Chấn (1990), Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình, Luận án PTS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Lê Trần Chấn
Năm: 1990
9. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định 32/2006/NĐ - CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 32/2006/NĐ - CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
10. Hoàng Chung (1980), Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam, Công trình nghiên cứu Khoa học Trường Đại học SP Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 1980
11. Hoàng Chung (2007), các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995),Nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái,Thông báo Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái
Tác giả: Lê Ngọc Công, Hoàng Chung
Năm: 1995
13. Lê Ngọc Công (2004), Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên, Luận án tiến sỹ sinh học, Viện Sinh thái &amp; Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học &amp; Công nghệ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 2004
14. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
15. Phạm Hoàng Hộ (1991, 1992, 1993), Cây cỏ Việt Nam, T. 1, 2, 3 Motreal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
16. Phan Nguyên Hồng (1970), Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật miền Bắc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1970
17. Phan Nguyên Hồng (1991), Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án Tiến sĩ sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1991
19. Nguyễn Thế Hưng (2003), Nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phục hồi rừng của thảm thực vật cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh), Luận án tiến sỹ Sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phục hồi rừng của thảm thực vật cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Năm: 2003
20. Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời (1985), Nghiên cứu cây thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1985
24. Phan kế Lộc (1985), “ Thử vận dụng bảng phân loại UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam ”, Tạp chí sinhhọc, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử vận dụng bảng phân loại UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Phan kế Lộc
Nhà XB: Tạp chí sinhhọc
Năm: 1985

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm