QUAN TÀI LIỆU
Giới hạn của gối
Gối là phần nối giữa đùi và cẳng chân, được xác định bởi đường vòng ngang trên bờ trên xương bánh chè khoảng 3 khoát ngón tay ở phía trên và đường vòng qua phía dưới lồi củ xương chày ở phía dưới Vùng gối được chia thành hai khu vực: vùng gối trước và vùng gối sau.
Vùng gối trước là khu vực chủ yếu bao gồm da và mô dưới da, bao phủ dây chằng bánh chè, xương bánh chè và gân cơ tứ đầu đùi, che chắn phần trước của khớp gối.
Vùng gối sau, hay còn gọi là hố kheo, bao gồm da, tổ chức dưới da và các cơ Hố kheo được giới hạn phía trên-trong bởi cơ bán gân và cơ bán màng, phía trên-ngoài bởi đầu tận của cơ nhị đầu đùi, trong khi phía dưới-trong là cơ bụng chân (đầu trong) và phía dưới-ngoài là cơ bụng chân (đầu ngoài).
Giải phẫu khớp gối
Khớp gối là khớp bản lề phức tạp, hình thành từ sự tiếp khớp giữa các lồi cầu của xương chày và xương đùi, cũng như giữa xương bánh chè và diện bánh chè của xương đùi Với bao hoạt dịch rộng, khớp gối dễ bị sưng và phồng to, đồng thời vị trí nông của nó khiến khớp gối dễ bị va chạm và tổn thương.
Khớp gối là một khớp phức hợp, gồm 2 khớp:
- Giữa xương đùi và xương chày (thuộc loại khớp bản lề)
- Giữa xương đùi và xương bánh chè (thuộc loại khớp phẳng)
Hình 1 Giải phẫu khớp gối phải tư thế duỗi, nhìn trước [20]
Hình 2 Giải phẫu khớp gối đã mở, đầu gối hơi gấp [20]
Lồi cầu trong xương đùi
Lồi cầu ngoài xương đùi
Sụn chêm trong Dây chằng bên mác
Túi hoạt dịch trên xương bánh chè Dây chằng chéo
Lồi cầu trong xương đùi
Túi hoạt dịch trên xương bánh chè Xương đùi
Mặt khớp
1.1.3.1 Đầu dưới xương đùi: Đầu dưới xương đùi có hai mặt khớp lồi gọi là lồi cầu trong và ngoài khớp với hai mặt lõm của đầu trên xương chày Lồi cầu trong hẹp hơn nhưng dài hơn lồi cầu ngoài
- Phía trước: Hai lồi cầu dính liền nhau tạo thành hai má của một hình ròng rọc, hướng ra trước gọi là diện bánh chè
- Phía sau: Hai lồi cầu cách xa nhau bởi hố gian lồi cầu
1.1.3.2 Đầu trên xương chày: Đầu trên xương chày loe rộng thành hai lồi cầu để đỡ lấy xương đùi bằng hai diện khớp trên của nó Diện ngoài rộng và nông hơn diện trong, ở giữa hai diện khớp có lồi gian lồi cầu, chia hai khoang giữa hai diện khớp thành hai vùng gian lồi cầu trước và vùng gian lồi cầu sau
Khớp gối có hai sụn chêm, bao gồm sụn chêm trong và sụn chêm ngoài, nằm trên hai mặt khớp của lồi xương chày, giúp làm sâu và rộng mặt khớp để khớp với lồi cầu xương đùi Sụn chêm gắn liền với bao khớp và liên quan đến các cơ gấp và duỗi, với khả năng trượt ra sau khi duỗi và trượt ra trước khi gấp cẳng chân Chiều dày trung bình của sụn chêm khoảng 3 - 5 mm; ở trẻ sơ sinh và trẻ em, sụn chêm có hình bán nguyệt và giàu mạch máu, nhưng theo thời gian, mạch máu giảm dần về phía trung tâm.
Hình 3 Các sụn chêm khớp gối [20]
Sụn chêm trong có hình chữ C, dài khoảng 5 - 6 cm, chạy từ diện trước gai đến diện sau gai và bám chặt vào bao khớp trong Nó có hai sừng: sừng sau rộng hơn (16 - 20 mm) so với sừng trước (8 - 10 mm) Sừng trước gắn chặt vào mâm chày phía trước gai chày và dây chằng chéo trước, trong khi sừng sau bám vào mâm chày sau gần vị trí dây chằng chéo sau, có mối liên hệ chặt chẽ với dây chằng bên trong và gân cơ bán mạc.
Hình 4 Sụn chêm và mối liên quan với các thành phần trong khớp gối [20]
Sụn chêm ngoài có hình chữ O và lớn hơn sụn chêm trong, bám vào khớp mâm chày từ diện trước gai, hơi lệch ra ngoài so với dây chằng chéo trước Sừng trước và sừng sau của sụn chêm ngoài có kích thước tương đương (12-13 mm) và chạy vòng ra sau theo bờ mâm chày ngoài, kết nối với diện sau gai cùng với dây chằng đùi sụn chêm và dây chằng chéo sau Sụn chêm ngoài chỉ dính một phần vào bao khớp bên ngoài, trong khi dây chằng liên gối nằm giữa sừng trước của hai sụn chêm nhưng không cố định.
Khi tác động mạnh và đột ngột, sụn chêm có thể bị tách hoặc rách, trở thành chướng ngại vật trong khớp gối Đặc biệt, trong động tác duỗi gối quá mạnh khi cẳng chân xoay ngoài hoặc xoay trong, sụn chêm dễ bị tổn thương Do sụn chêm có ít mạch máu nuôi dưỡng, nên việc hồi phục sau tổn thương rất khó khăn, và nó có thể gây cản trở cho hoạt động của khớp gối.
Xương bánh chè là một xương vừng nằm trong gân cơ tứ đầu đùi, với dây chằng bánh chè kéo dài từ đỉnh xương xuống dưới Mặt sau xương bánh chè được che phủ bởi sụn khớp và tiếp khớp với hai lồi cầu xương đùi thông qua hai diện khớp, trong đó diện ngoài lớn hơn diện trong Đỉnh xương bánh chè cũng là mốc quan trọng để xác định khe khớp giữa xương đùi và xương chày.
Phương tiện nối khớp
* Màng xơ hay bao xơ bọc quanh khớp
Về phía xương đùi: bám vào đường viền trên diện ròng rọc, trên hai lồi cầu và hố gian lồi cầu
Về phía xương chày: Bám ở phía dưới hai diện khớp trên
Phía trước: bám vào các bờ của xương bánh chè
Ở giữa hai xương đùi và xương chày: Bao dính vào sụn chêm nên chia khớp thành hai tầng:
Tầng trên sụn chêm rất rộng
Tầng dưới sụn chêm hẹp
Khi bị chấn thương mạnh, mảnh sụn chêm có thể bị bong khỏi xương chày, đứt mạch nuôi dưỡng và trở thành chướng ngại vật ở khớp gối
* Màng hay bao hoạt dịch: phủ mặt trong lớp xơ bao khớp nhưng rất phức tạp
Ở trên bám vào xương đùi, ở dưới bám vào xương chày và ở giữa bám vào sụn chêm, do vậy chia ổ khớp thành hai tầng: trên và dưới sụn chêm
Ở sau, bao phủ trước dây chằng bắt chéo, nên tuy ở giữa khớp nhưng dây chằng lại ở ngoài bao hoạt dịch
Ở trước, bao hoạt dịch chọc lên cao tạo thành một túi cùng sau cơ tứ đầu, có thể lên cao tới 8-10cm trước xương đùi
1.1.4.2 Các dây chằng: Khớp gối có năm hệ thống dây chằng
Mạc giữ (hãm) bánh chè trong
Mạc giữ (hãm) bánh chè ngoài Ngoài ra còn gân cơ tứ đầu đùi, cơ may, cơ căng mạc đùi tăng cường
Dây chằng khoeo chéo là một phần quan trọng của gân cơ bán mạc, có cấu trúc quặt ngược, bắt đầu từ vị trí bên trong, đi ra ngoài và hướng lên trên, sau đó bám vào vỏ lồi cầu ngoài của xương đùi.
Dây chằng khoeo bắt nguồn từ chỏm xương mác và phân nhánh thành hai bó, bám vào xương chày và xương đùi, tạo thành một vành cung cho cơ khoeo đi qua.
Dây chằng bên chày đi từ củ trên lồi cầu trong xương đùi xuống dưới và ra trước để bám vào mặt trong đầu trên xương chày
Dây chằng bên mác đi chếch từ củ trên lồi cầu ngoài xương đùi xuống dưới và ra sau để bám vào chỏm xương mác
Các dây chằng chéo trong hố gian lồi cầu là những sợi nối chắc chắn giữa xương chày và xương đùi, bắt nguồn từ các vùng gian lồi cầu trước và sau trên đầu xương chày.
Dây chằng bắt chéo trước đi từ lồi cầu ngoài tới diện gian lồi cầu trước
Dây chằng bắt chéo sau đi từ lồi cầu trong tới diện gian lồi cầu sau
Hai dây chằng chéo trước và sau trong khớp gối tạo thành hình chữ X, với dây chằng trước nằm ở phía ngoài và dây chằng sau ở phía trong Chúng rất chắc chắn và giữ cho khớp gối ổn định, ngăn ngừa tình trạng trật khớp theo chiều trước và sau.
* Các dây chằng sụn chêm:
Dây chằng ngang gối nối hai sừng trước của hai sụn chêm với nhau
Dây chằng chêm đùi trước là một phần của dây chằng chéo trước, có vai trò quan trọng trong việc kết nối từ lồi cầu ngoài của xương đùi đến sừng trước của sụn chêm trong.
Dây chằng chêm đùi sau là một số sợi của dây chằng bắt chéo sau đi từ lồi cầu trong xương đùi tới sụn chêm ngoài
Khối mỡ sau bánh chè nằm giữa dây chằng bánh chè và hố gian lồi cầu xương đùi, được bao bọc bởi màng hoạt dịch Màng này tạo thành hai nếp gọi là các nếp cánh, nhô vào khớp.
Màng hoạt dịch
Màng hoạt dịch là một lớp màng mỏng bao phủ toàn bộ mặt trong của khớp, chứa nhiều mạch máu và mạch bạch huyết Bề mặt hướng vào khoang khớp được bao phủ bởi lớp tế bào biểu mô nhẵn bóng, có chức năng tiết ra dịch hoạt dịch.
Hình 5 Các dây chằng chéo và bên [20]
Kén Baker khớp Chất dịch khớp có tác dụng bôi trơn ổ khớp, giảm ma sát giữa các bề mặt sụn khi cử động khớp và dinh dưỡng trong ổ khớp
Dịch khớp có tính chất giống như lòng trắng trứng, với độ nhớt cao, không màu và trong suốt Thành phần chính của dịch khớp là hyaluronic acid và các chất dinh dưỡng từ huyết tương Màng hoạt dịch ở phía trên khớp gối tạo thành các túi thanh mạc xung quanh khớp.
Trong trường hợp màng hoạt dịch thoát vị qua lớp xơ bao khớp hoặc do các nang bám màng ở quanh khớp bị giãn sẽ tạo nên kén
Baker ở vùng hõm khoeo (Kén hoạt dịch này do
Baker mô tả) Kén Baker thường căng và có thể phình ra chiếm toàn bộ hõm khoeo, có khi kéo dài đến bắp chân
Cấu trúc và thành phần của sụn khớp
Sụn khớp là lớp trắng, mịn và đàn hồi bao quanh lồi cầu xương đùi, mâm chày và mặt sau xương bánh chè, có chức năng bảo vệ đầu xương và phân bổ lực đều lên bề mặt khớp Thông thường, sụn khớp có màu trắng ánh xanh, nhẵn bóng, ướt, cứng và đàn hồi mạnh, giúp giảm ma sát trong chuyển động giữa các mặt khớp và đóng vai trò như một lớp đệm giảm lực nén Sụn khớp không có mạch máu và thần kinh, cấu tạo chủ yếu từ tế bào sụn, sợi collagen và chất cơ bản, được sắp xếp thành các lớp khác nhau.
Hình 7 Cấu trúc các lớp sụn khớp [184]
- Các tế bào sụn với số lượng ít có nhiệm vụ tổng hợp các sợi collagen và chất cơ bản
- Chất cơ bản của sụn có ba thành phần chính là nước chiếm 80%, các sợi collagen và proteoglyocan (PGs) chiếm 5 - 10%
(các sợi collagen song song với bề mặt)
Lớp giữa (các sợi collagen xếp ngẫu nhiên)
Lớp sâu ( các sợi vuông góc với bề mặt sụn)
Collagen chiếm 15 - 22% trọng lượng tươi của sụn khớp và bao gồm các chuỗi phân tử acid amin dài, tạo thành mạng lưới dày đặc nhờ vào sự đan móc của các sợi collagen Trong cấu trúc sụn khớp, collagen type II chiếm 90%, cùng với các loại khác như type I, III, VI, IX, X và XI Mạng lưới collagen này được củng cố bởi các liên kết ngang giữa các sợi collagen.
Các sợi collagen tạo thành cấu trúc không gian 3 chiều đặc biệt trong sụn, bao gồm ít nhất 3 lớp Lớp bề mặt có sợi collagen xếp song song với bề mặt sụn khớp, trong khi lớp giữa có sợi collagen uốn cong vuông góc với bề mặt Lớp sâu nằm dưới lớp giữa, nơi các sợi collagen xếp theo hướng vuông góc với xương dưới sụn Theo nghiên cứu, độ dày của các lớp này lần lượt là 3 - 24% cho lớp bề mặt, 1 - 40% cho lớp giữa, và 50% cho lớp sâu.
- 94% tổng chiều dày của sụn khớp [148]
Hình 8 Một vài thành phần cấu trúc của sụn khớp và quá trình tổng hợp [58]
The essence of proteoglycans (PGs) lies in their structure, which consists of mucopolysaccharides attached to a brush-like protein known as chondromucoprotein, including chondroitin sulfate and keratan sulfate These PG units are organized along a protein backbone, connected to hyaluronic acid (HA), resembling the branches of a tree.
Tỷ lệ PGs trong sụn không đồng đều, với lượng PGs thấp nhất ở lớp bề mặt và tăng dần khi tiến sâu vào lớp sụn đến xương dưới sụn PGs đóng góp khoảng 4 - 7% trọng lượng tươi của sụn.
Hình 9 Cấu trúc proteoglycans trong sụn khớp [58]
Sụn chủ yếu được cấu tạo từ dịch kẽ, chiếm khoảng 60 - 89% tổng trọng lượng tươi, tùy thuộc vào nguồn gốc và tính nguyên vẹn của nó Hàm lượng nước trong sụn cao nhất ở lớp bề mặt và giảm dần khi tiến vào các lớp sâu bên trong.
1.1.6.4 Hoạt động cơ học của sụn khớp
Cấu trúc không gian 3 chiều của collagen đóng vai trò quan trọng trong chức năng và sức căng của sụn, nhờ vào sự hỗ trợ từ các mô khác Mạng lưới collagen ảnh hưởng đến sức căng của sụn, ngăn chặn sự biến dạng theo chiều các sợi collagen Sự không đồng nhất của sụn gây ra chuyển động không đều của dịch kẽ và sự căng không đồng đều khi chịu tải trọng, phụ thuộc vào hình dạng tế bào và độ sâu của sụn Sự sắp xếp lại các sợi collagen trong quá trình trưởng thành và chịu tải có thể là nguyên nhân hình thành cấu trúc không đồng nhất của sụn Tổng lượng nước trong sụn được điều chỉnh bởi áp lực phồng từ các PGs và sức căng của mạng lưới collagen Các PGs đóng vai trò chính trong việc duy trì độ cứng của sụn trong trạng thái tĩnh Mối liên hệ giữa dịch kẽ, PGs và collagen được xác lập thông qua tính thấm của mô sụn, trong khi sự đóng gói và định hướng của sợi collagen điều chỉnh dòng chảy dịch kẽ, ảnh hưởng đến tính thấm của sụn.
Cấu trúc của sụn khớp mang lại tính dẻo dai, đàn hồi và khả năng chịu lực tốt, nhờ vào khả năng hút và giữ nước mạnh mẽ của các PGs Khi sụn khớp chịu lực, các PGs co lại, làm tăng mật độ và ngăn nước thấm vào mạng collagen, giúp bề mặt khớp không bị biến dạng Ngược lại, khi không có lực đè nặng, các PGs giãn ra và hút nước, giữ cho chất căn bản căng lên và duy trì hình thái của sụn Quá trình tổng hợp và thoái hóa đại phân tử trong tổ chức sụn được điều chỉnh chặt chẽ bởi các thành phần hóa học của chất liên kết sụn, thường ổn định ở người lớn và chỉ thay đổi theo tuổi tác.
Hình 10 Cấu trúc vi thể sụn khớp [58]
Giải phẫu xquang khớp gối bình thường
1.1.7.1 Hình ảnh xquang khớp gối
Chụp x quang khớp gối là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chẩn đoán và định hướng điều trị các bệnh xương khớp Hình ảnh x quang cho phép phân biệt mật độ của bốn nhóm cấu trúc: xương, phần mềm, mỡ và không khí Ngoài việc xác định các cấu trúc xương và vôi hóa, hình ảnh bóng mờ của các cấu trúc phần mềm và tổ chức dưới da, dưới bao khớp cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán.
Trên phim chụp khớp gối thẳng, mâm chày lồi trong khi giữa mâm chày thì lõm, và xương mác nằm phía sau xương chày, bị che phủ bởi mặt bên của xương chày Vị trí xương bánh chè cũng có thể được quan sát và so sánh với bên đối diện Trong phim chụp khớp gối nghiêng, lồi cầu trong xương đùi thấp hơn và xa hơn so với lồi cầu ngoài, trong khi lồi củ xương chày nằm ở phía trước và lồi củ bên ở phía sau.
Hình 11 Hình ảnh xquang khớp gối bình thường
Hình ảnh X-quang khe khớp cho thấy khoảng cách giữa hai bản xương dưới sụn, được tạo ra bởi độ dày của các sụn khớp không cản quang Khe khớp này phản ánh tình trạng sức khỏe của khớp và có thể giúp chẩn đoán các bệnh lý liên quan.
1.1.7.2 Hình ảnh khớp gối bình thường trên phim Cộng hưởng từ [15],[26] :
Chức năng của khớp gối
Khớp gối có vai trò quan trọng trong việc chịu trọng lượng cơ thể khi đứng thẳng và điều phối chuyển động của cẳng chân Để đáp ứng được lực nén từ trọng lượng cơ thể và sức mạnh của chuyển động, khớp gối cần có khả năng chịu đựng đặc biệt.
[28], [33].Động tác của khớp gối có tính linh hoạt gồm:
Gấp và duỗi cẳng chân (theo trục ngang: khớp gối gấp tối đa 135 0 và duỗi là 0 0 )
Xoay vào trong, xoay ra ngoài khi gối đang ở tư thế gấp (quanh trục đứng thẳng)
Khi khớp gối duỗi hết tầm trong tư thế đứng, khớp gối trở nên cứng do lồi cầu trong xương chày trượt ra trước trên lồi cầu trong xương đùi, tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các diện khớp Để bắt đầu động tác gấp khớp gối đang duỗi, bước đầu tiên là "tháo vít" hoặc xoay trong, được thực hiện nhờ sự co cơ khoeo.
Hình 12 Hình ảnh khớp gối bình thường trên phim MRI
Sụn khớp Xương bánh chè
Cơ khoeo bám ở đầu trên vào mặt ngoài lồi cầu xương đùi, chui qua mặt sau bao khớp và bám tận vào mặt sau đầu trên xương chày
Những cơ chính vận động khớp gối là:
- Cơ duỗi: cơ tứ đầu đùi
- Các cơ gấp: các cơ ụ ngồi cẳng chân và sự hỗ trợ của cơ thon, cơ bụng chân và cơ may
- Cơ xoay trong: cơ khoeo
Bệnh thoái hoá khớp
1.2.1 Định nghĩa bệnh thoái hoá khớp
Thoái hoá khớp là bệnh gây suy giảm chức năng của sụn khớp, với biểu hiện chính là hiện tượng bào mòn và rách sụn, dẫn đến giảm hoạt động cơ học của khớp Bệnh này là kết quả của quá trình cơ học và sinh học, làm mất cân bằng giữa sự tổng hợp và huỷ hoại của sụn cũng như xương dưới sụn, bao gồm cột sống và đĩa đệm.
Bệnh mạn tính gây đau đớn và biến dạng khớp, thường xuất hiện ở các khớp ngoại biên và khớp chịu sức nặng như khớp gối và khớp háng, nhưng không do viêm đặc hiệu.
1.2.2 Dịch tễ học bệnh THK [30]
THK (Thoái hóa khớp) là một bệnh khớp phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi, và đang trở thành nguyên nhân chính gây tàn tật mạn tính tại các nước phát triển Tại Mỹ, hàng trăm ngàn người không thể di chuyển độc lập từ giường đến buồng tắm do ảnh hưởng của THK ở khớp gối hoặc khớp háng.
Dưới 55 tuổi, sự phân bố của bệnh THK ở nam và nữ là như nhau Ở những người nhiều tuổi hơn, THK háng phổ biến ở nam giới, trong khi đó THK ở các khớp gối, ngón tay và khớp nền ngón cái phổ biến ở nữ giới Tương tự, biểu hiện xquang của THK gối cũng phổ biến hơn ở nữ giới
Tỷ lệ mắc và phân bố thoái hóa khớp (THK) ở các khớp khác nhau tùy theo chủng tộc Ở Trung Quốc và Hồng Kông, tỷ lệ mắc THK ở khớp háng thấp hơn so với người da trắng, trong khi người gốc Mỹ có tỷ lệ mắc THK cao hơn Tại cùng một quần thể, tỷ lệ THK ở gian đốt ngón tay và khớp háng cao hơn ở người da trắng so với người Nam Phi Nguyên nhân của những khác biệt này có thể liên quan đến gen, phong cách sống hoặc nghề nghiệp, nhưng vẫn chưa được làm rõ Nghiên cứu cho thấy nếu mẹ và chị gái của một phụ nữ mắc THK gian đốt ngón xa thì khả năng biểu hiện THK ở các khớp này có thể cao gấp 2 - 3 lần so với những người không mắc bệnh Các đột biến gen trên cADN mã hóa cho collagen sụn khớp đã được xác định trong các gia đình có loạn sản sụn và THK thứ phát đa khớp.
1.2.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của thoái hoá khớp
Trong bệnh lý thoái hóa khớp (THK), sụn khớp là tổ chức chủ yếu bị tổn thương Việc đánh giá các thay đổi cấu trúc của sụn khớp là yếu tố quan trọng để hiểu rõ cơ chế bệnh sinh.
1.2.3.1 Sự thay đổi sụn khớp trong bệnh THK
Sụn khớp bình thường có màu trắng, ánh xanh, nhẵn bóng, ướt, rất cứng và đàn hồi mạnh Cấu trúc của sụn bao gồm các tế bào sụn, sợi collagen và chất cơ bản Tế bào sụn, với số lượng ít, có vai trò tổng hợp sợi collagen và chất cơ bản Chất cơ bản của sụn chủ yếu bao gồm nước (chiếm 80%), sợi collagen và proteoglycan (PGs) (chiếm 5-10%).
Khi sụn bị thoái hoá, các biểu hiện bao gồm sự đổi màu vàng, mờ đục, khô, mềm, mất độ trơn và giảm độ đàn hồi Ban đầu, tổn thương tại sụn thường xuất hiện dưới dạng các vết nứt nhỏ, màu xám và sần sùi Theo thời gian, các thương tổn này sẽ lan rộng, ăn sâu hơn, với tình trạng nứt tiến triển theo chiều dọc và có thể dẫn đến việc một số vết nứt lan tới phần xương dưới sụn Cuối cùng, có thể xuất hiện các vết loét, làm lộ cả phần xương dưới sụn do tổ chức sụn bị mất đi.
Sụn khớp ở người cao tuổi không chỉ bị rạn nứt mà còn trở nên mỏng hơn so với sụn khớp ở trẻ em và thanh niên Ở độ tuổi trung niên và người già, các nếp sợi collagen xuất hiện ở vùng giữa và đáy sụn Vùng dưới của sụn khớp bị canxi hóa cũng mỏng đi, trong khi vùng chuyển tiếp với sụn bị canxi hóa không đều, dẫn đến mật độ tế bào sụn giảm dần theo tuổi tác.
Theo Shuclte E., có sự thay đổi hóa sinh rõ rệt trong sụn khớp lão hóa, khiến sụn yếu khi chịu tải và dẫn đến thoái hóa khớp (THK) Số lượng tế bào sụn có thể giảm tới 50% ở người trên 80 tuổi so với người trên 40 tuổi, đặc biệt ở các khớp chịu tải như khớp gối và khớp háng Những thay đổi hóa học trong cấu trúc sụn khớp bắt đầu trước tuổi dậy thì và tiếp tục diễn ra trong tuổi trung niên Hơn nữa, tế bào sụn già sản xuất rất ít protein và collagen, dẫn đến giảm độ bền và khả năng tái tạo của sụn Nếu các tế bào sụn già không được khôi phục kịp thời, các vết nứt nhỏ sẽ hình thành ở đáy sụn và dần dần phát triển thành THK.
Hình 13 Cấu trúc mô học của sụn khớp bình (A) và sụn khớp thoái hóa (B) [52]
Các vết nứt bề mặt sụn khớp
Sự thoái hóa khớp bắt đầu với sự phồng lên của sụn và tăng thể tích nước, tiếp theo là tình trạng tế bào sụn thưa thớt, collagen gãy đứt và cấu trúc lộn xộn Mặc dù có sự sửa chữa, quá trình mất sụn vẫn diễn ra, dẫn đến xơ hoá và dày lên của xương dưới sụn Các gai xương hình thành ở vị trí tiếp giáp giữa bao khớp và màng xương, có thể gây chèn ép lên rễ thần kinh Những thay đổi này được thể hiện rõ trên hình ảnh xquang, làm biến đổi chu vi khớp và hạn chế hoạt động Màng hoạt dịch cũng có những thay đổi muộn hơn, bao gồm xơ hóa, xung huyết và thâm nhập lympho bào, dẫn đến tình trạng xơ hóa toàn bộ màng hoạt dịch mà không có biểu hiện viêm Viêm bao hoạt dịch mạn tính và sự dày lên của bao khớp có thể làm giảm thêm khả năng vận động của khớp.
Quá trình diễn biến của THK chia làm 3 giai đoạn chủ yếu [2], [3], [19],
Giai đoạn I của quá trình thoái hóa sụn diễn ra khi các proteoglycan (PGs) bị mất dần, dẫn đến sự suy giảm lưới collagen và tổn thương cấu trúc cũng như chức năng của mô Các tế bào sụn đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hoạt động của các enzym proteolytic, đặc biệt là matrix metalloprotease (MMPs), gây ra sự biến đổi thoái hóa các bó sợi trong sụn Trong trường hợp thoái hóa khớp (THK), các enzym như collagenase, stromelysin I và gelatinase xuất hiện, làm thoái hóa các phân tử lớn của chất căn bản Đồng thời, các enzym thuộc họ odamalysin có thể góp phần phá hủy cấu trúc của các phân tử kết dính Cuối cùng, các mảnh PGs không còn khả năng giữ nước hiệu quả như PGs bình thường, làm giảm khả năng chịu đựng trước các tải trọng cơ học.
Giai đoạn II của tổn thương sụn diễn ra khi bề mặt sụn bị bào mòn và xơ hóa, dẫn đến sự xuất hiện của các mảnh vỡ trong dịch khớp Những mảnh vỡ này được các tế bào đại thực bào trong màng hoạt dịch thực bào, từ đó kích thích quá trình viêm Ngoài ra, các vi tinh thể và neopeptid - những kháng nguyên mới hình thành từ sự thoái hóa của các phân tử lớn trong chất căn bản - cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát viêm.
Giai đoạn III của quá trình viêm trong thoái hóa khớp (THK) đặc trưng bởi sự lan rộng của viêm do các tế bào màng hoạt dịch tiết ra protease và cytokines tiền viêm, dẫn đến thoái hóa sụn và chất căn bản Sự gia tăng phản ứng viêm thể hiện qua mô màng hoạt dịch không đồng nhất, với sự tăng sinh rõ rệt của lớp liên bào phủ và sự tập trung của lympho cùng monocyt, cùng với màng xơ dày do thâm nhiễm sợi xơ hóa Những dấu hiệu này cho thấy các tế bào mặt màng hoạt dịch đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích phản ứng viêm Mặc dù nguyên nhân chính xác của thoái hóa khớp vẫn chưa được xác định, hai giả thuyết bệnh học liên quan đã được đề xuất.
Khi di chuyển và mang vác nặng, tải trọng tác động lên sụn khớp, xương dưới sụn và các cấu trúc xung quanh như bao khớp và sụn cơ, dẫn đến các yếu tố cơ học gây ảnh hưởng Sự tấn công cơ học này có thể gây ra vi gãy xương do sự suy yếu của các đám collagen, từ đó làm hư hỏng các chất proteoglycan trong cơ thể.
Các yếu tố liên quan đến bệnh THK
Thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm xảy ra do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là lão hóa và các yếu tố cơ giới Những yếu tố này thúc đẩy quá trình thoái hóa nhanh chóng thông qua việc tăng lực nén lên bề mặt khớp và đĩa đệm, được gọi là hiện tượng quá tải Các yếu tố cơ giới bao gồm dị dạng bẩm sinh, biến dạng sau chấn thương, tăng trọng lượng cơ thể, tải trọng nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt, và sự thay đổi hormone trong thời kỳ mãn kinh.
1.3.1 Yếu tố tuổi, giới và thoái hoá khớp
Theo quy luật sinh vật, tế bào sụn sẽ dần lão hóa theo thời gian, dẫn đến sự giảm sút khả năng tổng hợp collagen và mucopolysaccharid, gây rối loạn chất lượng sụn, đặc biệt là về tính đàn hồi và khả năng chịu lực Hơn nữa, tế bào sụn ở người trưởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo.
Tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính của thoái hóa khớp (THK), với tỷ lệ mắc bệnh tăng theo độ tuổi Cụ thể, hơn 80% người từ 70 tuổi trở lên có dấu hiệu thoái hóa khớp trên phim X-quang Theo khảo sát của National Health and Nutrition Examination Survey, tỷ lệ mắc THK chỉ tăng khoảng 0,1% ở nhóm tuổi 25 - 34, nhưng lại tăng mạnh từ 10 - 20% mỗi năm ở nhóm tuổi 65 - 74.
Tim D Spector và cộng sự [173] khảo sát bệnh thoái hoá khớp gối ở ngoại ô Luân Đôn thấy tuổi mắc bệnh trung bình ở đây là 58,65,9 năm
Benhzad [64], nghiên cứu tình hình mắc bệnh thoái hoá khớp gối ở Hylapj cho thấy, tuổi mắc bệnh là từ 50 trở lên
Theo nghiên cứu của Hart và cộng sự (1993), tuổi tác không phải là nguyên nhân chính gây thoái hóa khớp, nhưng là một yếu tố nguy cơ quan trọng Bệnh thoái hóa khớp ít gặp ở người dưới 45 tuổi, nhưng tỷ lệ mắc bệnh gia tăng đáng kể khi đến 65 tuổi Nghiên cứu Framingham chỉ ra rằng, tỷ lệ mắc bệnh ở độ tuổi 65-74 đạt 30%, với nữ giới có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới Thống kê cũng cho thấy, dưới 55 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ gần như tương đương, nhưng ở lứa tuổi cao hơn, dấu hiệu thoái hóa khớp gối trên phim X-quang ở nữ giới lại cao hơn so với nam giới.
1.3.2 Yếu tố cơ học và chấn thương với THK
Sụn khớp có khả năng chịu đựng tốt nhưng chấn thương mạnh hoặc vi chấn thương lặp lại có thể dẫn đến thoái hóa khớp (THK) thứ phát Yếu tố cơ giới, với sự gia tăng lực nén bất thường trên diện tích khớp, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thoái hóa nhanh chóng Hiện tượng quá tải này làm thay đổi hình thái và tương quan của khớp và cột sống, góp phần vào THK thứ phát Chấn thương mạnh có thể gây nứt bề mặt sụn, dẫn đến các bệnh lý như THK đùi - chày, thường xuất phát từ những chấn thương làm lõm mâm chày.
Một số tác giả cho rằng thoái hóa khớp (THK) là hệ quả của sự mất cân bằng sinh lý, khi các tác động cơ học mạnh lên bề mặt khớp vượt quá khả năng chịu đựng của hệ thống cơ xương Điều này khiến sụn khớp phải chịu lực quá mức, dẫn đến hư hỏng và xơ hóa đầu xương Khi đi bộ bình thường, sức nặng của cơ thể truyền qua khớp tăng gấp 5-6 lần, và khi quỳ, lực này có thể gia tăng đáng kể.
Sự chịu lực của khớp tăng lên đáng kể khi quỳ hoặc chuyển động, dẫn đến nguy cơ chấn thương gân và dây chằng quanh khớp, từ đó gây ra thoái hóa khớp gối (THK) Nghiên cứu cho thấy, việc phòng ngừa chấn thương khớp gối có thể giảm tỷ lệ mắc THK ở nam giới lên đến 25% và 15% ở nữ giới Những bệnh nhân mắc THK thường bị ảnh hưởng bởi nghề nghiệp, đặc biệt là những người làm nông nghiệp với công việc mang vác nặng, dẫn đến tăng tỷ lệ thoái hóa khớp háng Ngoài ra, vận động viên thể thao như chạy hoặc đá bóng cũng có nguy cơ cao mắc THK gối.
Tăng trọng lượng cơ thể quá mức là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra thoái hóa khớp (THK) Khi cơ thể nặng cân, áp lực lên bề mặt sụn khớp gia tăng, dẫn đến những thay đổi về tư thế, dáng đi và hoạt động của hệ vận động Điều này làm thay đổi đáng kể hoạt động cơ học của khớp, từ đó tăng nguy cơ mắc THK.
Nghiên cứu Framingham chỉ ra rằng tăng cân kéo dài ở người trẻ tuổi làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối từ tuổi 36 trở lên Felson và cộng sự cũng cho thấy giảm cân ở người trung niên có tác dụng tích cực trong việc giảm triệu chứng thoái hóa khớp gối Hart và Spector xác nhận rằng béo phì là yếu tố nguy cơ chính trong sự tiến triển của bệnh thoái hóa khớp gối ở phụ nữ, với việc tăng 5 kg trọng lượng cơ thể làm tăng 35% nguy cơ mắc bệnh Hơn 1/3 phụ nữ trong nghiên cứu gặp phải đau khớp gối hai bên sau 2 năm, và khoảng 1/5 trong số đó còn bị thoái hóa khớp ngón tay trỏ.
Hesléne và cộng sự [95] chỉ ra rằng béo phì ảnh hưởng đến thoái hóa khớp gối bằng cách tập trung mỡ ở bắp đùi, dẫn đến dị tật chân vòng kiềng và tăng căng thẳng cho sụn chêm khi đứng hoặc vận động Điều này tạo ra một yếu tố nguy cơ quan trọng cho bệnh thoái hóa khớp gối, đặc biệt là ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh.
Tỷ lệ mắc thoái hóa khớp (THK) ở nữ giới cao hơn so với nam giới, đặc biệt là ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh, với tỷ lệ THK ở háng và gối cũng gia tăng Nghiên cứu của Felson DT đã chỉ ra những khác biệt này.
Nghiên cứu của [74] cho thấy phụ nữ sử dụng liệu pháp hormon có tỷ lệ mắc thoái hóa khớp gối (THK) thấp hơn đáng kể so với những người không sử dụng Ở độ tuổi dưới 55, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ gần như tương đương Tuy nhiên, sau 55 tuổi, tỷ lệ mắc THK ở phụ nữ cao hơn rõ rệt so với nam giới, cho thấy có thể tồn tại mối liên hệ giữa tình trạng mãn kinh và thoái hóa khớp gối.
Ravaud và cộng sự (2009) chỉ ra rằng tỷ lệ mắc thoái hóa khớp gối (THK) tăng cao ở phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh Mặc dù chưa có kết luận rõ ràng về vai trò của estrogen trong việc chống lại THK, nhưng các nghiên cứu đã phát hiện mối liên hệ giữa các bệnh lý như tăng huyết áp, tăng cholesterol và tăng đường huyết - những vấn đề sức khỏe thường gặp ở phụ nữ mãn kinh - với bệnh THK gối.
1.3.5 Thoái hóa khớp thứ phát
THK thứ phát có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi và thường xảy ra sau các chấn thương làm thay đổi trục khớp, như gãy xương hoặc can lệch Ngoài ra, các bất thường bẩm sinh của khớp gối như chân chữ O (genu valgum), chân chữ X (genu varum), và khớp gối quá duỗi (genu recurvatum) cũng có thể gây ra THK thứ phát Bên cạnh đó, các tổn thương viêm khác tại khớp gối, bao gồm viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm mủ, bệnh gút, lao khớp, và chảy máu trong khớp (như bệnh hemophilie), cũng là những nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến tình trạng này.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân vùng nông thôn
1.4.1 Vai trò của trạm y tế xã (TYT)
Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam luôn chú trọng đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, coi đây là yếu tố then chốt cho sự phát triển của đất nước Ngành Y tế đã xây dựng các chiến lược cụ thể nhằm thực hiện các quan điểm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân vùng nông thôn, nơi có khoảng 80% dân số sinh sống Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, đặc biệt là trạm y tế xã, là cần thiết để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Chính sách đưa bác sỹ về xã, hoàn thiện mạng lưới y tế thôn bản, và tăng cường trang thiết bị cho trạm y tế xã đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng.
Công việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tại trạm y tế xã đóng vai trò quan trọng vì đây là đơn vị y tế gần gũi nhất với cộng đồng, có khả năng phát hiện sớm các bệnh dịch lây lan Trạm y tế xã cũng cung cấp sơ cứu và điều trị ban đầu cho người bệnh trong khu vực, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, nơi người dân khó tiếp cận dịch vụ y tế huyện do khoảng cách và chi phí cao Một trong những nhiệm vụ thiết yếu của trạm y tế xã là thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng.
Theo thống kê của Vụ Kế hoạch - Tài chính Bộ Y tế, mạng lưới y tế cơ sở đã được củng cố và phát triển với 100% xã có cán bộ y tế, hơn 60% trạm y tế xã có bác sĩ, và trên 70% thôn bản có nhân viên y tế Nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã được triển khai, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, góp phần quan trọng trong việc thanh toán các bệnh như bại liệt, ngăn chặn sốt rét và khống chế dịch SARS.
Hoạt động y tế cơ sở hiện nay chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào các chương trình y tế mà chưa coi trọng việc triển khai các nội dung CSSKBĐ như một nhiệm vụ thường xuyên Một số lĩnh vực như truyền thông giáo dục sức khỏe và khám chữa bệnh tại trạm y tế xã chưa được chú trọng đúng mức Chất lượng khám chữa bệnh tại trạm y tế chưa được cải thiện rõ rệt, dẫn đến sức thu hút của trạm y tế trong việc khám chữa bệnh thấp Người dân chưa tin tưởng vào trình độ chuyên môn của cán bộ trạm y tế, khiến nhiều trường hợp bệnh nhẹ vẫn phải lên tuyến trên, gây tốn kém cho người bệnh và làm gia tăng tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên.
1.4.2 Kiến thức về chẩn đoán và xử trí một số bệnh phổ biến tại cộng đồng của các cán bộ y tế tại trạm y tế xã
Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe nhà nước, Trạm Y tế xã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ y tế cho cộng đồng Tuy nhiên, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ y tế tại đây khi ốm đau vẫn rất thấp Điều này phần lớn do năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế xã còn hạn chế, đặc biệt là trong việc khám và phát hiện sớm các bệnh thông thường.
Mặc dù tiêu chảy và viêm phổi là hai bệnh phổ biến ở trẻ em và đã có chương trình quốc gia phòng chống, nhưng một nghiên cứu của Lê Văn Thêm cho thấy vẫn còn nhiều bác sĩ tại trạm y tế xã thiếu kiến thức đầy đủ về chẩn đoán và xử trí hai bệnh này.
Năm 2002, kiến thức của bác sĩ về xử trí hai bệnh phổ biến ở khu vực nông thôn còn thấp hơn y sĩ, cho thấy chất lượng bác sĩ tại trạm y tế xã chưa đạt yêu cầu Bên cạnh đó, bác sĩ tuyến xã thường có tâm lý chủ quan trong điều trị các bệnh thông thường, dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh trong trường hợp trẻ nhỏ bị tiêu chảy và viêm đường hô hấp trên.
1.4.3 Tình hình chẩn đoán, điều trị bệnh THK gối tại y tế tuyến cơ sở
Hiện nay, với sự gia tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam, các bệnh lý xương khớp, đặc biệt là thoái hóa khớp gối (THK gối), ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt ở những người từ 40-50 tuổi, với tỷ lệ nữ mắc bệnh gấp đôi nam giới Mặc dù không đe dọa tính mạng, nhưng bệnh này thường bị xem nhẹ, đặc biệt là trong cộng đồng lao động chân tay Tương lai, tỷ lệ mắc bệnh dự kiến sẽ tiếp tục tăng do tuổi thọ gia tăng Việc phát hiện và điều trị muộn sẽ dẫn đến hiệu quả kém, nghỉ việc, giảm năng suất lao động và có thể gây tàn phế Do đó, vai trò của cán bộ y tế tuyến cơ sở trong việc phát hiện sớm, điều trị và tư vấn cho người dân là vô cùng quan trọng Câu hỏi đặt ra là liệu cán bộ y tế xã có đủ kiến thức và kỹ năng để phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh THK gối cho cộng đồng hay không.
Khi bệnh nhân gặp phải triệu chứng như đau xương khớp kéo dài và khó khăn trong vận động, các cơ sở y tế chuyên khoa cần khuyến cáo họ đến thăm khám và điều trị kịp thời Điều này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe cá nhân mà còn giảm chi phí cho bệnh nhân và xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, đặc biệt cho người cao tuổi, một nhóm đối tượng quan trọng trong gia đình và cộng đồng Đây là một mục tiêu thiết yếu trong công tác y tế hiện nay.
Theo một nghiên cứu tại Malaysia, nhiều bác sĩ tuyến cơ sở thường chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng không cần thiết cho chẩn đoán thoái hóa khớp (THK) Mặc dù hình ảnh X-quang có thể hỗ trợ trong việc xác định chẩn đoán và mức độ nặng của bệnh, nhưng không phải lúc nào nó cũng tương ứng với các triệu chứng lâm sàng; có trường hợp hình ảnh X-quang cho thấy THK nhưng bệnh nhân lại không có triệu chứng Trong khi xét nghiệm máu không có giá trị cao trong việc chẩn đoán THK, hơn 50% bác sĩ vẫn chỉ định các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp, acid uric và ANA, dẫn đến nguy cơ chẩn đoán nhầm với viêm khớp dạng thấp hoặc lupus.
Các tác giả khuyến cáo rằng cần đào tạo bác sĩ tuyến cơ sở về chẩn đoán và quản lý bệnh THK, đồng thời chú trọng đến chuyên khoa xương khớp trong chương trình đào tạo đại học Việc phổ biến rộng rãi hướng dẫn quản lý bệnh THK cho các thầy thuốc tuyến cơ sở cũng là điều cần thiết.
Nghiên cứu của Thomas Rosemann về cải thiện chất lượng chăm sóc ban đầu cho bệnh nhân THK cho thấy các thầy thuốc tại Đức không gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh, chủ yếu dựa vào tiền sử và thăm khám lâm sàng Khi không chắc chắn về nguồn gốc triệu chứng đau, họ thường chỉ định chụp X-quang để xác định chẩn đoán Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với thầy thuốc tuyến cơ sở là phân biệt giữa biểu hiện lâm sàng do tổn thương khớp và tình trạng tâm lý của bệnh nhân, đồng thời nhận thấy ít mối tương quan giữa hình ảnh X-quang và phàn nàn của bệnh nhân.
Nghiên cứu của Sophie Alami và cộng sự chỉ ra rằng người bệnh và thầy thuốc tuyến cơ sở có những nhận thức khác nhau về bệnh thoái hóa khớp gối (THK) Người bệnh thường cảm thấy các thầy thuốc chỉ đóng vai trò như kỹ thuật viên, chú trọng vào triệu chứng tại khớp gối mà bỏ qua các biểu hiện toàn thân, đồng thời dành quá ít thời gian để tư vấn và giải thích cho họ Hơn nữa, người bệnh có cái nhìn tiêu cực về thuốc điều trị và thiếu hiểu biết về bệnh THK, cho rằng đây là một phần tất yếu của tuổi già và không có biện pháp can thiệp nào có thể cải thiện tình trạng, cũng như không nhận được sự hỗ trợ hiệu quả từ các thầy thuốc.
Nghiên cứu về hiệu quả chương trình đào tạo quản lý bệnh lý xương khớp cho bác sĩ tuyến cơ sở tại Mỹ cho thấy họ thường thiếu kiến thức cơ bản về bệnh xương khớp và ít có cơ hội được đào tạo lại Sau khi triển khai chương trình đào tạo kèm cặp từ các bác sĩ chuyên khoa, điểm trung bình kiến thức và kỹ năng của bác sĩ tuyến cơ sở đã tăng từ 58,2% lên 84,1% sau một năm Kết quả này chứng minh rằng các bác sĩ tham gia chương trình đã có đủ kiến thức để chia sẻ hiệu quả với đồng nghiệp.
Nghiên cứu của Thomas và cộng sự đã chỉ ra rằng, việc can thiệp đào tạo cho bác sĩ tuyến cơ sở về điều trị dựa trên bằng chứng và hướng dẫn bệnh nhân tự quản lý bệnh thoái hóa khớp (THK) đã dẫn đến sự thay đổi tích cực trong lựa chọn biện pháp điều trị Cụ thể, tỷ lệ bác sĩ chỉ định sử dụng paracetamol và NSAIDs đã tăng lên, trong khi việc chỉ định opioid để giảm đau cho bệnh nhân đã giảm đáng kể (p < 0,001) sau khi thực hiện can thiệp.
Tình hình nghiên cứu bệnh thoái hóa khớp gối
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng thoái hóa khớp (THK) gối liên quan đến nguyên nhân, cơ chế, bệnh sinh, đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị Bệnh THK có thể xảy ra ở tất cả các khớp động, nhưng tỷ lệ mắc THK gối và khớp háng cao hơn so với các khớp khác.
Altman và cộng sự (1985) đã phân loại bệnh thoái hóa khớp (THK) thành nguyên phát và thứ phát dựa trên việc xác định các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Họ cũng phát triển tiêu chuẩn chẩn đoán cho bệnh thoái hóa khớp gối và khớp háng, dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm Các tiêu chuẩn này đã được Hội thấp khớp học Mỹ thông qua vào năm 1986 và vẫn được áp dụng cho đến nay.
Lequesne (1984) đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh hư khớp háng và gối dựa vào X quang và phân loại mức độ tổn thương của THK
Phương pháp tạo ảnh Cộng hưởng từ (MRI) được phát hiện bởi Bloch và Purcell vào năm 1945 Đến giai đoạn 1976-1980, các nhà nghiên cứu như Mansfield, Damadian và Hankes đã ghi nhận những hình ảnh MRI đầu tiên trên cơ thể người.
Ajay và cộng sự [46] đánh giá nghiên cứu về giá trị của hình ảnh siêu âm của THK gối ở cộng đồng (2011)
Nghiên cứu của Jeoffrey K và cộng sự cho thấy chương trình đào tạo cho thầy thuốc y tế cơ sở về quản lý bệnh nhân THK là rất quan trọng, vì các bác sĩ chuyên khoa xương khớp chỉ có thể điều trị một tỷ lệ nhất định bệnh nhân Chương trình đào tạo đã giúp thay đổi quan niệm của thầy thuốc tuyến cơ sở, đặc biệt trong việc sử dụng thuốc chống viêm giảm đau không steroid và chế độ vận động để quản lý bệnh THK hiệu quả hơn.
Nghiên cứu của Lorrie A Mamlin và cộng sự (1998) về quản lý bệnh thoái hóa khớp gối tại các cơ sở y tế cho thấy thầy thuốc tuyến cơ sở chú trọng đến các biểu hiện như lạo xạo xương, sự ổn định của khớp và trương lực cơ tứ đầu đùi hơn so với bác sĩ nội khoa (p